Thị trường thép nội địa Trung Quốc ngày 8/7 ghi nhận nhịp phục hồi kỹ thuật đồng loạt trên diện rộng, giúp giải tỏa tâm lý bi quan và cải thiện thanh khoản toàn thị trường. Trên thị trường kỳ hạn, sắc xanh trở lại với các hợp đồng tương lai chủ lực tăng nhẹ dưới 1%. Đà tăng trưởng này được củng cố bởi áp lực chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao và động thái cắt giảm sản lượng, bảo trì lò từ phía các nhà máy. Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn thấp điểm (off-season) chịu ảnh hưởng bởi thời tiết bất lợi, nhu cầu hạ nguồn thực tế vẫn rất yếu, khiến dư địa bứt phá của giá thành phẩm bị kìm hãm đáng kể. Tổng khối lượng giao dịch thép tại các thành phố trọng điểm toàn quốc đảo chiều tăng 26,30% so với phiên trước, đạt mức 24,92 vạn tấn.
Thị trường thép trong nước
Thép xây dựng
Giá giao ngay và kỳ hạn: Giá bình quân toàn quốc của thép thanh vằn (rebar) Φ25mm đạt 3.216 NDT/tấn, tăng 6 NDT/tấn so với phiên trước. Tại Bắc Kinh, thép vằn Φ25mm tăng 10 NDT/tấn lên mức 3.190 NDT/tấn, trong khi tại Thượng Hải giữ ổn định ở mức 3.090 NDT/tấn (giá giao tại kho Thượng Hải tăng nhẹ 10 NDT/tấn lên mức 3.070 NDT/tấn). Đối với thép cuộn vằn (wire rod) Φ8.0mm, giá bình quân đạt 3.457 NDT/tấn, tăng 4 NDT/tấn; cụ thể tại Bắc Kinh ổn định ở mức 3.460 NDT/tấn và tại Thượng Hải đi ngang ở ngưỡng 3.360 NDT/tấn. Trên sàn kỳ hạn, hợp đồng tương lai thép vằn chủ lực (RB10) biến động theo xu hướng tăng trong biên độ 3.066 - 3.108 NDT/tấn, đóng cửa chốt phiên tại mức 3.096 điểm, tăng 22 điểm.
Phôi thép (Billet): Giá phôi xuất xưởng Đường Sơn (bao gồm Thiên An) đảo chiều tăng nhẹ 10 NDT/tấn, ghi nhận ở mức 2.970 NDT/tấn.
Yếu tố chi phí và Cung - Cầu: Thanh khoản giao dịch có sự khởi sắc rõ rệt khi tổng khối lượng giao dịch thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm đạt 13,26 vạn tấn, tăng mạnh 46,78% so với phiên trước. Giá nguyên liệu nền phục hồi vào phiên chiều kích thích tâm lý mua hàng "bắt đáy" nhưng chủ yếu vẫn là nhu cầu cứng (rigid demand) tức thời. Về phía cung, sản lượng có xu hướng giảm khi một nhà sản xuất tại Hồ Nam dự kiến dừng dây chuyền rebar cỡ nhỏ trong 15 ngày từ ngày 10/7 (giảm 25.000 tấn sản lượng), kết hợp cùng lịch bảo trì đầu và giữa tháng 7 của một số nhà máy lớn tại Hà Bắc. Áp lực chi phí biên từ phía thượng nguồn (quặng sắt, than cốc) đang thiết lập bệ đỡ cứng cho giá giao ngay.
Thép công nghiệp
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá bình quân giao ngay HRC tăng nhẹ 1 NDT/tấn, đạt ngưỡng 3.300 NDT/tấn. Tại kho Thượng Hải, giá giao ngay HRC tăng 10 NDT/tấn lên mức 3.310 NDT/tấn; một số khu vực ghi nhận giá chào bán phiên chiều điều chỉnh tăng từ 10 - 20 NDT/tấn. Trên thị trường phái sinh, hợp đồng tương lai HRC chủ lực chốt phiên tại mã HC10 đạt 3.300 điểm, tăng 11 điểm. Tổng sản lượng xuất kho HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 55.880 tấn (tăng 5.370 tấn so với phiên trước); cụ thể Hàm Đan đạt 4.400 tấn, Vô Tích đạt 4.200 tấn. Mặc dù sản lượng HRC dự kiến giảm do các nhà máy chuyển sang thua lỗ và chủ động bảo dưỡng, áp lực tồn kho tại kho thương mại và nhà máy vẫn cao, trong khi khối hạ nguồn (ô tô, gia dụng) chỉ mua lượng nhỏ để đáp ứng nhu cầu trước mắt.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Thị trường CRC nội địa giữ trạng thái đi ngang ổn định. Giá bình quân toàn quốc đối với quy cách 1.0mm đạt 3.755 NDT/tấn, không đổi so với phiên trước. Tại 3 thị trường trọng điểm Thượng Hải, Quảng Châu và Thiên Tân, giá chào bán đồng loạt giữ mức ổn định lần lượt là 3.700 NDT/tấn, 3.720 NDT/tấn và 3.650 NDT/tấn. Về chi phí, giá thép nền cán nguội tăng nhẹ 10 NDT/tấn lên mức 3.220 NDT/tấn do tác động từ biến động năng lượng quốc tế. Do đặc thù thời tiết mưa nhiều và nắng nóng, sức cầu từ hạ nguồn suy yếu, các đơn hàng khối lượng lớn chưa cải thiện, thanh khoản thị trường duy trì ở mức trung bình.
Nguyên liệu và phế: Chỉ số giá lưu thông phế đạt 2.062 điểm (giảm 1 điểm); thép phế nặng tại Đường Sơn đạt 2.030 NDT/tấn, Trương Gia Cảng đạt 2.080 NDT/tấn, thị trường đi ngang tích lũy với mô hình "fast-in, fast-out". Giá quặng sắt nội địa duy trì ổn định (Đường Sơn đạt 775 NDT/tấn, Kiến Bình đạt 732 NDT/tấn, Truy Bác đạt 741 NDT/tấn); trên sàn phái sinh quặng sắt HĐ09 chốt phiên tăng 6,5 điểm lên 746 điểm, giá quặng PB tại cảng Kinh Đường tăng lên mức 717 NDT/tấn do lo ngại rủi ro đình công 8 giờ ngày 16/7 tại cảng Port Hedland của BHP và hạn chế chủng loại tại FMG.
Thị trường xuất khẩu
Thép dài và Phôi: Thị trường xuất khẩu thép dài giữ xu hướng ổn định dù sức mua quốc tế ở mức thấp. Chỉ số rebar FOB Trung Quốc ổn định ở mức 476 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết); giá chào mặt hàng B500B miền Bắc giữ mức 484 USD/tấn FOB; chủng loại HRB400 chào ở mức 473 USD/tấn FOB và cuộn gân đạt 519 USD/tấn FOB. Các nhà mua lớn Đông Nam Á đặt mức giá mục tiêu thấp ở ngưỡng 470 USD/tấn FOB hoặc thấp hơn. Giá xuất khẩu thép cuộn trơn ổn định ở mức 500 USD/tấn FOB (miền Bắc chào SAE1008 ở mức 507 USD/tấn FOB, cao hơn mức chào 490 USD/tấn FOB của Indonesia). Đối với phôi thép, giá chào của Trung Quốc dao động trong khoảng 458 - 465 USD/tấn FOB (lô hàng tháng 8, 9), ghi nhận thông tin chưa xác nhận về lô hàng bán sang Thổ Nhĩ Kỳ giá 458 USD/tấn FOB giao tháng 10. Giá phôi Indonesia chào ở mức 470 USD/tấn FOB.
Thép dẹt (HRC, CRC, HDG): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc phục hồi nhẹ, tăng 2 USD/tấn lên mức 485 USD/tấn FOB Trung Quốc. Các nhà máy và thương nhân nâng giá chào lên biên độ 488 - 497 USD/tấn FOB đối với mác Q235 và SS400 (giá chào mác SS400 của nhà máy lớn từ 495 - 505 USD/tấn FOB, mức tham khảo thương mại miền Đông 491 USD/tấn FOB, miền Bắc 480 USD/tấn FOB và Singapore đạt 482,50 USD/tấn FOB). Tuy nhiên, khách hàng ngoại thương ngần ngại đặt hàng do tồn kho cao. Tại Đông Nam Á, giá HRC ASEAN ổn định ở mức 530 USD/tấn CFR; giá chào cuộn SAE1006 từ Ấn Độ dao động 525 - 530 USD/tấn CFR Việt Nam và nguồn Indonesia đạt 525 USD/tấn CFR, trong khi khách mua Việt Nam im lặng do chỉ chấp nhận mức giá ép sâu 520 USD/tấn CFR. Đối với thép mạ kẽm (HDG) mác SGCC, giá chào xuất khẩu duy trì ổn định ở mức 561 USD/tấn FOB.
Triển vọng thị trường
Thép xây dựng: Dự kiến trong ngày 9/7, thị trường thép xây dựng sẽ duy trì trạng thái dao động trong biên độ hẹp. Mặc dù tâm lý ngắn hạn được cải thiện nhờ kỳ vọng giảm cung do lịch bảo trì của các nhà máy và áp lực chi phí nguyên liệu đè nặng, nhưng đà tăng không mạnh và giá rebar nội địa có rủi ro giảm thêm do điều kiện thời tiết xấu tiếp tục làm trì trệ thi công hạ nguồn.
Thép công nghiệp: Đối với mặt hàng HRC nội địa, xu hướng phiên kế tiếp dự kiến duy trì trạng thái rung lắc và điều chỉnh. Sự hỗ trợ từ chi phí đầu vào tăng sẽ hạn chế rủi ro giảm sâu, nhưng sức cầu thấp theo mùa khó phục hồi nhanh khiến thị trường thiếu động lực tăng kéo dài. Đối với mặt hàng CRC, thị trường được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng tích lũy hẹp trong ngắn hạn do chịu tác động song song giữa lực đỡ chi phí và sức kìm hãm từ nhu cầu yếu. Đối với phôi ống thép, thị trường sẽ vận hành trong biên độ hẹp, yếu và giằng co do sự cân bằng mong manh giữa áp lực chi phí biên và sức mua yếu từ hạ nguồn.









-400x200.jpg)

