THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ
Thép dẹt (HRC, Thép tấm)
Thép cuộn cán nóng (HRC) EU: Thị trường rơi vào trạng thái bế tắc khi phần lớn người mua chưa chấp nhận mức giá cơ sở xuất xưởng mới trên 700 Euro/tấn từ các nhà máy. Tâm lý thị trường có cải thiện nhờ thông tin nguồn cung giá thấp từ Malaysia và Indonesia bị hạn chế nghiêm trọng do các biện pháp hạn ngạch, tuy nhiên hoạt động mua bán vẫn duy trì ở mức thấp. Chỉ số HRC Ý tăng 2,50 Euro/tấn lên mức 699 Euro/tấn xuất xưởng, trong khi chỉ số khu vực Tây Bắc EU giảm 1,25 Euro/tấn, đạt 708,50 Euro/tấn. Một số nhà máy Ý đã tăng giá từ 30-50 Euro/tấn, áp mức giá cơ sở tối thiểu 720 Euro/tấn xuất xưởng và tiến hành đóng sổ đặt hàng tháng 8 để bảo trì và bổ sung dây chuyền hạ nguồn mới. Tại phân khúc hạ nguồn, một nhà máy sản xuất ống thép miền Nam nước Ý đã nâng giá bán cho người dùng cuối thêm 40 Euro/tấn. Về mặt năng lực sản xuất, lò cao thứ hai tại nhà máy Fos của ArcelorMittal được cho là đã tái vận hành từ tuần trước.
Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) EU: Do áp dụng hạn ngạch nhập khẩu nghiêm ngặt đối với vật liệu HDG và nguy cơ thiếu hụt vật liệu cán lại loại thường (vốn phụ thuộc vào HRC nhập khẩu, đặc biệt tại Nam Âu), các nhà sản xuất EU đã đồng loạt tăng giá. Giá HDG giao tại nhà máy ở Ý tăng 20 Euro/tấn lên 810 Euro/tấn; khu vực Tây Bắc EU tăng 10 Euro/tấn lên 800 Euro/tấn. Ngược lại, giá theo chỉ số CIF Tây Ban Nha giảm 10 Euro/tấn xuống còn 725 Euro/tấn đối với quy cách z140 0,57mm. Các nhà máy đang chào bán sản lượng mới cho tháng 9 và tháng 10 ở mức giá cơ sở 830-850 Euro/tấn giao tận nơi tùy quy mô khách hàng, nhưng mức giá này vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. Đối với nguồn nhập khẩu, một số đơn hàng từ Việt Nam ghi nhận ở mức 820 USD/tấn CFR Antwerp cho quy cách Z140 0,58mm.
Thép dài & Nguyên liệu bán thành phẩm
Thép dài EU: Thị trường thép dài toàn cầu và khu vực EU suy yếu, nguồn cung vượt quá cầu do chi phí năng lượng mùa hè tăng cao gây áp lực lên giá bán. Tại Đức, giá rebar giảm 7,50 Euro/tấn xuống còn 687,50 Euro/tấn giao tận nơi, dao động giao dịch thực tế từ 680-700 Euro/tấn. Áp lực từ giá thép cắt và uốn yếu (giảm 30-40 Euro/tấn xuống mức thấp nhất 720 Euro/tấn do cạnh tranh thị phần) tiếp tục đè nặng lên các nhà máy. Thị trường Ý duy trì trạng thái trì trệ, giá nội địa ổn định ở mức 695-700 Euro/tấn xuất xưởng, giá cuộn trơn kéo dây đạt 705 Euro/tấn giao tận nơi. Tại Romania, do hạn ngạch nhập khẩu sắp cạn kiệt và đối mặt với mức thuế tính toán từ 17-22%, các nhà giao dịch đã tăng giá chào rebar và cuộn trơn Thổ Nhĩ Kỳ thêm 30-45 Euro/tấn lên mức 660-685 Euro/tấn giao tận nơi, tuy nhiên người mua vẫn giữ tâm lý quan sát do nguồn cung từ Ý vẫn duy trì giá thấp ở mức 630-640 Euro/tấn giao tận nơi.
Xuất khẩu thép dài Thổ Nhĩ Kỳ: Khối lượng xuất khẩu rebar trong tháng 5 giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 31% so với tháng trước, đạt 299.310 tấn do hạn ngạch của EU sắp hết, trong đó các lô hàng sang EU giảm mạnh 70% so với tháng trước xuống còn 15.923 tấn (chủ yếu sang Romania). Ngược lại, xuất khẩu cuộn trơn của Thổ Nhĩ Kỳ tăng 30% so với cùng kỳ và 38% so với tháng trước, đạt 101.847 tấn nhờ lực cầu từ Bosnia và Herzegovina, Úc và Romania.
Xuất khẩu rebar Ukraine: Lượng xuất khẩu rebar tháng 6 giảm 11% xuống còn 28.000 tấn do khó khăn logistics từ việc phá hủy cơ sở hạ tầng đường sắt, đặc biệt ảnh hưởng đến nhà máy ArcelorMittal Kryvyi Rih (xuất khẩu đạt 10.700 tấn, giảm 21%, chủ yếu sang Romania và Ba Lan). Nhà máy Kamet Steel xuất khẩu đạt 15.700 tấn (giảm 5%, chủ yếu sang Ba Lan). Lũy kế nửa đầu năm, xuất khẩu rebar của Ukraine đạt 108.800 tấn, giảm 48% so với cùng kỳ. Dự kiến từ tháng 7, khối lượng xuất khẩu sang EU sẽ giảm mạnh do hạn ngạch mới bị thắt chặt ở mức 67.700 tấn/năm.
Phôi thép & Phế
Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận lượng nhập khẩu phôi thép lớn trong tháng 5 với 488.391 tấn (tăng 23% so với tháng 4) sau khi giá phế liệu nhập khẩu tăng mạnh. Các nguồn cung chính gồm Nga (132.490 tấn), Malaysia (129.830 tấn) và Trung Quốc (104.567 tấn). Ở chiều ngược lại, xuất khẩu phôi thép của Thổ Nhĩ Kỳ tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2022 nhờ giá năng lượng tại Châu Âu tăng cao và việc đóng cửa eo biển Hormuz làm gián đoạn nguồn cung từ Iran; các điểm đến chính bao gồm Ma-rốc (67.050 tấn), Ý (26.000 tấn) và Anh (21.000 tấn).
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC BẮC MỸ (MỸ)
Theo báo cáo từ Irepas, tỷ lệ sử dụng công suất sản xuất tại Mỹ đang chững lại ở mức 81%. Nhu cầu tiêu thụ từ khối xây dựng phụ thuộc lớn vào phân khúc các trung tâm dữ liệu, tuy nhiên một số dự án hiện tại vẫn chưa có giấy phép xây dựng hoặc đang rơi vào tình trạng thiếu vốn.
Thép cán nguội (CRC) & Thép mạ kẽm (HDG): Nguồn cung giao ngay thắt chặt kéo giá tiếp tục tăng. Giá CRC xuất xưởng tăng mạnh lên mức 1.363,25 USD/st (tăng 17,75 USD/st), thời gian giao hàng đạt 8,9 tuần. Chênh lệch giá giữa CRC/HDG và HRC duy trì ở mức rộng khoảng 200–210 USD/tấn giúp bảo toàn biên lợi nhuận cho các nhà sản xuất. Giá HDG nền cán nguội tăng lên mức 1.362,50 USD/st (thời gian giao hàng tăng lên 9 tuần); giá HDG nền cán nóng đạt mức 1.349,25 USD/st (thời gian giao hàng 8,7 tuần).
Thép tấm: Người mua đối mặt với thời gian giao hàng kéo dài lên 12 tuần và giá tăng thêm 10 USD/st do các đợt bảo dưỡng kéo dài và nguồn cung hạn chế. Định giá thép tấm tăng lên mức 1.320 USD/st giao tận nơi và 1.290 USD/st tại nhà máy. Nhu cầu hạ nguồn được hỗ trợ vững chắc từ các dự án đóng tàu và xây dựng cầu thuộc hạ tầng công cộng.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Trung Quốc
Thép dài nội địa & Xuất khẩu: Giá thép dài nội địa phục hồi vào ngày 8/7 nhờ kỳ vọng giảm cung từ lịch bảo trì của các nhà máy (một nhà sản xuất tại Hồ Nam dừng dây chuyền rebar nhỏ trong 15 ngày từ 10/7 gây hao hụt 25.000 tấn; các nhà máy lớn tại Hà Bắc bảo trì từ đầu đến giữa tháng 7) và chi phí than cốc khan hiếm hỗ trợ. Giá rebar giao tại kho Thượng Hải tăng 10 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.070 nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tương lai rebar trên sàn SHFE tháng 10 tăng 22 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.096 nhân dân tệ/tấn. Mặt bằng giá rebar tại các thành phố lớn tăng 10-20 nhân dân tệ/tấn, đạt mức 3.070-3.120 nhân dân tệ/tấn. Dù vậy, nền tảng cơ bản vẫn yếu do thời tiết xấu cản trở xây dựng. Giá xuất khẩu rebar giữ ổn định ở mức 476 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết), nhà máy miền Bắc chào mác B500B ở mức 484 USD/tấn FOB. Giá xuất khẩu thép cuộn trơn ổn định ở mức 500 USD/tấn FOB, nhà máy miền Bắc chào giá mác SAE1008 ở mức 507 USD/tấn FOB. Giá phôi billet xuất xưởng Đường Sơn tăng 10 nhân dân tệ/tấn lên 2.970 nhân dân tệ/tấn; giá chào xuất khẩu phôi Trung Quốc đạt 458-465 USD/tấn FOB cho kỳ hạn tháng 8 và tháng 9.
Thép dẹt nội địa & Xuất khẩu: Giá HRC nội địa tăng nhẹ nhờ chi phí đầu vào và động thái cắt giảm sản lượng bảo trì của nhà máy, giá giao tại kho Thượng Hải tăng 10 nhân dân tệ/tấn lên 3.310 nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tương lai HRC tháng 10 tăng 11 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.300 nhân dân tệ/tấn. Tuy nhiên, sức mua từ hạ nguồn ô tô, gia dụng rất chậm, tồn kho tại nhà máy và thương nhân tiếp tục tăng. Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên mức 485 USD/tấn FOB. Các nhà máy và thương nhân nâng giá chào lên mức 488-497 USD/tấn FOB cho mác Q235 và SS400.
Việt Nam
Thị trường thép cuộn cán nóng (HRC) ghi nhận xu hướng sụt giảm giá chào xuất khẩu sang các thị trường quốc tế như Brazil (giảm 30 USD/tấn xuống còn 590-630 USD/tấn CFR Brazil) do nhu cầu nội địa yếu và áp lực tồn kho tăng cao. Tại thị trường nội địa, các nhà cung cấp Việt Nam đã phải điều chỉnh giá HRC xuống mức thấp nhất trong vòng ba tháng để kích thích giao dịch và cạnh tranh với nguồn hàng giá thấp từ Ấn Độ. Đối với thị trường nhập khẩu, giá HRC ASEAN ổn định ở mức 530 USD/tấn CFR; các nhà mua hàng Việt Nam giữ thái độ im lặng và đặt mức giá kỳ vọng ép sâu ở ngưỡng 520 USD/tấn CFR Việt Nam trong bối cảnh mùa thấp điểm và tồn kho khu vực ở mức cao.
Các thị trường khác (Ấn Độ, Iran, Đài Loan, Bangladesh)
Ấn Độ & Indonesia: Nguồn cung HRC mác SAE1006 từ Ấn Độ chào vào Việt Nam ở mức 525-530 USD/tấn CFR, trong khi nguồn từ Indonesia chào ở mức 525 USD/tấn CFR. Đối với mặt hàng thép dài, Indonesia chào xuất khẩu cuộn trơn ở mức 490 USD/tấn FOB và chào phôi thép ở mức 470 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 9.
Brazil: Thị trường nội địa trầm lắng do lãi suất cao và tâm lý bất ổn trước thềm bầu cử. Các nhà máy Brazil cố gắng tăng giá vào tháng 6 nhưng bị các trung tâm dịch vụ phản đối, khiến giá HRC xuất xưởng đi ngang ở mức 3.650-3.950 Real/tấn (707,40-765,50 USD/tấn). Giá nhập khẩu CRC ổn định ở mức 730-750 USD/tấn và HDG ổn định ở ngưỡng 760-820 USD/tấn CFR.
Nga: Sản lượng cung ứng quặng sắt tháng 6 ổn định ở mức 3,5 triệu tấn. Doanh số bán trong nước giảm 7% xuống 1,57 triệu tấn do người tiêu dùng giảm mua sau khi đã bổ sung kho. Cung ứng nguyên liệu thô chưa chế biến nội địa giảm 14% xuống mức thấp nhất từ đầu năm với 699.000 tấn. Ngược lại, xuất khẩu quặng sắt tăng 4% lên 1,94 triệu tấn, ghi nhận tháng tăng thứ 5 liên tiếp nhờ việc chuyển hướng quặng chưa tiêu thụ nội địa sang xuất khẩu, dù tiến độ bị kìm hãm bởi các rào cản hậu cần đường sắt sang Trung Quốc và cước phí đường biển. Khối lượng pellet xuất khẩu giảm tháng thứ ba liên tiếp, đạt 385.000 tấn (giảm 3%) do chi phí sản xuất cao kìm hãm biên lợi nhuận.
BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH | |||
Mặt hàng / Chủng loại | Thị trường / Nguồn gốc | Mức giá niêm yết | Hình thức giao hàng |
HRC | Ý | 699 Euro/tấn | Xuất xưởng (Ex-works) |
HRC | Tây Bắc EU | 708,50 Euro/tấn | Xuất xưởng (Ex-works) |
HRC (Q235 / SS400) | Trung Quốc | 488 - 497 USD/tấn | FOB Trung Quốc |
HRC (SAE1006) | Ấn Độ / Indonesia | 525 - 530 USD/tấn | CFR Việt Nam |
HRC | Nhập khẩu vào Brazil | 590 - 630 USD/tấn | CFR Brazil |
HRC | Nội địa Brazil | 3.650 - 3.950 Real/tấn | Xuất xưởng |
HDG | Ý | 810 Euro/tấn | Giao tại nhà máy |
HDG | Tây Bắc EU | 800 Euro/tấn | Giao tại nhà máy |
HDG (Z140 0,57mm) | Tây Ban Nha | 725 Euro/tấn | Chỉ số CIF |
HDG (Z140 0,58mm) | Việt Nam nhập vào EU | 820 USD/tấn | CFR Antwerp |
Rebar | Kho Thượng Hải (Trung Quốc) | 3.070 Nhân dân tệ/tấn | Giao tại kho |
Rebar (B500B / HRB400) | Trung Quốc xuất khẩu | 473 - 484 USD/tấn | FOB Bắc Trung Quốc |
Rebar | Đức | 680 - 700 Euro/tấn | Giao tận nơi (Delivered) |
Rebar | Nội địa Ý | 695 Euro/tấn | Xuất xưởng (Ex-works) |
Rebar | Thổ Nhĩ Kỳ vào Romania | 660 - 685 Euro/tấn | Giao tận nơi |
Cuộn trơn (SAE1008) | Trung Quốc | 507 USD/tấn | FOB Bắc Trung Quốc |
Cuộn trơn (SAE1008) | Indonesia | 490 USD/tấn | FOB Indonesia |
Phôi Thép (Billet) | Xuất xưởng Đường Sơn | 2.970 Nhân dân tệ/tấn | Xuất xưởng |
Phôi Thép (Billet) | Trung Quốc xuất khẩu | 458 - 465 USD/tấn | FOB Trung Quốc |
Phôi Thép (Billet) | Indonesia xuất khẩu | 470 USD/tấn | FOB Indonesia |
TÓM LẠI
Thị trường sắt thép toàn cầu đang chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các biện pháp phòng vệ thương mại (thuế quan, hạn ngạch nghiêm ngặt từ EU và các cuộc điều tra chống bán phá giá tại Brazil), dẫn đến tình trạng thị trường khu vực bị phân mảnh và thay đổi dòng chảy thương mại rõ rệt (Trung Quốc rút khỏi Brazil, Việt Nam và Ai Cập gia tăng hiện diện).
Tại cả châu Âu và châu Á, chi phí nguyên liệu thô (than cốc thắt chặt, giá năng lượng mùa hè tăng cao, cước vận chuyển ổn định) đóng vai trò nâng đỡ kỹ thuật, thiết lập mức sàn chi phí cứng và hạn chế rủi ro giảm giá sâu cho thành phẩm. Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản về cung - cầu vẫn rất yếu do đang trong giai đoạn thấp điểm theo mùa và thời tiết bất lợi (mưa bão, nắng nóng cực đoan cản trở xây dựng). Nhu cầu tiêu thụ thực tế từ khối hạ nguồn (xây dựng, ô tô, thiết bị gia dụng) chỉ dừng lại ở mức đáp ứng nhu cầu trước mắt, hoàn toàn thiếu vắng các đơn hàng bổ sung dự trữ quy mô lớn, khiến các nỗ lực tăng giá của nhà máy gặp phải sự phản kháng lớn từ phía các đơn vị phân phối và trung tâm dịch vụ. Do đó, thị trường ngắn hạn dự kiến sẽ tiếp tục trạng thái vận hành tích lũy trong biên độ hẹp và giằng co mạnh.

