THỊ TRƯỜNG THÉP DÀI
Khu vực Châu Âu (EU):
Giá thép dài tại Ý tiếp tục sụt giảm trong tuần đầu tiên của tháng 7 do áp lực liên tục từ người mua. Giá khả thi cho rebar của Ý đã giảm xuống còn 430-440 EUR/tấn EXW (tương đương 690-700 EUR/tấn EXW đối với mác B450C 12 mm). Việc điều chỉnh giảm này đã giúp cải thiện đôi chút hoạt động kinh doanh, khuyến khích một số người mua quay lại thị trường, hỗ trợ các nhà sản xuất đảm bảo thêm đơn đặt hàng và cải thiện tỷ lệ sử dụng công suất. Lượng hàng tồn kho của khách hàng tại Ý đang có xu hướng giảm.
Đối với thị trường xuất khẩu, giá chào bán rebar của Ý sang khu vực Địa Trung Hải giảm 10-20 EUR/tấn, xuống còn 590 EUR/tấn FOB. Trong khi đó, giá xuất khẩu sang Trung Âu giữ mức ổn định ở 600-620 EUR/tấn EXW.
Thổ Nhĩ Kỳ:
Thị trường thép cây tiếp tục chịu áp lực giảm giá cả trong nước và quốc tế do nhu cầu yếu kéo dài làm ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Ở phân khúc nội địa, Kardemir giảm giá chào bán thép cây 175 TRY/tấn (7 USD/tấn) so với đợt mở bán ngày 25/6, xuống còn 31.800 TRY/tấn (566 USD/tấn) EXW (chưa bao gồm VAT). Dù thị trường chung yếu, Kardemir vẫn thu hút được đơn đặt hàng khoảng 42.000 tấn và kết thúc đợt bán nhanh chóng nhờ giá cả cạnh tranh và điều khoản thanh toán tốt. Giá thép thanh nội địa từ các nhà sản xuất khác cũng giảm thêm 5 USD/tấn so với tuần trước, dao động ở mức 565-585 USD/tấn EXW tùy khu vực.
Giá rebar xuất khẩu cho lô hàng tháng 8 giảm 5-10 USD/tấn xuống còn 570-580 USD/tấn FOB do nhu cầu nước ngoài yếu và sự không chắc chắn từ việc EU áp dụng hạn ngạch bảo vệ sửa đổi từ ngày 1/7. Dự kiến hạn ngạch thép cây Thổ Nhĩ Kỳ vào EU sẽ cạn kiệt rất nhanh khi có tới 106.580 tấn đang chờ phân bổ so với hạn ngạch cho phép chỉ là 59.919 tấn, đẩy mức thuế vượt hạn ngạch có thể lên tới 22%. Mức định giá hàng ngày đối với rebar Thổ Nhĩ Kỳ ổn định ở mốc 572,50 USD/tấn FOB. Các nhà tham gia thị trường nhận định khả năng giảm giá sâu hơn nữa là hạn chế trừ khi giá phế liệu giảm mạnh. Nhu cầu trong nước khó có thể phục hồi trước tháng 8.
Đối với thị trường nguyên liệu, phân khúc phế nhập khẩu đường biển đường biển tiếp tục trì trệ và chịu áp lực giảm, đánh giá hàng ngày cho HMS 1&2 (80:20) từ Bờ Đông Hoa Kỳ giữ nguyên ở mức 373 USD/tấn CFR. Giá phôi billet 3SP Thổ Nhĩ Kỳ giảm 2,50 USD/tấn xuống còn 505 USD/tấn do giá chào từ Trung Quốc giảm, trong khi giá phôi nội địa ổn định ở mức 525 USD/tấn xuất xưởng với giao dịch thưa thớt.
Các thị trường khác (UAE, Bahrain, Đài Loan, Nga):
UAE: Thị trường rebar thể hiện khả năng phục hồi tốt khi các nhà sản xuất đạt mục tiêu doanh số tháng 7 với tổng khối lượng đặt hàng trong nước và nhập khẩu vượt 520.000 tấn (trong đó nhà sản xuất tiêu chuẩn đạt 180.000 tấn, các nhà máy UAE khác đạt 135.000 tấn, nguồn Oman đạt 145.000 tấn và Qatar Steel đạt 60.000 tấn). Giá chính thức ổn định ở 2.900 AED/tấn (790 USD/tấn) EXW/CPT (chưa gồm 5% VAT). Tuy nhiên, các giao dịch thực tế thấp hơn giá công bố do nhà máy chiết khấu để đảm bảo đơn hàng. Các nhà phân phối phải chịu áp lực giảm giá, biên lợi nhuận thấp và lượng tiêu thụ hạ nguồn chậm do mùa hè, nhu cầu dự kiến khó cải thiện trước tháng 9.
Bahrain: Do yếu tố mùa vụ và hoạt động xây dựng chậm lại, giá thép cây trong nước giảm 5 BHD/tấn (13 USD/tấn) xuống còn 255-260 BHD/tấn (676-689 USD/tấn) EXW. Giá bán lẻ ước tính khoảng 270-275 BHD/tấn (716-729 USD/tấn) EXW. Nhà máy tập trung duy trì khối lượng bán hàng dù chi phí sản xuất (phôi billet) vẫn cao.
Đài Loan: Thị trường phế nhập khẩu tiếp tục suy yếu, giá chào mua cho phế container HMS 1&2 (80:20) từ Mỹ giảm xuống 330 USD/tấn CFR. Phân khúc thép dài ảm đạm do mùa mưa kéo dài khiến nhà sản xuất Feng Hsin Steel giảm cả giá mua phế nội địa và giá chào bán thép cây 13mm đi 6 USD/tấn (200 Đài tệ/tấn), lần lượt xuống mức 293 USD/tấn (9.400 Đài tệ/tấn) và 558 USD/tấn (17.900 Đài tệ/tấn) EXW.
Nga: Đầu tháng 7, các nhà sản xuất tiếp tục tăng giá thu mua phế nội địa do cạnh tranh nguồn cung và giá thành phẩm tăng cao. Giá phế tại Khu Liên bang Trung tâm tăng lên 20.000-22.300 RUB/tấn (257-286 USD/tấn) FCA; Khu Liên bang phía Nam tăng lên 18.000-19.000 RUB/tấn (231-244 USD/tấn) CPT nhà máy. Dự kiến giá có thể tăng thêm 2.000-3.000 RUB/tấn trong tháng 7 nhưng xu hướng dài hạn chưa chắc chắn.
THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT
Khu vực Châu Âu (EU):
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa tăng mạnh sau những điều chỉnh và áp dụng cơ chế hạn ngạch nghiêm ngặt hơn dự kiến từ ngày 1/7. Chỉ số HRC tại khu vực Tây Bắc EU tăng 9,75 Euro/tấn lên mức 709,75 Euro/tấn giao tại nhà máy. Chỉ số HRC tại Ý tăng 9,25 Euro/tấn lên mức 696,50 Euro/tấn giao tại nhà máy. Giá CIF nhập khẩu vào Ý tăng 3 Euro/tấn lên mức 550 Euro/tấn.
Các nhà sản xuất nội địa đang tìm cách tận dụng cú sốc nguồn cung này để nâng giá. Giá chào thầu thực tế tại Ý từ các nhà cung cấp địa phương dao động từ 720-730 Euro/tấn (giá cơ bản giao hàng) và không có sự linh hoạt. Tại Đức và khu vực phía Bắc, giá chào chào mới cho sản lượng tháng 9 đạt khoảng 720-750 Euro/tấn (giá cơ bản giao hàng), thậm chí có nhà giao dịch nhận được chào giá lên tới 740 Euro/tấn (giá cơ bản xuất xưởng). Tuy nhiên, mức chấp nhận giá từ người mua vẫn chậm và ngần ngại trả trên mức 700 Euro/tấn do đang chuẩn bị bước vào kỳ nghỉ hè. Hàng tồn kho của các trung tâm dịch vụ vẫn ở mức cao do đã bổ sung từ trước ở mức giá 670-680 Euro/tấn.
Về phía nhập khẩu, giá chào CFR từ Ấn Độ sang EU ghi nhận khoảng 650-660 USD/tấn; một giao dịch từ Thổ Nhĩ Kỳ được chốt ở mức 565 Euro/tấn CIF Ý. Nguồn cung từ Hàn Quốc đang có nhu cầu cao nhờ rủi ro hạn ngạch thấp và phân bổ rõ ràng. Động thái siết chặt hạn ngạch mới của EU ước tính sẽ cắt giảm nhập khẩu HRC khoảng 1 triệu tấn/quý (giảm 45% so với mức trung bình trước đó). Hầu hết thị trường kỳ vọng giá HRC EU sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tới, đặc biệt là sau mùa hè.
Khu vực Mỹ:
Giá thép dẹt giao ngay tăng do nguồn cung tiếp tục khan hiếm, mặc dù hoạt động giao dịch bị hạn chế bởi kỳ nghỉ lễ. Giá HRC xuất xưởng tại Mỹ tăng 8,25 USD/tấn ngắn (st) lên mức 1.150,50 USD/st. Thời gian giao hàng trung bình của các nhà máy giảm nhẹ xuống 7,7 tuần. Phần lớn hoạt động giao dịch tập trung quanh mức 1.140-1.160 USD/st, một số chỉ báo cao tới 1.220 USD/st. Giá HRC nhập khẩu ổn định ở mức 1.060 USD/st DDP Houston.
Đối với các sản phẩm thép dẹt khác:
Thép tấm: Người mua đối mặt với giá tăng thêm 10 USD/st lên mức 1.320 USD/st (giao tận nơi) và 1.290 USD/st (xuất xưởng). Thời gian giao hàng kéo dài tới 12 tuần do các nhà máy tồn đọng đơn hàng. Nhu cầu hạ nguồn ổn định từ đóng tàu và hạ tầng công cộng (xây dựng cầu).
Thép cán nguội (CRC) & Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG): Nguồn cung hạn chế đẩy giá CRC xuất xưởng tăng mạnh lên mức 1.363,25 USD/st (tăng 17,75 USD/st), nới rộng chênh lệch và mở rộng biên lợi nhuận so với HRC. Giá HDG nền cán nguội tăng lên mức 1.362,50 USD/st; giá HDG nền cán nóng đạt 1.349,25 USD/st. Thời gian giao hàng cho CRC là 8,9 tuần và HDG là 9 tuần.
Việt Nam:
Giá thép cuộn tại thị trường Việt Nam giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 3 tháng do nhu cầu mua yếu và tồn kho nội địa cao. Chỉ số giá HRC khu vực ASEAN giảm 4 USD/tấn xuống còn 530 USD/tấn CFR.
Giá chào bán thép cuộn SAE1006 từ Ấn Độ giảm xuống còn 525 USD/tấn CFR Việt Nam nhằm kích cầu, thấp hơn đáng kể so với mức giá chào 538-548 USD/tấn CIF của Formosa Hà Tĩnh. Tuy nhiên, tâm lý người mua vẫn thận trọng, chỉ quan tâm ở mức giá thấp 520 USD/tấn CFR Việt Nam. Trước đó, Formosa đã giảm giá chào hàng tháng đối với HRC SAE1006 và SS400 non-skinpass giao tháng 8-9 từ 1.050-1.060 VND/kg (tương đương giảm 40 USD/tấn) về mức từ 538 USD/tấn CIF (cho lô hàng trên 20.000 tấn) đến 548 USD/tấn CIF (cho lô hàng dưới 2.000 tấn) để cạnh tranh với xu hướng giảm chung và chính sách hạ giá 34 USD/tấn trước đó của Hòa Phát.
Ai Cập:
Nhà sản xuất lớn Ezz Steel thông báo giữ nguyên giá chào bán HRC nội địa cho tháng 7 ở mức 39.000 EGP/tấn (697 USD/tấn) EXW nhằm duy trì sự ổn định thị trường. Dù vậy, giao dịch nội địa hạn chế do áp lực cạnh tranh từ các lô hàng nhập khẩu giá rẻ (thấp hơn giá trong nước 50-100 USD/tấn) dự kiến từ Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ đổ bộ trong mùa hè. Giá chào xuất khẩu HRC của Ai Cập đạt khoảng 600-615 USD/tấn FOB. Theo cơ chế bảo hộ mới của EU, Ai Cập được cấp hạn ngạch 404.929 tấn/năm (khoảng 101.000 tấn/quý) nhưng phải chịu mức thuế chống bán phá giá 11,7%.
Lưu ý: Dự báo được cập nhật vào Thứ 2, Thứ 4, Thứ 6 hàng tuần.







