Thị trường thép nội địa Trung Quốc ghi nhận xu hướng chủ đạo là ổn định hoặc biến động nhẹ trong bối cảnh thanh khoản thị trường suy yếu và tâm lý thận trọng gia tăng. Thị trường phái sinh (kỳ hạn) bước vào trạng thái giằng co mạnh mẽ giữa phe mua và phe bán với xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ. Nền tảng cung – cầu toàn thị trường chịu áp lực lớn do yếu tố thời tiết bất lợi khi mưa lớn kéo dài trên diện rộng và ngập lụt cản trở việc giải phóng nhu cầu thực tế từ công trình hạ nguồn. Áp lực cung ứng tại một số khu vực cục bộ, kết hợp với sản lượng duy trì ở mức cao và tồn kho xã hội tiếp tục gia tăng, là những rào cản chính kìm hãm động lực phục hồi của giá thép thành phẩm. Tổng khối lượng giao dịch thép toàn quốc sụt giảm 12,49% so với phiên trước, đạt mức 19,74 vạn tấn, đảo chiều từ xu hướng tăng sang giảm.
Thị trường thép trong nước
Thép xây dựng
Giá giao ngay và kỳ hạn: Theo số liệu ngày 07/07, giá bình quân toàn quốc của thép thanh vằn (rebar) HRB400 (Φ25mm) đạt mức 3.210 NDT/tấn (giảm nhẹ 2 NDT/tấn) hoặc 3.211 NDT/tấn (giảm 1 NDT/tấn) tùy theo hệ thống giám sát. Tại Bắc Kinh, thép thanh vằn Φ25mm giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.180 NDT/tấn , trong khi tại Thượng Hải, giá mặt hàng này duy trì ổn định ở mức 3.090 NDT/tấn (mức giá xuất kho Thượng Hải đạt ổn định ở ngưỡng 3.060 NDT/tấn) . Đáng chú ý, áp lực thanh khoản suy giảm đã khiến giá thép thanh vằn tại nhiều địa phương xuyên thủng ngưỡng 3.000 NDT/tấn. Đối với mặt hàng thép cuộn (wire rod) HRB400 (Φ8.0mm), giá bình quân đạt 3.453 NDT/tấn, giảm 4 NDT/tấn ; cụ thể tại Bắc Kinh giảm 10 NDT/tấn xuống 3.460 NDT/tấn và tại Thượng Hải giữ ổn định ở mức 3.360 NDT/tấn. Trên thị trường phái sinh, hợp đồng tương lai thép thanh vằn chủ lực (RB10) biến động suy yếu trong biên độ 3.067 - 3.083 NDT/tấn và đóng cửa chốt phiên tại mức 3.068 điểm (giảm 6 điểm) với khối lượng giao dịch giảm xuống còn 470.000 lô.
Phôi thép (Billet): Giá phôi thép giữ mức ổn định vững chắc , cụ thể giá phôi billet giao tại nhà máy Đường Sơn (bao gồm Thiên An) đi ngang ổn định ở mức 2.960 NDT/tấn.
Yếu tố chi phí và Cung - Cầu: Hoạt động giao dịch thép xây dựng chịu áp lực trầm lắng rõ rệt khi tổng khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm đạt 9,04 vạn tấn, giảm mạnh 17,36% so với phiên trước. Do ảnh hưởng từ cao điểm mùa lũ và tình trạng đình trệ thi công ngoại cảnh, sản lượng xuất hàng thép xây dựng bình quân toàn quốc rơi xuống mức thấp nhất trong năm, đạt khoảng 90.000 tấn/ngày. Trước tình hình này, các nhà máy thép phải áp dụng linh hoạt các chiến lược bán hàng như chào giá định kỳ (point pricing) hoặc chiết khấu cơ sở (basis discount) để hỗ trợ hạ nguồn tối ưu hóa thời điểm chốt giá. Về mặt chi phí đầu vào, mặc dù các nhà sản xuất than cốc đề xuất vòng tăng giá thứ mười, các cuộc đàm phán đang gặp trở ngại và chưa được nhà máy thép nào chính thức chấp nhận do biên lợi nhuận bị thu hẹp đáng kể, dẫn đến việc các nhà máy gia tăng thời gian ngừng hoạt động để bảo trì hệ thống lò.
Thép công nghiệp
Thép cuộn cán nóng (HRC): Thị trường ngày 07/07 ghi nhận xu hướng dao động ổn định. Giá bình quân quy cách 5.5*1500*C tại 10 thành phố trọng điểm đạt mức 3.299 NDT/tấn, không đổi so với phiên trước nhưng giảm 18 NDT/tấn so với cùng kỳ tuần trước. Tại kho Thượng Hải, giá giao ngay HRC giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.300 NDT/tấn, một số người bán điều chỉnh báo giá xuống biên độ 3.300 - 3.310 NDT/tấn trong bối cảnh giao dịch chậm lại. Trên thị trường phái sinh, hợp đồng tương lai HRC chủ lực biến động rộng và không thể vượt qua ngưỡng kháng cự quan trọng 3.300 NDT/tấn , chốt phiên mã HC10 đạt 3.289 điểm (giảm 7 điểm) (hoặc giảm 0,21% xuống còn 3.283 NDT/tấn trên sàn Thượng Hải) . Sản lượng HRC duy trì ở mức cao và áp lực tồn kho chưa được giải tỏa trong giai đoạn thấp điểm (off-season). Nhiều nhà máy thép lâm vào tình trạng hòa vốn hoặc báo lỗ lên tới 100 NDT/tấn, dẫn đến việc phải triển khai đại tu các dây chuyền cán nóng. Hoạt động thu mua từ hạ nguồn diễn ra thận trọng, chỉ giới hạn ở mức đáp ứng nhu cầu bắt buộc (刚需), hoàn toàn thiếu vắng các đơn hàng bổ sung dự trữ quy mô lớn.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Theo báo cáo ngày 06/07, thị trường CRC nội địa duy trì trạng thái giằng co, biến động trái chiều và thiếu xu hướng rõ ràng. Giá bình quân toàn quốc đối với quy cách 1.0mm đạt 3.755 NDT/tấn, không đổi so với phiên trước. Biến động tại các thị trường trọng điểm ghi nhận sự phân hóa: giá tại Thiên Tân tăng 10 NDT/tấn lên mức 3.650 NDT/tấn , Thượng Hải giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.700 NDT/tấn , trong khi Quảng Châu đi ngang ở mức 3.720 NDT/tấn. Về yếu tố chi phí, giá thép nền cán nguội (cold-rolled substrate) chốt phiên chiều giảm 10 NDT/tấn xuống mức 3.200 NDT/tấn, khiến bệ đỡ chi phí trở nên mong manh. Thanh khoản thị trường ở trạng thái thấp do khối hạ nguồn tập trung vào các đơn hàng bắt buộc với tâm lý ép giá. Tại Thiên Tân, các thương nhân phải áp dụng chính sách chiết khấu để đẩy hàng dù có nhịp phục hồi kỹ thuật, trong khi tại Thượng Hải áp lực xả hàng tăng cao do khó thanh khoản nguồn hàng giá cao. Sau đợt giảm kéo dài, tâm lý cắt lỗ suy giảm đưa thị trường đi vào thế giằng co, thiếu lực đẩy để phục hồi và thiếu động lực giảm sâu.
Thị trường xuất khẩu
Thép dài và Phôi: Giá xuất khẩu thép dài của Trung Quốc ghi nhận xu hướng sụt giảm do nhu cầu thép toàn cầu thấp, mặc dù giá nội địa ổn định. Chỉ số rebar FOB Trung Quốc giảm 3 USD/tấn xuống còn 476 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết). Giá chào bán chủng loại B500B từ nhà máy miền Bắc duy trì ở mức 484 USD/tấn FOB , song một số nhà cung cấp đã chủ động hạ mức giá mục tiêu xuống còn 500 USD/tấn CFR Singapore (tương đương 475 USD/tấn FOB). Trong khi đó, giá chào mua của khách hàng quốc tế giảm xuống dưới 495 USD/tấn CFR (tương đương 470 USD/tấn FOB). Tại Hồng Kông, giá tham khảo rebar đạt 500 - 505 USD/tấn CFR (trọng lượng thực tế) nhưng giao dịch rất trầm lắng. Các công ty thương mại báo giá chào xuất khẩu rebar mác HRB400 ở mức 473 USD/tấn FOB và cuộn gân HRB400 đạt 519 USD/tấn FOB Bắc Trung Quốc. Giá xuất khẩu thép cuộn trơn (wire rod) giảm 1 USD/tấn xuống mức 500 USD/tấn FOB , với giá chào mặt hàng SAE1008 tại khu vực Bắc Trung Quốc dao động trong khoảng 505 - 514 USD/tấn FOB. Đối với mặt hàng phôi thép (billet), nhà máy miền Bắc chào bán ở mức 460 - 465 USD/tấn FOB cho lô hàng tháng 8 và tháng 9 , trong khi mức giá tham khảo của các nhà giao dịch dao động khoảng 458 - 459 USD/tấn FOB. Tiến độ đặt hàng phôi thép diễn ra chậm do người mua nước ngoài tạm dừng giao dịch.
Thép dẹt (HRC, CRC và HDG): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc ổn định ở mức 483 USD/tấn FOB Trung Quốc trong bối cảnh thị trường chậm lại. Một số nhà máy lớn chào bán thép cuộn cán nóng mác SS400 với giá 495 - 505 USD/tấn FOB, một vài đơn vị sẵn sàng chấp nhận mức giá 490 USD/tấn FOB , cao hơn mức chào 488 USD/tấn FOB đối với mác Q235 từ các nhà máy nhỏ hơn (hoặc mác Q235 chào ở mức 486 - 497 USD/tấn FOB tùy đơn vị thương mại) . Các nhà mua hàng bằng đường biển không hoạt động tích cực do đã tích lũy đủ nguồn cung trước đó. Tại Đông Nam Á, giá HRC khu vực ASEAN giảm 4 USD/tấn xuống còn 530 USD/tấn CFR (mức thấp nhất trong 3 tháng) do lượng tồn kho nội địa cao tại Việt Nam. Người bán giảm giá chào SAE1006 nguồn gốc Ấn Độ xuống còn 525 USD/tấn CFR Việt Nam (thấp hơn giá chào bán 538 - 548 USD/tấn CIF của nhà máy Formosa Hà Tĩnh) , nhưng khách hàng chỉ quan tâm ở mức giá ép sâu 520 USD/tấn CFR. Đối với mặt hàng CRC, giá chào xuất khẩu mác SPCC đạt mức 552,50 USD/tấn FOB hoặc mức tham khảo 550 USD/tấn FOB , và giá chào mua tại thị trường Nam Mỹ ghi nhận ở mức 617,50 USD/tấn CFR. Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) mác SGCC được chào giá ở mức 561 USD/tấn FOB.
Triển vọng thị trường
Thép xây dựng: Dự báo thị trường thép xây dựng trong các phiên kế tiếp sẽ tiếp tục xu hướng dao động trong biên độ hẹp và giằng co quanh ngưỡng 3.070 điểm của hợp đồng tương lai ngắn hạn. Mặc dù động lực sản xuất bị hạn chế do lợi nhuận thấp và các nhà máy tăng cường lịch bảo trì lò đầu tháng 7, áp lực giảm giá vẫn hiện hữu và kìm hãm đà phục hồi do sức mua hạ nguồn yếu dưới tác động của mùa mưa lũ và sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu. Tiến trình giá thép dài còn chịu ảnh hưởng lớn từ kết quả đàm phán đợt tăng giá thứ 10 của than cốc và tốc độ cắt giảm nguồn cung thực tế của các nhà máy.
Thép công nghiệp: Đối với mặt hàng HRC nội địa, xu hướng trong các phiên tới dự kiến tiếp tục trạng thái dao động tích lũy trong biên độ do tâm lý thị trường rơi vào giai đoạn giằng co giữa các phe đối lập và nền tảng cơ bản (fundamentals) thiếu động lực tăng giá rõ rệt. Đối với mặt hàng CRC, giá thành phẩm được dự báo sẽ duy trì trạng thái dao động trong biên độ hẹp (narrow consolidation) vào ngày tiếp theo trong bối cảnh các yếu tố tác động đa chiều đan xen và toàn thị trường thiếu vắng động lực dẫn dắt xu hướng rõ ràng.









-400x200.jpg)









