Thép dài Châu Á - Thái Bình Dương: Các nhà máy cắt giảm sản xuất thúc đẩy thị trường
Giá thép dài nội địa Trung Quốc đã tăng trong hôm thứ Tư (15/7) khi ngày càng có nhiều nhà máy công bố kế hoạch bảo trì trong bối cảnh tiêu thụ thép theo mùa yếu.
Thép thanh (Rebar)
Giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn (2,95 USD/tấn) lên mức 3.060 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7. Giá thép thanh kỳ hạn tháng 10 tăng 45 nhân dân tệ/tấn lên 3.115 nhân dân tệ/tấn.
Theo các thành viên tham gia thị trường, một số nhà máy thép tại Đường Sơn, trung tâm sản xuất thép chính của Trung Quốc, đã công bố kế hoạch bảo trì dự kiến sẽ làm giảm tổng sản lượng gang lỏng khoảng 60.000 tấn/ngày trong giai đoạn từ 15 đến 30 tháng 7. Do đó, tỷ lệ vận hành lò cao của các nhà máy tại Đường Sơn dự kiến sẽ giảm đáng kể trong phần còn lại của tháng 7, tạo ra một số hỗ trợ cho giá thép nội địa.
Theo dữ liệu của Cục Thống kê Quốc gia (NBS), sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng 5,3% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 6. Tốc độ tăng trưởng này đã tăng tốc từ mức 4,5% của tháng 5, giúp cải thiện tâm lý thị trường.
Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản về nhu cầu thép cho thấy rất ít sự cải thiện. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm 2,4% so với một năm trước, trong khi tồn kho thép dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong tuần này, làm hạn chế đà tăng của giá thép nội địa.
Chỉ số giá thép thanh xuất khẩu (fob) Trung Quốc không đổi ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Các nhà máy Trung Quốc đã bán 30.000 tấn thép thanh cho Hồng Kông ở mức 502 USD/tấn (cfr, trọng lượng thực tế), tương đương khoảng 472 USD/tấn (fob, trọng lượng lý thuyết). Tuy nhiên, giá nội địa vững hơn đã thúc đẩy các nhà máy nâng mức chào giá xuất khẩu tham chiếu mới nhất lên 505 USD/tấn (cfr, trọng lượng thực tế) hoặc cao hơn. Nhìn chung, hoạt động của thị trường thép dài vẫn còn trầm lắng tại Trung Quốc và các thị trường lớn ở Đông Nam Á.
Thép cuộn trơn và phôi thép billet
Chỉ số giá thép cuộn trơn xuất khẩu (fob) Trung Quốc không đổi ở mức 497 USD/tấn (fob). Một nhà máy lớn ở miền Đông Trung Quốc vẫn giữ mức chào giá tháng 8-9 cho thép cuộn trơn hàm lượng carbon cao ở mức 530 USD/tấn (fob), trong khi một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc giữ nguyên mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob). Các mức chào giá thép cuộn trơn của Indonesia đứng ở mức 485 USD/tấn (fob) cho các lô hàng tháng 9. Giá xuất khẩu từ Trung Quốc và các nhà cung cấp lớn tại Đông Nam Á tiếp tục thiếu động lực tăng giá trong bối cảnh nhu cầu thép toàn cầu chững lại theo mùa.
Giá phôi thép billet xuất xưởng tại Đường Sơn đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn lên mức 2.990 nhân dân tệ/tấn hôm thứ Tư. Một nhà máy của Indonesia đã tăng mức chào giá xuất khẩu phôi thép tháng 9 thêm 5 USD/tấn so với đầu tuần này lên mức 465 USD/tấn (fob). Các nhà cung cấp Trung Quốc cũng đã nâng mức chào giá xuất khẩu phôi thép từ 458-460 USD/tấn (fob) hồi đầu tuần lên mức 463-465 USD/tấn (fob). Một số người mua sẵn sàng chốt đơn hàng ở mức khoảng 458 USD/tấn (fob), nhưng nhìn chung sự quan tâm mua hàng vẫn yếu do triển vọng thị trường không chắc chắn.
Tóm tắt hoạt động thị trường
Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 460 USD/tấn (fob Indonesia).
Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 465 USD/tấn (fob Trung Quốc).
Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá phôi 3sp ở mức 463-465 USD/tấn (fob Trung Quốc).
Phôi thép-ASEAN: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức giá hỏi mua phôi 3sp ở mức 458 USD/tấn (fob Trung Quốc).
Thép thanh-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép thanh B500B ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).
Thép thanh-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép thanh B500B ở mức 505 USD/tấn (cfr Hồng Kông).
Thép cuộn-Trung Quốc: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá thép cuộn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).
Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).
Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức giá tham chiếu cho thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 505 USD/tấn (fob miền Bắc Trung Quốc).
Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 525 USD/tấn (fob miền Đông Trung Quốc).
Thép cuộn trơn-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn hàm lượng carbon cao ở mức 530 USD/tấn (fob miền Đông Trung Quốc).
Thép cuộn trơn-ASEAN: Công ty thương mại tại Hồng Kông báo cáo mức chào giá thép cuộn trơn SAE1008 ở mức 485 USD/tấn (fob Indonesia).
Thép dẹt Châu Á - Thái Bình Dương: Hoạt động vận tải biển gia tăng
Giá thép nội địa và xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng nhờ tâm lý thị trường được củng cố, trong khi giá thép cuộn vào Việt Nam tiếp tục giảm do mức giao dịch thấp hơn.
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại kho ở Thượng Hải đã tăng 20 nhân dân tệ/tấn (2,94 USD/tấn) lên mức 3.330 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7. Các nhà bán hàng tiếp tục đẩy giá lên theo đà tăng của thị trường kỳ hạn, nhưng giao dịch trên thị trường hàng vật chất đã suy yếu sau khi giá tăng. Người mua tỏ ra ngần ngại trong việc theo đuổi mức giá cao hơn sau đợt thu mua vào ngày 14 tháng 7, và một số người vẫn thiếu tự tin về khả năng giá tiếp tục tăng vì nhu cầu hạ nguồn vẫn còn khá nguội lạnh.
Tâm lý thị trường được củng cố khi một số thành viên tham gia thị trường kỳ vọng Bắc Kinh sẽ tung ra các chính sách kích thích kinh tế trong quý ba để cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP sau khi Cục Thống kê Quốc gia công bố tốc độ tăng trưởng GDP quý hai của nước này ở mức 4,3%.
Hợp đồng HRC tháng 10 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đã tăng 1,12% so với giá chốt của ngày giao dịch trước đó, lên mức 3.327 nhân dân tệ/tấn vào ngày 15 tháng 7.
Giá HRC xuất khẩu của Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên 487 USD/tấn (fob Trung Quốc). Các nhà máy tư nhân ở miền Bắc Trung Quốc đã nâng mức giá khả thi cho HRC mác Q235 và Q195 lên trên 490 USD/tấn (fob) hôm thứ Tư, so với mức 487-490 USD/tấn (fob) của ngày hôm trước, do tâm lý thị trường thép tại Trung Quốc đã được củng cố. Sự gia tăng doanh số bán hàng tại thị trường nội địa vào ngày 14 tháng 7 cũng hỗ trợ các nhà máy thép nâng giá trong hôm thứ Tư. Theo các nguồn tin từ nhà máy, mối quan tâm của người mua đường biển đã tăng theo mức giá cao hơn, nhưng hầu hết họ vẫn giữ các mức giá chào mua thấp ở mức 480-485 USD/tấn (fob Trung Quốc) đối với HRC mác SS400 và Q235.
Tại Việt Nam, các hoạt động thương mại đã gia tăng. Theo các nguồn tin từ Việt Nam, các mức chào giá đối với HRC mác SAE1006 của Indonesia phần lớn ổn định ở mức 520-530 USD/tấn (cfr Việt Nam), tùy thuộc vào độ dày, và hai lô giao dịch đã được chốt trong tuần này ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam) bởi các khách hàng hạ nguồn. Một số công ty thương mại đã nâng giá chào đối với HRC mác SS400 của Ấn Độ và Indonesia lên 522 USD/tấn (cfr Việt Nam) hôm thứ Tư, từ mức 518-520 USD/tấn (cfr) của ngày hôm trước, sau khi các giao dịch được chốt ở mức 517 USD/tấn (cfr). Tâm lý thị trường đã được củng cố và một số thành viên tham gia cho biết mức giá hiện tại có khả năng là mức đáy trong thời gian tới, trong khi họ nói thêm rằng nhu cầu yếu sẽ ít có khả năng hỗ trợ việc tăng giá đáng kể. Giá HRC ASEAN giảm 1 USD/tấn xuống còn 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
Một nhà máy thép Việt Nam đã bán HRC với giá 545-550 USD/tấn (cfr Hàn Quốc) trong tuần này cho các lô hàng giao tháng 8-9. Các thành viên tham gia thị trường cho biết, trước đây nhà máy này hầu như không thực hiện bán HRC sang Hàn Quốc, và có lẽ luồng thương mại mới này là kết quả của nhu cầu theo mùa chậm lại tại Việt Nam và hạn ngạch thương mại tự do đối với HRC từ Việt Nam vào EU đang bị thắt chặt.
Các mức chào giá đối với HRC của Nhật Bản ở mức 490-500 USD/tấn (fob).
Tóm tắt hoạt động thị trường
HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại quốc tế báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 522 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 522 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác Q355 ở mức 535 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác Q355 ở mức 530 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kông báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 494 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức giá hỏi mua tham chiếu cho HRC mác SS400 ở mức 482,50 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Nhà máy tại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác SS400 ở mức 500 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 493 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức giá tham chiếu cho HRC mác Q235 ở mức 490 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-Trung Quốc: Công ty thương mại miền Đông Trung Quốc báo cáo mức chào giá HRC mác Q235 ở mức 504 USD/tấn (fob Trung Quốc).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 530 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 517 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Công ty thương mại Việt Nam báo cáo mức giá tham chiếu cho HRC mác SAE1006 nguồn gốc không xác định ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Công ty thương mại miền Bắc Trung Quốc báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Công ty thương mại miền Bắc Trung Quốc báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 520 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức 525 USD/tấn (cfr Việt Nam).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Việt Nam ở mức 550 USD/tấn (cfr Hàn Quốc).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo giao dịch HRC mác SAE1006 nguồn gốc Việt Nam ở mức 545 USD/tấn (cfr Hàn Quốc).
HRC-ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo cáo mức chào giá HRC mác SAE1006 nguồn gốc Nhật Bản ở mức 495 USD/tấn (fob Nhật Bản).
Thép dẹt Iran: Việc đóng cửa eo biển Hormuz khiến hoạt động thương mại bị đình trệ
Hoạt động thương mại đối với phôi phiến (slab) và thép dẹt từ Iran một lần nữa bị đình trệ sau khi eo biển Hormuz đóng cửa.
Phôi phiên (Slab)
Không có lô hàng phôi phiến xuất khẩu mới nào được ghi nhận trong tuần qua. Các nhà sản xuất đã nhắm tới việc khởi động lại hoạt động xuất khẩu, với việc Khuzestan Steel đưa ra thông báo mời thầu từ 30.000-50.000 tấn phôi phiến vào tuần trước. Tuy nhiên, không có giao dịch nào được hoàn tất.
Khuzestan đã nhận được các mức giá chào thầu ở mức 420-423 USD/tấn (fob cảng Bandar Imam Khomeini - BIK), nhưng các giao dịch không thể chốt được. Các nhà cung cấp khác cũng đã tạm dừng đàm phán trong bối cảnh eo biển này bị đóng cửa trên thực tế.
Nhu cầu phôi phiến nội địa vẫn ở mức yếu. Mặc dù các hạn chế xuất khẩu tạm thời đã được dỡ bỏ vào cuối tháng 5, các nhà sản xuất vẫn tiếp tục phải vật lộn với tình trạng sản lượng bị hạn chế sau các cuộc không kích hồi cuối tháng 3, khiến khối lượng giao dịch thấp hơn nhiều so với mức trung bình lịch sử.
Giá đã tăng so với tuần trước trên Sàn giao dịch hàng hóa Iran (IME). Tổng cộng 31.000 tấn phôi phiến đã được chào bán ở mức 641.300-675.000 rial/kg (450 USD/tấn) tại kho nhà máy, với khoảng 22.500 tấn đã được bán trong tuần.
Thép dẹt (Flats)
Hoạt động xuất khẩu thép dẹt từ Iran vẫn ảm đạm trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang. Một vài lô hàng thép cuộn cán nóng (HRC) đã được xuất khẩu với giá 560-570 USD/tấn (fob biển Caspian) sang các nước CIS, trong khi những người bán vẫn đang đàm phán xuất khẩu sang các quốc gia láng giềng.
Các thành viên tham gia thị trường đã dừng các hoạt động nhập khẩu do lệnh phong tỏa mới của Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 14 tháng 7, đã ngăn cản người mua đảm bảo các lô hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Việc đóng cửa eo biển Hormuz, kết hợp với tình trạng đình trệ công nghiệp được ghi nhận tại tỉnh Hormozgan và tình trạng mất điện trên diện rộng, đã buộc các nhà sản xuất phải chuyển hướng hoàn toàn sang thị trường nội địa. Các dòng chảy nhập khẩu và các gói thầu xuất khẩu đã lên kế hoạch dự kiến sẽ phải đối mặt với những gián đoạn nghiêm trọng và kéo dài trong những ngày tới.
Thép dài Châu Âu: Các nhà máy lại nhắm đến việc tăng giá
Giá thép dài tại Ý đã giảm sâu hơn trong vài ngày qua và các nhà máy vẫn tiếp tục bán với mức giá rất cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, một số thành viên tham gia thị trường kỳ vọng các đợt tăng giá sẽ sớm được công bố và tin rằng họ có thể nhận được sự chấp nhận từ phía người mua sau giai đoạn trầm lắng của tháng 8.
Đánh giá hàng tuần của thép thanh (rebar) nội địa Ý đã giảm 5 euro/tấn xuống còn 685 euro/tấn xuất xưởng vào hôm thứ Tư, trong khi đánh giá hàng tuần cho giá cuộn trơn rút dây nội địa cũng giảm 5 euro/tấn xuống còn 700 euro/tấn giao hàng.
Nhu cầu nội địa tại Ý rất yếu trong những ngày gần đây, và các nhà máy tiếp tục hạ giá chào bán nhằm thu hút người mua. Khối lượng giao dịch thép thanh vẫn ở mức thấp, và giá giao dịch đã chuyển sang mức 580-590 euro/tấn xuất xưởng so với mức 580-600 euro/tấn xuất xưởng vào tuần trước. Giá thép cuộn trơn được ghi nhận ở mức khoảng 700 euro/tấn giao hàng.
Các nhà máy đang có lượng tồn kho dồi dào, trong khi người mua tại Ý đang hoạt động với mức tồn kho thấp, chủ yếu do nhu cầu xây dựng chậm. Một số nguồn tin thương mại cho rằng có thể có một đợt bổ sung hàng tồn kho nhỏ trong những ngày tới trước khi tháng 8 trầm lắng diễn ra, đồng thời cũng có cảm nhận rằng các nhà máy sắp công bố mức tăng giá cho các lô hàng giao vào cuối tháng 8.
Do nhu cầu nội địa chậm, và tận dụng các hạn chế nhập khẩu nghiêm ngặt hơn của EU, các nhà máy Ý đã tập trung vào xuất khẩu sang Đông Nam Âu trong vài tuần qua. Các thương nhân cho biết, đặc biệt có một nhà máy lớn đang sở hữu một lượng hàng tồn kho lớn và tiếp tục bán các lô hàng từ 5.000-10.000 tấn cho người mua tại Romania. Giá chào xuất khẩu ngày 15/7 được ghi nhận ở mức 570 euro/tấn fob Ý, cộng với một khoản phí nhỏ cho mặt hàng 8mm, trong khi thép thanh dạng cuộn (spooled coils) được chào ở mức 600 euro/tấn fob.
Các mức giá này được các nguồn tin đánh giá là có lợi nhuận, với giá phế tại Ý đã giảm hơn 20 euro/tấn trong tháng qua.
Một nhà máy Ý khác từng bán hàng cho người mua tại Romania đã rút khỏi thị trường này hai ngày trước, sau khi đã giải phóng được một phần hàng tồn kho.
Gần đây, một số nguồn tin cho rằng giá thép Châu Âu có khả năng sẽ tăng vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9, một phần không nhỏ là do tác động tổng hợp của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU và hạn ngạch nhập khẩu nhỏ hơn, cùng với sự gia tăng nhu cầu theo mùa.
Vẫn còn thiếu sự rõ ràng về việc hạn ngạch dư thừa 39.700 tấn đối với thép thanh và 30.700 tấn đối với thép cuộn trơn sẽ được quản lý như thế nào, và vẫn còn những câu hỏi về cách tính thuế phải nộp. Tuy nhiên, theo các ước tính đang phổ biến trên thị trường, những nhà nhập khẩu thép thanh và thép cuộn trơn từ Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 7 này có khả năng phải trả mức thuế khoảng 20%, điều này tạo cơ hội cho các nhà máy Châu Âu tăng giá chào trong những tuần tới mà không bị mất nhiều thị phần vào tay các nhà nhập khẩu.
Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) EU: Giá tăng nhờ các giao dịch
Giá thép cuộn mạ kẽm nhúng nóng (HDG) nhập khẩu và nội địa tại châu Âu đã tăng, với các đơn đặt hàng gần đây từ Việt Nam đã đẩy giá trị lên cao sau một số đợt giảm giá vào tuần trước.
Đánh giá hàng tuần cho HDG (cif Tây Ban Nha) đã tăng 15 euro/tấn lên mức 740 euro/tấn đối với vật liệu z140 0,57.
Một số giao dịch đã được chốt cho lô hàng tháng 8 và dự kiến sẽ được thông quan trong kỳ hạn ngạch hiện tại. Các đơn hàng khác đã được hoàn tất cho lô hàng tháng 10, nhưng những đơn hàng này có thể sẽ phải nhập khẩu vào tháng 1.
Các thành viên tham gia thị trường cho biết các giao dịch nhập khẩu đã được thực hiện ở mức 830–860 USD/tấn (cfr) vào EU từ Việt Nam đối với các thông số kỹ thuật được đánh giá. Chỉ khoảng 19.000 tấn HDG của Việt Nam đã được nộp hồ sơ thông quan trong hai tuần đầu tháng, để lại gần 100.000 tấn hạn ngạch còn trống cho đến cuối tháng 9. Người mua vẫn còn đôi chút thận trọng trong việc đặt hàng số lượng lớn vật liệu nhập khẩu do lo ngại về các khoản thuế phải nộp. Một nhà máy đã chào giá lên tới 890 USD/tấn (cif Tây Ban Nha), nhưng có những hạn chế về thông số kỹ thuật mà nhà sản xuất này sẵn sàng bán.
Một số mức giá HDG của Ấn Độ được nghe ở mức 850-860 USD/tấn (cfr), nhưng việc sử dụng hạn ngạch được cho là thậm chí còn rủi ro hơn so với Việt Nam. Một người mua đã được chào giá HDG Thổ Nhĩ Kỳ ở mức hơn 770 euro/tấn (cif, chưa bao gồm thuế chống bán phá giá), nhưng họ tin rằng thuế chống bán phá giá sẽ được tính vào sau khi đàm phán. Tuy nhiên, việc phân bổ hạn ngạch nhỏ cho Thổ Nhĩ Kỳ theo hạn ngạch của EU có nghĩa là người mua dự đoán sẽ phải chịu thêm các khoản thuế đáng kể.
Tại thị trường nội địa EU, các nhà máy đang tiếp tục thúc đẩy mức giá cao hơn. Một mức chào giá tại Ý được ghi nhận hôm thứ Tư ở mức 840 euro/tấn xuất xưởng. Một mức giá khác ở mức 845-850 euro/tấn cơ sở giao hàng, với người bán báo cáo rằng đã có sự chấp nhận từ phía người mua. Một nhà cung cấp EU chào giá 830-850 euro/tấn cơ sở giao hàng tại Ý, nhưng nhận thấy mức thị trường thấp hơn một chút. Một người mua đã được chào giá 820-830 euro/tấn cơ sở giao hàng và lưu ý rằng các nhà máy sẽ không giảm giá thấp hơn mức này.
Ở phía Bắc, một nhà máy đã đưa ra mức 850 euro/tấn cơ sở giao hàng vào Đức, một mức giá mà nhà sản xuất này mô tả là khó chuyển phần tăng giá sang cho khách hàng. Nhà máy thứ hai chào giá cho khách hàng ở mức 840 euro/tấn cơ sở giao hàng, trong khi ở phía mua, mức giá 830-850 euro/tấn cơ sở giao hàng được báo cáo bởi hai trung tâm dịch vụ khác nhau. Sản lượng sản xuất nội địa hiện đang dành cho tiến độ cán tháng 10.
"Hiện tại có rất ít các chào giá cho vật liệu nhập khẩu trên thị trường", một người mua ở phía Bắc cho biết.
Đánh giá hàng tuần cho giá HDG Ý đã tăng 10 euro/tấn lên mức 820 euro/tấn xuất xưởng, trong khi chỉ số HDG Tây Bắc EU tăng cùng mức đó lên 810 euro/tấn xuất xưởng.
Thép dài Iran: Xuất khẩu đường biển đình trệ
Xuất khẩu thép dài đường biển của Iran đã bị đình trệ trong tuần này do các gián đoạn an ninh tại eo biển Hormuz và sự quan tâm mua hàng yếu ớt. Nguồn cung phôi thép nội địa thắt chặt đã đẩy giá tăng cao sau tình trạng mất điện nghiêm trọng và đồng rial suy yếu.
Phôi thép (Billet)
Không có giao dịch hoặc gói thầu xuất khẩu phôi thép đường biển mới nào được ghi nhận trong tuần này. Ít nhất bốn tàu đang chờ tại khu vực neo đậu để bốc hàng, trong khi một số tàu khác đã hủy các chuyến hàng do rủi ro an ninh và logistics nghiêm trọng tại eo biển Hormuz, tình hình càng trở nên trầm trọng hơn bởi hoạt động hải quân mới của Hoa Kỳ bắt đầu từ ngày 14 tháng 7.
Tàu chở hàng rời Luni, vận chuyển 43.000 tấn phôi thép, đã gặp va chạm và chìm tại eo biển Hormuz trong tuần này, làm gia tăng sự không chắc chắn đối với hoạt động hàng hải trong khu vực.
Các nhà sản xuất đã tạm dừng các gói thầu mới để tập trung vào việc bốc xếp các cam kết trước đó. Một vài nhà cung cấp chào giá phôi thép ở mức 410-414 USD/tấn (fob), nhưng người mua chào giá thấp hơn ở mức 400-405 USD/tấn (fca) cho các lô hàng giao bằng đường bộ tới các nước láng giềng. Các thành viên tham gia thị trường báo cáo không có sự quan tâm nào đến việc đặt hàng đường biển.
Ít nhất 3.000 tấn phôi thép đã được bán với giá 400 USD/tấn (fca) tại biên giới Afghanistan, trong khi các nhà cung cấp chào giá phôi thép xuất khẩu đường bộ ở mức 385-390 USD/tấn (tại kho nhà máy). Trên Sàn giao dịch hàng hóa Iran (IME), một nhà sản xuất đã bán 20.000 tấn phôi 3sp kích thước 150x150mm với giá 635.000 rial/kg (385 USD/tấn) tại kho Yazd. Một nhà sản xuất khác đã bán 40.000 tấn cùng loại với giá 592.652 rial/kg (395 USD/tấn) tại kho Bandar Abbas, tương đương mức khoảng 407 USD/tấn (fob) thông qua IME trong tuần này.
Giá phôi thép nội địa tăng khoảng 16 USD/tấn lên mức 635.400 rial/kg (423 USD/tấn), được hỗ trợ bởi nguồn cung trong nước thắt chặt hơn. Nhu cầu quốc tế vẫn trầm lắng. Người mua tại Đông Nam Á im ắng khi giá hàng hóa của Nga giảm xuống 468 USD/tấn (fob). Hoạt động xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ đã dừng lại do rủi ro hàng hải tăng cao và thời gian vận chuyển đường sắt không khả thi. Người mua tại Bắc Phi và GCC đã ngừng nhập khẩu vật liệu từ Iran.
Thép dài
Giá thép thanh (rebar) ổn định, nhưng hoạt động xuất khẩu (fob) chậm lại và phần lớn chỉ giới hạn ở việc vận chuyển bằng xe tải sang các nước láng giềng. Nhu cầu nội địa trì trệ do tiêu thụ hạ nguồn yếu, trái ngược với thị trường phôi thép vững chắc hơn. Các nhà máy cán lại và các nhà xuất khẩu vẫn thận trọng khi cam kết sản lượng mới do tình trạng mất điện kéo dài và các rủi ro về logistics.
Các lô hàng thép thanh gần đây được chào ở mức 420-430 USD/tấn (tại kho nhà máy), với loại thép B500B ở mức 430-440 USD/tấn (tại kho nhà máy). Thương mại khu vực bị cản trở thêm sau khi Iraq cấm quá cảnh thép của Iran trong tuần này, làm chậm đáng kể hoạt động tái xuất khẩu sang Syria và Jordan. Ở các phân khúc khác thuộc tổ hợp thép dài, một vài lô hàng thép cuộn trơn đã được xuất khẩu với giá 460-470 USD/tấn (fob) vào tuần trước, trong khi các lô hàng dầm thép chữ I (I-beam) được chào với giá 450 USD/tấn (tại kho nhà máy) sang các nước láng giềng.
Thép cuộn cán nóng (HRC) EU: Giá tăng nhẹ
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại châu Âu đã tăng nhẹ do các mức chào giá cao hơn một chút, mặc dù hoạt động giao dịch vẫn chậm chạp với một vài điểm cầu nhỏ khi người mua chốt nguồn cung để phòng ngừa rủi ro giá tăng thêm.
Hoạt động ở mức dưới trung bình hiện không gây áp lực lên các nhà máy, vì họ đang lấp đầy những khoảng trống cuối cùng trong sổ đơn hàng cho kế hoạch sản xuất tháng 9, sau khi đã thu thập các đơn hàng ở mức giá thấp hơn trước và ngay sau khi các biện pháp nhập khẩu mới có hiệu lực.
Đánh giá hàng ngày về giá HRC tại Tây Bắc Âu đã tăng 1,25 euro/tấn lên 704,75 euro/tấn (tại kho nhà máy) hôm thứ Tư, trong khi đánh giá hàng ngày cho giá HRC tại Ý đã tăng 1 euro/tấn lên 702,25 euro/tấn (tại kho nhà máy).
Các thành viên tham gia thị trường Tây Bắc Âu tiếp tục báo cáo rằng một nhà máy tích hợp đã giao dịch các khối lượng không xác định ở mức 710 euro/tấn cơ sở (tại kho nhà máy). Một thương nhân cho biết họ hiện đang tìm kiếm mức giá 740 euro/tấn (tại kho nhà máy). Nhà sản xuất thứ hai đưa ra mức giá 730-740 euro/tấn cơ sở (giao hàng vào Đức), chốt được một số lô nhỏ ở các mức giá này. Nhà cung cấp này cho biết họ đã từ chối một đơn chào mua ở mức 710 euro/tấn cơ sở (giao hàng) cho vài nghìn tấn, vì họ đã kín đơn hàng. Hầu hết các nhà sản xuất đang chào bán cho tiến độ sản xuất tháng 9 và kéo dài sang quý 4.
Một nhà máy cán lại được ghi nhận vắng bóng trên thị trường giao ngay sau khi một người mua đưa ra đề nghị hỏi mua hàng nhưng không nhận được báo giá. Các giao dịch bán hàng cuối cùng mà nhà máy thực hiện được báo cáo ở mức 700-705 euro/tấn cơ sở (tại kho nhà máy). Các mức chào giá rất khó tìm và các nhà máy hiện không theo đuổi các đơn hàng vào lúc này, một trung tâm dịch vụ cho biết.
Tại Ý, thị trường đang chuyển động chậm, nhưng các cuộc đàm phán có vẻ thưa thớt do một số bên đang chật vật với tình trạng gián đoạn nhập khẩu. Hiện chưa rõ các nhà máy đã đạt được mức giá chào của họ hay chưa, vì nhiều người mua ưu tiên dựa vào các hợp đồng liên kết chỉ số có giá thấp hơn đáng kể, vốn phụ thuộc vào các chỉ số được công bố mỗi tháng một lần và do đó không phản ánh đúng giá giao ngay hiện tại. Một nhà máy cán lại đã chào giá cơ sở ở mức 740 euro/tấn (tại kho nhà máy).
Sản lượng thép của Trung Quốc tăng nhẹ trong tháng 6
Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong tháng 6 đã tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, được hỗ trợ bởi giá thép nội địa cao hơn và nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ hơn.
Theo dữ liệu được Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố vào ngày 15 tháng 7, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 83,67 triệu tấn trong tháng 6, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước đó.
Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống còn 499,95 triệu tấn.
Giá thép Trung Quốc có xu hướng giảm trong tháng 6, nhưng giá thép nội địa bình quân trong tháng vẫn duy trì ở mức cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá thép thanh bình quân tháng 6 cao hơn 2-3% so với một năm trước. Chỉ số giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải ở mức 3.100-3.150 nhân dân tệ/tấn (457-465 USD/tấn) vào cuối tháng 6 năm nay, cao hơn so với mức 3.020 nhân dân tệ/tấn vào ngày 26 tháng 6 năm 2025, vốn là mức thấp nhất kể từ khi đánh giá này bắt đầu triển khai vào năm 2018.
Theo các thành viên tham gia thị trường, tỷ lệ vận hành lò cao của các nhà máy Trung Quốc cũng tăng 1-2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt mức 84-85% trong tháng 6.
Các đơn hàng xuất khẩu mạnh cũng hỗ trợ cho sản lượng thép. Theo dữ liệu hải quan Trung Quốc, xuất khẩu thép của nước này đã tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước lên 10,32 triệu tấn trong tháng 6.
Tuy nhiên, tổng sản lượng thép đã vượt nhu cầu từ người dùng cuối, gây áp lực giảm giá từ giữa tháng 6. Chỉ số giá thép thanh xuất kho tại Thượng Hải đã giảm 100 nhân dân tệ/tấn xuống còn 3.060 nhân dân tệ/tấn trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7. Nhiều nhà máy Trung Quốc cũng đẩy sớm hoặc mở rộng các kế hoạch bảo trì từ cuối tháng 6 sang đầu tháng 7 khi biên lợi nhuận bị thu hẹp và nhiều nhà sản xuất rơi vào tình trạng thua lỗ. Các thành viên tham gia thị trường dự báo sản lượng thép thô trong tháng 7 sẽ giảm so với mức của tháng 6.
Sản lượng ngành kim loại đen Trung Quốc ('000 tấn)
| Tháng 6 | ±% so với tháng 6/25 | Tháng 1-6 | ±% so với tháng 1-6/25 |
Sản lượng thép thô | 83.670 | 0,4 | 499.950 | -3 |
Sản lượng thép thành phẩm | 126.560 | 0 | 718.780 | -0,9 |
Sản lượng gang | 71.990 | -0,9 | 426.640 | -2,8 |
Sản lượng than cốc luyện kim | 42.040 | 1,1 | 252.500 | 1,6 |
Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tăng trong tháng 6
Tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc đã tăng trong tháng 6, hỗ trợ nhu cầu thép mạnh mẽ hơn.
Sản xuất công nghiệp của Trung Quốc tăng 5,3% trong tháng 6 so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,5% so với tháng trước đó, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy.
Sản lượng sản xuất chế tạo tăng 6%, trong khi sản lượng khai thác giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất chế tạo chiếm hơn một nửa nhu cầu thép của Trung Quốc và là động lực chính thúc đẩy giá thép dẹt tăng cao.
Phân khúc phụ của ngành này là sản xuất ô tô tăng 8,7% so với năm trước và sản xuất thiết bị cũng tăng 9,9% so với cùng kỳ.
Các lĩnh vực vận tải khác như sản xuất đường sắt, đóng tàu và hàng không vũ trụ tăng 18,2%.
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 6. Lĩnh vực này chiếm khoảng 1/5 tổng nhu cầu thép.
Dữ liệu của NBS cho thấy đầu tư vào lĩnh vực bất động sản trong giai đoạn tháng 1-6 giảm 18% so với năm trước. Các dự án khởi công mới tính theo diện tích giảm 23,4% so với cùng kỳ trong giai đoạn tháng 1-6. Doanh số bất động sản tính theo diện tích sàn giảm 11,6% trong cùng kỳ.
Lĩnh vực bất động sản chiếm khoảng 1/4 nhu cầu thép của Trung Quốc.
Dữ liệu sản lượng công nghiệp và đầu tư của Trung Quốc (%)
Cơ sở | Tháng 6/26 | Tháng 5/26 | Tháng 4/26 | Tháng 3/26 | Tháng 1-2/26 | Tháng 12/25 | Tháng 11/25 | Tháng 10/25 | Tháng 9/25 | Tháng 8/25 | Tháng 7/25 | Tháng 6/25 |
Sản xuất công nghiệp |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng (YoY) | 5 | 5 | 4 | 6 | 6 | 5 | 5 | 7 | 5 | 6 | 7 | 6 |
Khai thác (YoY) | -2 | 2 | 4 | 6 | 6 | 5 | 6 | 5 | 6 | 5 | 5 | 6 |
Chế tạo (YoY) | 6 | 4 | 4 | 6 | 7 | 6 | 5 | 5 | 7 | 6 | 6 | 7 |
Đầu tư tài sản cố định |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng (YTD) | -6 | -4 | -2 | 2 | 2 | -4 | -3 | -2 | -1 | 1 | 2 | 3 |
Cơ sở hạ tầng (YTD) | -2 | 1 | 4 | 9 | 11 | -2 | -1 | 0 | 1 | 2 | 3 | 5 |
Chế tạo (YTD) | -1 | 0 | 1 | 4 | 3 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 8 |
Bất động sản |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng đầu tư BĐS (YTD) | -18 | -16 | -14 | -11 | -11 | -17 | -16 | -15 | -14 | -13 | -12 | -11 |
Đầu tư nhà ở (YTD) | -18 | -16 | -13 | -11 | -11 | -16 | -15 | -14 | -13 | -12 | -11 | -10 |
Nguồn: NBS
Các thương nhân chuyển hướng các lô hàng thép bị hủy vào EU do hạn ngạch
Các thương nhân đã phải chuyển hướng các lô hàng thép dự kiến đến thị trường EU trong vài tuần qua, sau khi khối này thực hiện các biện pháp nhập khẩu mới từ ngày 1 tháng 7, trong đó cắt giảm đáng kể hạn ngạch miễn thuế và tăng gấp đôi thuế quan lên 50%.
Các chi tiết kỹ thuật về hạn ngạch chỉ được công bố vào ngày 30 tháng 6, khiến các bên tham gia không kịp phản ứng với những thay đổi. Các hợp đồng đã ký kết từ nhiều tháng trước và các lô hàng đang trên đường đến EU hoặc đang ở tại các cảng EU hiện phải đối mặt với mức thuế vượt hạn ngạch đáng kể. Các mức thuế suất vẫn chưa rõ ràng do EU áp đặt thời gian tạm dừng nhập khẩu trong hai tuần.
Các thành viên tham gia thị trường báo cáo rằng các thương nhân đang chuyển hướng các lô hàng để tránh các mức thuế mới của EU. Trong một số trường hợp, các đơn hàng đã bị hủy bỏ hoàn toàn, mặc dù điều này có thể chỉ giới hạn ở những khối lượng chưa đến EU. Một số nguồn tin cho biết mặc dù các nhà nhập khẩu có thể chọn hoãn thông quan sang quý tiếp theo thay vì hủy bỏ, nhưng các nhà kho tại cảng hiện đã đầy hàng, và kỳ hạn ngạch tiếp theo có thể sẽ chứng kiến khối lượng hàng hóa tương tự được đưa ra để thông quan. Ngoài ra, một số sản phẩm thép sẽ phải lưu kho ngoài trời không có mái che, khiến chúng dễ bị hư hỏng trong khoảng thời gian ba tháng.
Việc chuyển hướng các đơn hàng liên quan đến các lô hàng thép cuộn cán nóng (HRC) của Indonesia và Thái Lan, theo các thành viên thị trường, một số trong đó đã được chào bán sang Bắc Phi thay thế. Indonesia, quốc gia đã trở thành nhà cung cấp cuộn cán nóng chính cho EU trong năm qua — riêng nhập khẩu trong tháng 4 đã vượt quá 200.000 tấn — chỉ được cấp hạn ngạch 31.000 tấn mỗi quý.
Một số loại thép tấm của Thổ Nhĩ Kỳ, hiện thuộc phạm vi điều chỉnh của hạn ngạch HRC và dự kiến sẽ thông quan vào mùa thu này, cũng đã được chào bán cho các khách hàng ngoài EU, một nguồn tin cho biết. Những thay đổi đối với hạn ngạch thép tấm của Thổ Nhĩ Kỳ, vốn trước đây cho phép nhập khẩu các loại tấm dày hơn theo phân loại thép tấm, cũng đã tạo ra các vấn đề cho các nhà cung cấp, đặc biệt là tại Antwerp, nơi một phần lớn vật liệu trước đây được nhập khẩu. Các loại tấm này hiện sẽ cần phải nhập khẩu theo hạn ngạch HRC, vốn đã bị cắt giảm đáng kể — dữ liệu hải quan EU hiện cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia có hạn ngạch HRC bị vượt mức cao nhất, với hơn 370.000 tấn đang chờ thông quan tính đến ngày 14 tháng 7, gấp hơn hai lần hạn ngạch thực tế là 160.000 tấn.
Đối với thép cán nguội, các thành viên thị trường báo cáo rằng một con tàu từ Brazil, quốc gia được cấp hạn ngạch 3.534 tấn mỗi quý tại EU, đang được chuyển hướng sang Vương quốc Anh.
Các thành viên tham gia thị trường cũng cho biết các điều khoản hợp đồng đã được đàm phán lại, với một số thương nhân cố gắng thuyết phục khách hàng chấp nhận một phần trách nhiệm đối với các loại thuế vượt hạn ngạch. Một thương nhân cho biết, việc chờ đợi đến quý tiếp theo để thông quan hàng hóa, một cách tiếp cận mà người mua trước đây đã thực hiện, không khả thi trong hầu hết các trường hợp do quy mô hạn ngạch của một số quốc gia bị hạn chế.
Sự gián đoạn nhập khẩu đã góp phần tạo thêm nhu cầu cho sản xuất nội địa EU, khi người mua phải lấp đầy một số lỗ hổng trong kho dự trữ của họ. Hầu hết các nhà máy EU đã nắm bắt cơ hội để tận dụng, tăng giá chào khoảng 50 euro/tấn trong tuần qua. Những mức tăng cho đến nay vẫn bị kìm hãm bởi các yếu tố theo mùa, cùng với bối cảnh kinh tế yếu kém nói chung và lượng tồn kho nhìn chung vẫn đủ.
Giá thép cuộn chính thức mất kết nối với thực tế thị trường Ả Rập Xê Út
Thị trường thép cuộn Ả Rập Xê Út đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng khi các mức giá giao dịch thực tế vẫn thấp hơn nhiều so với giá niêm yết chính thức của các nhà máy, phản ánh nhu cầu mùa hè yếu ớt và sự cạnh tranh gay gắt từ hàng nhập khẩu.
Giá thép cuộn chính thức tháng 7 từ nhà sản xuất tiêu chuẩn đang ở mức 2.850 SAR/tấn (760 USD/tấn) giao đến nơi, trong khi các nhà máy nội địa khác cũng duy trì các mức giá tương tự.
Tuy nhiên, những người tham gia thị trường cho biết các giao dịch đang diễn ra ở mức giá thấp hơn đáng kể. Một thành viên thị trường chia sẻ: "Giá chính thức là như vậy, nhưng không ai giao dịch ở mức đó cả. Các mức chiết khấu có thể rất lớn, lên tới 550 SAR/tấn (147 USD/tấn) so với giá niêm yết chính thức của nhà máy. Người mua chỉ đặt hàng dựa trên các yêu cầu dự án đã được xác nhận, trong khi các nhà máy vẫn tiếp tục cố gắng bảo vệ mức giá của họ".
Thị trường nội địa cũng đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ hàng nhập khẩu. Các nhà cung cấp Ai Cập đã giảm giá chào thép cuộn cho lô hàng tháng 7-8 xuống khoảng 620 USD/tấn (FOB), tương đương khoảng 655-660 USD/tấn (CFR Ả Rập Xê Út), so với các mức giá chỉ dẫn trước đó là khoảng 665 USD/tấn (FOB). Những người tham gia thị trường lưu ý rằng các nhà xuất khẩu đã hạ giá để phản ứng với nhu cầu khu vực yếu hơn, mặc dù các mức giá chào cạnh tranh hơn vẫn chưa tạo ra sự gia tăng đáng kể trong số lượng đơn đặt hàng.
Các nguồn tin trong ngành chỉ ra rằng sự chững lại theo mùa đang ảnh hưởng đến cả nguyên liệu nội địa và nhập khẩu. Mùa hè theo truyền thống là thời kỳ tiêu thụ yếu nhất tại Ả Rập Xê Út, khiến người mua trì hoãn việc mua hàng bất cứ khi nào có thể và hạn chế hoạt động trên thị trường giao ngay bất chấp giá nhập khẩu thấp hơn. Mặc dù thép cuộn nhập khẩu ngày càng trở nên cạnh tranh về giá, nhưng các mức giá chào thấp hơn đã không có nhiều tác dụng trong việc kích thích nhu cầu, càng làm trầm trọng thêm áp lực về giá trên toàn thị trường.
Những người tham gia thị trường kỳ vọng khoảng cách giữa giá niêm yết chính thức của nhà máy và mức giao dịch thực tế sẽ vẫn còn lớn cho đến khi hoạt động xây dựng cải thiện sau giai đoạn mùa hè.
Tất cả các mức giá chưa bao gồm 15% thuế VAT. Tỷ giá hối đoái là 1 USD = 3,75 SAR.
Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc tăng vọt trong tháng 6 bất chấp sản lượng thép sụt giảm
Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc đã tăng vọt trong tháng 6, phục hồi đáng kể sau khi giảm vào tháng 5, trong khi tổng lượng quặng cập cảng trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong tháng 6, Trung Quốc đã nhập khẩu 112,69 triệu tấn quặng sắt, tăng 15,3% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan (GACC) được công bố vào ngày 14 tháng 7. Trong nửa đầu năm 2026, tổng lượng nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc đạt 628,87 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Động lực ổn định này nối tiếp đà tăng trưởng 6,3% so với cùng kỳ trong giai đoạn tháng 1-5 và mức mở rộng 8% ghi nhận trong bốn tháng đầu năm.
Sự gia tăng liên tục của nhập khẩu quặng sắt trong bối cảnh sản xuất thép nội địa thu hẹp vẫn tiếp diễn xu hướng được thiết lập từ năm ngoái, khi Trung Quốc đạt khối lượng nhập khẩu cao kỷ lục cùng với sản lượng thép thô ở mức thấp nhất trong bảy năm. Các thành viên tham gia thị trường chỉ ra sự kết hợp giữa việc nhập khẩu mang tính chiến lược, các hợp đồng dài hạn cứng nhắc, chất lượng quặng suy giảm và nguồn cung toàn cầu dồi dào là những động lực chính dẫn đến sự phân kỳ này. Một thương nhân Trung Quốc chia sẻ khi giải thích lý do tại sao khối lượng quặng đang chồng chất tại các cảng: "Các nhà nhập khẩu phải liên tục tiếp nhận các chuyến hàng theo các thỏa thuận dài hạn bất chấp nhu cầu thực tế, ngay cả khi vật liệu không thể tiêu thụ ngay lập tức". Thương nhân này nói thêm: "Việc xây dựng kho dự trữ quặng loại trung bình cũng là một bước đệm chiến lược trong bối cảnh bất ổn địa chính trị hiện nay, tương tự như những gì chúng ta thấy ở các thị trường khu vực như Nhật Bản và Đài Loan, nơi sản lượng thép giảm trong khi lượng quặng nhập vào vẫn ở mức cao".
Hơn nữa, các nguồn tin thị trường nhấn mạnh rằng chất lượng quặng sắt suy giảm từ nước ngoài buộc các nhà máy Trung Quốc phải nhập khẩu khối lượng vật chất lớn hơn để đạt được hiệu suất gang mong muốn, trong khi hoạt động khai thác nội địa tại Trung Quốc đang thu hẹp. Theo Cục Thống kê Quốc gia, sản lượng quặng sắt nội địa giảm 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong giai đoạn tháng 1-5/2026 xuống còn 397,11 triệu tấn, với sản lượng tháng 5 giảm 14,5% so với cùng kỳ xuống còn 74,17 triệu tấn.
Tồn kho cao tại các nhà khai thác mỏ toàn cầu và các thương nhân quốc tế đã tiếp tục đẩy lượng vật liệu dư thừa về phía các cảng Trung Quốc.
Bất chấp số liệu nhập khẩu mạnh mẽ, nhu cầu thép nội địa yếu vẫn tiếp tục tạo ra sự mất cân bằng rõ rệt tại thị trường thực tế. "Nhu cầu nội địa Trung Quốc hiện đang rất yếu và tình trạng dư cung quặng sắt ngày càng trở nên rõ ràng", một thương nhân địa phương khác bình luận. Mức tiêu thụ thép hạ nguồn trì trệ và khả năng sinh lời thấp của các nhà sản xuất thép dự kiến sẽ giữ tồn kho tại cảng ở mức cao trong những tháng tới.
Nhập khẩu thép nửa đầu năm của Việt Nam tăng nhờ nguồn cung từ Ấn Độ mạnh lên
Nhập khẩu thép của Việt Nam tăng trong nửa đầu năm 2026 chủ yếu do sự gia tăng đột biến các lô hàng từ Ấn Độ, đồng thời được hỗ trợ bởi dòng chảy mạnh mẽ hơn từ một số nhà cung cấp trong khu vực khác, bất chấp sự sụt giảm khối lượng từ các nhà xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc và Nhật Bản.
Trong nửa đầu năm (H1), cả nước đã nhập khẩu 7,77 triệu tấn sản phẩm thép, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, theo Tổng cục Hải quan. Sự tăng trưởng chung này chủ yếu được thúc đẩy bởi Ấn Độ, với lượng hàng xuất khẩu tăng vọt lên 779.665 tấn từ mức chỉ 7.775 tấn trong giai đoạn tháng 1-6/2025. Sự gia tăng mạnh mẽ nhập khẩu từ Ấn Độ phản ánh sự kết hợp giữa mức giá hấp dẫn và dòng chảy thương mại thay đổi. Các nhà cung cấp Ấn Độ đã chuyển trọng tâm sang Việt Nam sau khi thị trường EU trở nên kém hấp dẫn hơn kể từ khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được áp dụng vào tháng 1/2026, trong khi xuất khẩu sang Trung Đông bị ảnh hưởng bởi căng thẳng khu vực. Bên cạnh đó, nguồn cung vào Việt Nam cũng tăng từ Hàn Quốc (+9,2%), Đài Loan (+21,3%) và Indonesia (+13,4%) so với cùng kỳ năm ngoái.
Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng đầu trong H1, nhưng lượng hàng xuất khẩu của nước này đã giảm 13,8% so với cùng kỳ, làm giảm tỷ trọng trong tổng lượng nhập khẩu thép của Việt Nam xuống còn 49,1% so với mức 58,5% một năm trước đó. Theo ghi nhận của Metal Expert, sự sụt giảm này chủ yếu do các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam đối với thép HRC Trung Quốc.
Lượng hàng từ Nhật Bản giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước, do các nhà xuất khẩu Nhật Bản mất khả năng cạnh tranh trong bối cảnh chi phí nguyên liệu thô tăng cao, thúc đẩy các nhà nhập khẩu Việt Nam chuyển sang các nhà cung cấp khác trong khu vực.
Việt Nam: Nhập khẩu thép (nghìn tấn)
Nhà cung cấp | H1 2026 | H1 2025 | Tăng trưởng (%) |
Trung Quốc | 3.819 | 4.428 | -13,8 |
Nhật Bản | 961 | 1.207 | -20,4 |
Ấn Độ | 780 | 8 | Tăng 98 lần |
Hàn Quốc | 771 | 706 | +9,2 |
Indonesia | 760 | 670 | +13,4 |
Đài Loan | 513 | 423 | +21,3 |
Khác | 169 | 131 | +29 |
Tổng | 7.773 | 7.573 | +2,8 |
Nguồn: Tổng cục Hải quan, Việt Nam
Quặng sắt vượt mốc 100 USD/tấn lần đầu tiên sau gần một tháng
Giá quặng sắt đã tăng hôm 14/7, được hỗ trợ bởi sự phục hồi trên thị trường kỳ hạn, hoạt động mua hàng tại cảng mạnh mẽ hơn ở Trung Quốc và sự sụt giảm mạnh hàng tuần về khối lượng vận chuyển từ Úc và Brazil, trong khi nhu cầu thép theo mùa yếu vẫn tiếp tục hạn chế sự lạc quan của thị trường.
Theo dữ liệu, quặng sắt mịn Úc hàm lượng 62% Fe đã tăng 1,5 USD/tấn lên mức 100,5 USD/tấn (CFR), quay trở lại trên ngưỡng 100 USD/tấn (CFR) lần đầu tiên kể từ ngày 16 tháng 6. Giá nguyên liệu thô tương lai đã tăng 2,4 USD/tấn trên sàn DCE và 1,6 USD/tấn trên sàn SGX trong ngày.
Thị trường quặng sắt vật chất đã theo đà tăng của thị trường kỳ hạn, vốn được thúc đẩy chủ yếu bởi sự phục hồi kỹ thuật sau đợt giảm mạnh hôm thứ Hai khi các nhà đầu tư đóng các vị thế bán khống và chốt lời, theo các nguồn tin nội bộ cho biết.
Ngoài ra, hoạt động mua sắm đã tăng cường so với ngày 13 tháng 7 khi khối lượng giao dịch tại các cảng Trung Quốc tăng đáng kể, mặc dù nhu cầu đối với các lô hàng vận chuyển đường biển vẫn còn trầm lắng.
Tâm lý thị trường cũng được hỗ trợ bởi sự sụt giảm nguồn cung trong ngắn hạn từ các quốc gia xuất khẩu lớn. Theo Mysteel, các chuyến hàng quặng sắt từ 20 cảng và 17 công ty khai thác mỏ tại Úc và Brazil đã giảm mạnh 21,3% so với tuần trước, xuống còn 21,5 triệu tấn trong giai đoạn từ ngày 6-12 tháng 7. Lượng hàng xuất đi giảm từ cả hai quốc gia sau một đợt phục hồi ngắn trong tuần trước đó, làm giảm bớt những lo ngại về áp lực nguồn cung tức thời.
Đồng thời, dữ liệu hải quan mới nhất của Trung Quốc cho thấy nhu cầu cao hơn đối với nguyên liệu thô này trong tháng 6. Quốc gia này đã nhập khẩu 112,69 triệu tấn quặng sắt trong tháng trước, tăng 15,3% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan được công bố vào ngày 14 tháng 7. Nhập khẩu trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 đạt 628,87 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tính bền vững của đà phục hồi giá vẫn còn không chắc chắn, do nhu cầu thép theo mùa tại Trung Quốc vẫn còn yếu. Điều này tiếp tục hạn chế những kỳ vọng về tiêu thụ quặng sắt mạnh mẽ hơn từ phía các nhà máy và khiến người mua thận trọng, đặc biệt là trên thị trường đường biển.
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) Ấn Độ sụt giảm do nhu cầu nội địa yếu và sự không chắc chắn trong xuất khẩu
Các nhà sản xuất thép Ấn Độ đã giảm giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa trong bối cảnh nhu cầu suy yếu, lượng tồn kho ở mức thoải mái và sự không chắc chắn ngày càng tăng đối với hoạt động xuất khẩu.
Trong tuần này, giá chào HRC nội địa từ các nhà máy lớn được ghi nhận trong khoảng 55.000-57.000 INR/tấn (572-592 USD/tấn) tại kho Mumbai, giảm so với mức 58.000-61.000 INR/tấn (603-634 USD/tấn) tại kho Mumbai vào đầu tháng 6. Các nhà phân phối liên kết với nhà máy được cho là đang chào bán vật liệu ở mức 57.000-57.500 INR/tấn (592-598 USD/tấn) tại kho Mumbai, trong khi một số thành viên tham gia thị trường chỉ ra rằng NMDC Steel đang chào bán HRC ở mức khoảng 54.500 INR/tấn (567 USD/tấn) giao đến nơi.
Các thành viên tham gia thị trường cho rằng sự sụt giảm giá là do sự kết hợp của các yếu tố theo mùa và đặc thù của thị trường, vốn đã chuyển quyền thương lượng sang phía người mua. Sự khởi đầu của mùa mưa đã làm chậm tốc độ tiêu thụ thép, trong khi các nhà phân phối bước vào tháng 7 với mức tồn kho thoải mái, làm hạn chế nhu cầu mua hàng mới.
Triển vọng xuất khẩu cũng trở nên khó khăn hơn. Các thông báo gần đây về việc sửa đổi hạn ngạch tự vệ tại EU và Vương quốc Anh đã làm gia tăng sự không chắc chắn đối với xuất khẩu thép của Ấn Độ, thúc đẩy các nhà máy tìm kiếm các điểm đến thay thế ở nước ngoài cho cả các sản phẩm thép dẹt và phôi thép. "Ấn Độ hiện cần thúc đẩy xuất khẩu để giảm bớt áp lực lên thị trường nội địa. Những điều chỉnh này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung toàn cầu", một thương nhân châu Á cho biết.
Trong khi đó, nhập khẩu thép của Ấn Độ đã tăng vọt trong quý 1, ảnh hưởng đến khối lượng cung nội địa. Trong giai đoạn tháng 4-6, nhập khẩu thép thành phẩm đã tăng 49% so với cùng kỳ năm trước lên 2,06 triệu tấn. Các nhà cung cấp châu Á tiếp tục thống trị thị trường nhập khẩu Ấn Độ, chiếm 90,6% tổng lượng nhập khẩu thép thành phẩm. Các quốc gia cung cấp bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan và Indonesia.
Hoạt động mua kỹ thuật thúc đẩy hợp đồng tương lai kim loại đen bất chấp sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc
Hợp đồng tương lai kim loại đen đã phục hồi vào thứ Tư nhờ hoạt động mua kỹ thuật kéo dài, trong khi các tín hiệu chính sách mới từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), kỳ vọng về việc sản lượng thép giảm và các yếu tố bên ngoài đã cung cấp thêm sự hỗ trợ.
Vào ngày 15 tháng 7, hợp đồng tương lai thép thanh và HRC trên sàn SHFE đều tăng 25 NDT/tấn (3,68 USD/tấn). Trên sàn DCE, hợp đồng tương lai quặng sắt tăng 1,5 NDT/tấn (0,22 USD/tấn), trong khi hợp đồng tương lai than cốc tăng 13 NDT/tấn (1,91 USD/tấn).
Sự phục hồi này chủ yếu được thúc đẩy bởi sự phục hồi kỹ thuật, với phần lớn các tin tức tiêu cực đã được phản ánh vào giá. Các bên tham gia thị trường đã tích cực đóng các vị thế bán và chốt lời. Một thương nhân Trung Quốc chia sẻ: "Thị trường đã bị bán quá mức, vì vậy nhiều nhà đầu tư đã chọn chốt lời từ các vị thế bán của họ."
Các tín hiệu chính sách trong nước cũng củng cố tâm lý thị trường. Vào ngày 15 tháng 7, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cho biết họ sẽ tăng cường các điều chỉnh nghịch chu kỳ và xuyên chu kỳ để ứng phó với các điều kiện kinh tế và tài chính trong nước cũng như quốc tế, tập trung vào việc mở rộng nhu cầu nội địa, tối ưu hóa nguồn cung và củng cố động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tuyên bố này được coi là tín hiệu cho thấy các nhà chức trách sẽ tiếp tục theo đuổi lập trường chính sách hỗ trợ tập trung vào việc thúc đẩy nhu cầu nội địa, đặc biệt là trong bối cảnh các dữ liệu kinh tế gần đây của đất nước còn yếu và cuộc họp của Bộ Chính trị sắp diễn ra vào cuối tháng 7.
Theo Cục Thống kê Quốc gia (NBS), tăng trưởng GDP quý hai của Trung Quốc chậm lại còn 4,3% từ mức 5% trong quý một, đánh dấu tốc độ tăng trưởng yếu nhất kể từ quý bốn năm 2022 và thấp hơn mục tiêu của chính phủ là từ 4,5% đến 5%. Con số thấp của quý 2 đã làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm xuống còn 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, đầu tư vào tài sản cố định trong tháng 1-6 đã giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước, so với kỳ vọng của thị trường về mức giảm 4,9%, trong khi đầu tư bất động sản giảm 18%, cho thấy sự yếu kém kéo dài trong lĩnh vực bất động sản.
Trong khi đó, sản lượng công nghiệp tháng 6 tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, vượt dự báo 4,7% của thị trường, trong khi doanh số bán lẻ tăng 1% so với dự báo giảm 0,1%, điều này đã hỗ trợ phần nào cho tâm lý thị trường bất chấp sự suy giảm kinh tế trên diện rộng.
Kỳ vọng về việc cắt giảm sản xuất thép hơn nữa cũng hỗ trợ các hợp đồng tương lai, khi các bên tham gia thị trường cho biết nhiều nhà sản xuất thép Trung Quốc có khả năng sẽ giảm sản lượng trong bối cảnh thua lỗ kéo dài.
Tuy nhiên, dữ liệu chính thức từ NBS cho thấy một bức tranh hỗn hợp. Sản xuất thép thô của Trung Quốc tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước lên 83,67 triệu tấn trong tháng 6, trong khi sản lượng trong nửa đầu năm vẫn giảm 3% so với cùng kỳ xuống còn 499,95 triệu tấn.
Các yếu tố bên ngoài cũng góp phần vào sự phục hồi của các hợp đồng tương lai. Lạm phát tiêu dùng của Mỹ đã chậm lại còn 3,5% so với cùng kỳ trong tháng 6 từ mức 4,2% trong tháng 5, thấp hơn kỳ vọng 3,8% của thị trường, trong khi chỉ số CPI giảm 0,4%, đánh dấu mức giảm hàng tháng đầu tiên kể từ tháng 4 năm 2020. Lạm phát cơ bản cũng giảm xuống 2,6% từ 2,9%, cải thiện khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư bằng cách giảm bớt lo ngại về việc Cục Dự trữ Liên bang thắt chặt chính sách bổ sung. Đồng thời, căng thẳng mới ở Trung Đông đã đẩy giá năng lượng lên cao, củng cố sự hỗ trợ chi phí trên toàn bộ tổ hợp kim loại đen.
Các hợp đồng tương lai thép và nguyên liệu thô chính tại Trung Quốc
Tỷ giá: 1 USD = 6,791 NDT
Sản phẩm | Sàn giao dịch | Tháng giao hàng | Tiền tệ | Giá | Thay đổi (so với ngày trước đó) |
Thép thanh, 1625 mm | SHFE | Tháng 10 | NDT/tấn | 3.115 | +25 |
Thép thanh, 1625 mm | SHFE | Tháng 10 | USD/tấn | 458,7 | +3,68 |
HRC, 3.59.75 mm | SHFE | Tháng 10 | NDT/tấn | 3.327 | +25 |
HRC, 3.59.75 mm | SHFE | Tháng 10 | USD/tấn | 489,91 | +3,68 |
Quặng sắt, 62% Fe | DCE | Tháng 9 | NDT/tấn | 762 | +1,5 |
Quặng sắt, 62% Fe | DCE | Tháng 9 | USD/tấn | 112,21 | +0,22 |
Than cốc | DCE | Tháng 9 | NDT/tấn | 1.273 | +13 |
Than cốc | DCE | Tháng 9 | USD/tấn | 187,45 | +1,91 |
Thị trường nhập khẩu phế của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn dậm chân tại chỗ
Thị trường nhập khẩu phế liệu đường biển sâu (deep-sea) của Thổ Nhĩ Kỳ gần như không có hoạt động gì vào giữa tuần, do ngày lễ kỷ niệm Ngày Dân chủ và Thống nhất Quốc gia khiến mức độ giao dịch vốn đã hạn chế nay lại càng giảm sút hơn.
Vào thứ Tư, không có cuộc đàm phán hay đơn đặt hàng phế liệu đường biển sâu nào mới được báo cáo, do hầu hết các bên tham gia thị trường đều tạm dừng giao dịch vì kỳ nghỉ lễ. Một đại lý phế liệu chia sẻ: "Do kỳ nghỉ lễ ở Thổ Nhĩ Kỳ nên thị trường trầm lắng hơn. Thị trường thép thanh vẫn đang là vấn đề nan giải."
Các nhà sản xuất thép Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục ưu tiên mua phế liệu đường biển ngắn (short-sea) hơn là các lô hàng đường biển sâu, do bị thu hút bởi thời gian giao hàng nhanh hơn, giá thấp hơn và các điều khoản thanh toán linh hoạt hơn. Theo các bên tham gia thị trường, các giao dịch HMS 1&2 (80:20) từ Romania, Bulgaria, Ý, Libya và Hy Lạp được ghi nhận ở mức 340-345 USD/tấn CFR. Bằng cách tập trung vào các nhà cung cấp gần đó, các nhà máy cũng tìm cách trì hoãn việc mua hàng đường biển sâu và duy trì áp lực giảm giá đối với phế liệu nhập khẩu. Tuy nhiên, một số bên tham gia thị trường lưu ý rằng những căng thẳng mới tại Trung Đông đang tạo ra kỳ vọng rằng thị trường cuối cùng có thể sẽ phục hồi.
Do thiếu vắng các giao dịch đường biển sâu mới, đánh giá hàng ngày cho HMS 1&2 (80:20) từ Bờ Đông Hoa Kỳ vẫn giữ nguyên ở mức 369 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 15 tháng 7.
Xuất khẩu phôi thép và thép dài của Iran chịu áp lực do việc đóng cửa eo biển Hormuz
Thị trường thép Iran vẫn đang trong tình trạng bất ổn giữa bối cảnh căng thẳng khu vực tái diễn, tình trạng thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng và nhu cầu yếu, khiến hoạt động xuất khẩu ngày càng trở nên thách thức.
Các điều kiện giao dịch tại Iran lại xấu đi trong bối cảnh căng thẳng mới xung quanh eo biển Hormuz và sự leo thang hơn nữa giữa Mỹ và Iran. Một nguồn tin thị trường chia sẻ: "Eo biển lại bị đóng cửa, ngay cả đối với những con tàu muốn sử dụng tuyến đường của Iran, khi Mỹ tăng cường phong tỏa. Các con tàu đang bốc hàng hiện không được phép rời khỏi khu vực. Tình hình ngày càng tồi tệ hơn."
Trong bối cảnh đó, các chào giá xuất khẩu phôi thép của Iran chỉ được ghi nhận lẻ tẻ ở mức 405-410 USD/tấn FOB, với người mua tìm kiếm mức giá thấp hơn. Phôi thép có hàm lượng mangan cao hơn được định giá ở mức 415-420 USD/tấn FOB. Một số chào giá cho loại vật liệu này đã được báo cáo chuyển đến Oman.
Hoạt động kinh doanh trong phân khúc thép dài xuất khẩu cũng đang trầm lắng. Ngoài sự bất ổn về địa chính trị, các nhà sản xuất còn đang phải đối mặt với áp lực chi phí ngày càng tăng khi thép thanh được định giá gần như tương đương với phôi thép – ở mức 410-420 USD/tấn xuất xưởng (EXW).
Venus Najafi, một cố vấn thu mua thép độc lập và chuyên gia tư vấn thị trường thép, chia sẻ: "Sau các đợt bán phôi thép cuối cùng trên Sàn giao dịch hàng hóa Iran trong tuần này, nhiều nhà máy thép thanh phải đối mặt với biên lợi nhuận cực kỳ eo hẹp vì giá phôi thép và thép thanh hiện nay rất sát nhau. Mức chênh lệch thu hẹp này đang trở thành một trong những mối quan tâm chính trên thị trường thép dài Iran."
Áp lực bổ sung bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng năng lượng đang diễn ra, tiếp tục gây gián đoạn cho sản xuất nguyên liệu thô và sản xuất thép. Một nguồn tin am hiểu thị trường cho biết: "Một số nhà máy thậm chí phải dừng sản xuất 2-3 ngày mỗi tuần."
Nhập khẩu phôi phiến của Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục giảm trong khi sản lượng nội địa mở rộng
Các nhà sản xuất thép dẹt của Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục cắt giảm nhập khẩu phôi phiến (slab) trong năm tháng đầu năm 2026, mặc dù đà giảm so với cùng kỳ năm trước đã chậm lại trong tháng 5.
Theo Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ (TUIK), lượng nhập khẩu phôi phiến của nước này đạt gần 1,3 triệu tấn trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026, giảm 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 5, lượng nhập khẩu đạt 370.100 tấn, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nga duy trì vị thế là nhà cung cấp phôi phiến lớn nhất cho Thổ Nhĩ Kỳ mặc dù khối lượng giảm đáng kể. Lượng hàng từ quốc gia này giảm 25,9% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 698.100 tấn trong năm tháng đầu năm 2026, trong khi lượng giao hàng trong tháng 5 giảm 5,4% xuống còn 247.600 tấn. Nga chiếm 55,0% tổng lượng nhập khẩu phôi phiến của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn này.
Châu Á tiếp tục xếp hạng là khu vực cung cấp lớn thứ hai mặc dù khối lượng tổng thể thấp hơn đáng kể. Malaysia tiếp tục mất thị phần với lượng hàng giao giảm một nửa xuống còn 204.300 tấn, trong khi Việt Nam gần như tăng gấp đôi lượng hàng giao, củng cố thêm vị thế của mình tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ.
Algeria vẫn là nhà cung cấp chính tại khu vực MENA mặc dù xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm 23,3%, trong khi Libya đã gia nhập thị trường với 65.200 tấn sau khi không ghi nhận lượng giao hàng nào trong cùng kỳ năm trước. Kết quả là, khu vực MENA đã tăng tỷ trọng nhập khẩu phôi thép của Thổ Nhĩ Kỳ lên 18,5% từ mức 13,3%, phần lớn là nhờ sự sụt giảm từ khu vực châu Á, vốn đã giảm tỷ trọng đóng góp từ 29,9% xuống còn 26,0%.
Trong khi đó, sản lượng phôi thép nội địa tiếp tục mở rộng. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất thép Thổ Nhĩ Kỳ (TCUD), các nhà máy trong nước đã sản xuất 6,7 triệu tấn phôi thép trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh đó, lượng nhập khẩu phôi thép vẫn thấp hơn gần một phần tư so với mức của năm ngoái, làm nổi bật vai trò ngày càng tăng của sản xuất phôi thép nội địa trong việc đáp ứng nhu cầu bán thành phẩm của các nhà sản xuất thép dẹt.
Các nhà cung cấp phôi phiến chính cho Thổ Nhĩ Kỳ, đơn vị: 1.000 tấn
Quốc gia | Tháng 1-5/2026 | Tháng 1-5/2025 | Tăng trưởng (%) | Tháng 5/2026 | Tháng 5/2025 | Tăng trưởng (%) |
Nga | 698,1 | 942,6 | -25,9 | 247,6 | 261,6 | -5,4 |
Malaysia | 204,3 | 408,5 | -50 | 51,6 | 47,8 | +8,0 |
Algeria | 169,2 | 220,6 | -23,3 | 25,5 | 89,7 | -71,6 |
Việt Nam | 100,5 | 50,3 | +99,9 | – | – | – |
Libya | 65,2 | – | – | 45,3 | – | – |
Khác | 30,7 | 37,5 | -17,9 | 0,1 | – | – |
Tổng cộng | 1.268,10 | 1.659,40 | -23,6 | 370,1 | 399,1 | -7,3 |
Nguồn: TUIK.
Giá phôi phiến châu Á tiếp tục sụt giảm trong bối cảnh nhu cầu yếu
Giá phôi phiến châu Á vẫn chịu áp lực trong những tuần gần đây, do các yếu tố thời vụ bất lợi, tâm lý thận trọng của người mua và sự thiếu hụt thanh khoản chung trên toàn khu vực.
Khi mùa mưa bắt đầu tại một số quốc gia châu Á, mức tiêu thụ thép đã giảm đáng kể so với tháng trước, điều này ảnh hưởng đặc biệt đến giá phôi thép.
Các chào giá xuất khẩu phôi phiến của Trung Quốc được ghi nhận ở mức 470-488 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 9, giảm 12-20 USD/tấn so với đánh giá trước đó vào ngày 10 tháng 6. Tâm lý trên thị trường phôi thép Trung Quốc khá yếu, phản ánh xu hướng chung của thị trường thép rộng lớn hơn. Hoạt động xuất khẩu vẫn còn hạn chế với chỉ một vài giao dịch được hoàn tất, trong khi hầu hết người mua vẫn tiếp tục đứng ngoài thị trường để chờ đợi định hướng rõ ràng hơn. Một thương nhân địa phương chia sẻ: "Nhiều người mua thép đang tạm dừng lại vì nhu cầu chậm và thị trường đang trong quá trình điều chỉnh giảm."
Các nhà cung cấp Trung Quốc được báo cáo là đã chào bán phôi thép sang Đài Loan ở mức khoảng 480 USD/tấn CFR vào thứ Tư, trong khi người mua trả giá gần mức 470 USD/tấn CFR; cho đến nay vẫn chưa có giao dịch nào được ký kết.
Giá phôi phiến của Indonesia cũng sụt giảm. Dexin Steel được nghe là đang chào phôi thép ở mức khoảng 475 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 9, giảm 35 USD/tấn so với một tháng trước đó. Việc giảm giá này xuất phát từ lượng đơn hàng nhận được đối với cả thép cuộn cán nóng và phôi thép đều yếu. Một thương nhân địa phương lưu ý: "Đây là thời điểm trầm lắng của thị trường." Một số bên tham gia thị trường cho rằng SAIL của Ấn Độ có thể đang lên kế hoạch xuất khẩu 30.000 tấn phôi thép sang PT Krakatau Steel của Indonesia, trong khi một người trong cuộc khác cho rằng tin tức này có thể chỉ là "lời nói xã giao sau chuyến thăm của thủ tướng Ấn Độ tới Indonesia."
Bất chấp thị trường ảm đạm, gần đây đã có thông tin về một số giao dịch. Một nhà sản xuất Indonesia được báo cáo đã bán 30.000 tấn phôi phiến cho thị trường châu Âu ở mức 470 USD/tấn FOB trong tuần này.
Trong khi đó, một thỏa thuận cho khoảng 30.000 tấn phôi phiến Nhật Bản xuất sang Đông Nam Á được ghi nhận ở mức 535-540 USD/tấn CFR cho lô hàng giao vào cuối tháng 8, mặc dù giao dịch này vẫn chưa được xác nhận tính đến thời điểm xuất bản.
Trước đó, vào cuối tháng 6, một thỏa thuận cho 30.000 tấn phôi phiến từ Trung Quốc sang Indonesia được báo cáo ở mức 472 USD/tấn FOB.
Tại Việt Nam, phần lớn sản lượng phôi phiến tiếp tục được tiêu thụ nội bộ để sản xuất HRC, trong khi xuất khẩu phôi phiến vẫn còn hạn chế. Theo các bên tham gia thị trường, kế hoạch bảo trì của Tập đoàn Hòa Phát trong tháng 7 đã giúp giảm áp lực bán hàng nhờ cắt giảm khối lượng sản xuất.
Ngoài châu Á, các chào giá phôi phiến S235JR/A36 có xuất xứ từ châu Á gửi sang Ý được nghe ở mức 570-580 USD/tấn CFR, giảm 30-40 USD/tấn so với một tháng trước đó.
Các bên tham gia thị trường kỳ vọng hoạt động giao dịch sẽ vẫn trầm lắng, và bất kỳ sự phục hồi giá cả đáng kể nào hiện tại đều đã bị hoãn lại.
Giá phôi thép xuất khẩu châu Á biến động trái chiều, hoạt động cải thiện nhẹ
Giá phôi thép xuất khẩu của châu Á đã ghi nhận những biến động trái chiều kể từ cuối tuần trước, với sự quan tâm mua hàng từ các thương nhân có phần cải thiện nhẹ. Tuy nhiên, nhu cầu từ người dùng cuối tại Đông Nam Á vẫn ảm đạm do ảnh hưởng của yếu tố thời vụ, dẫn đến khoảng cách đáng kể giữa giá chào bán và giá trả mua.
Vào thứ Tư, các nhà máy Trung Quốc chào giá phôi thép 3sp ở mức 460-465 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 9, cao hơn một chút so với mức 455-465 USD/tấn FOB được báo cáo vào tuần trước. Đại diện một công ty thương mại châu Á nhận xét: "Các thương nhân đã đặt mua phôi thép ở mức 450-455 USD/tấn FOB trong tuần này." Trong những tuần trước đó, các thương nhân và người dùng cuối chủ yếu giữ tâm lý chờ đợi vì kỳ vọng giá sẽ tiếp tục giảm đã gây áp lực lên tâm lý mua hàng.
Dexin Steel của Indonesia đã giảm giá chào đối với phôi thép loại cơ bản 5 USD/tấn so với thứ Năm tuần trước, xuống còn 465 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 9, nhằm thu hút sự quan tâm mua hàng. Các mức giá chỉ dẫn của người mua được nghe ở quanh mức 455 USD/tấn FOB. Các nguồn tin thị trường cũng báo cáo về những tin đồn về một giao dịch ở mức 460 USD/tấn FOB, mặc dù chưa có giao dịch nào được xác nhận tính đến thời điểm xuất bản.
Tại Philippines, thị trường vẫn trầm lắng do mùa mưa và hoạt động xây dựng chậm chạp tiếp tục đè nặng lên nhu cầu. Người mua chỉ tập trung vào việc đáp ứng các nhu cầu ngay lập tức. Phôi thép 5sp của Trung Quốc được chào ở mức 485 USD/tấn CFR Manila, trong khi giá trả mua là 475 USD/tấn CFR.
Tại Đài Loan, phôi thép 3sp có xuất xứ từ Trung Quốc được chào ở mức 480-485 USD/tấn CFR, trong khi người tiêu dùng chỉ sẵn sàng trả thấp hơn khoảng 20 USD/tấn. Một thương nhân có trụ sở tại Trung Quốc cho biết: "Nhu cầu rất yếu. Người mua tại Đài Loan đang tìm cách mua ở mức 460-465 USD/tấn CFR."
Giá phế nhập khẩu tại Ấn Độ hạ nhiệt khi người mua tập trung vào các chủng loại giá rẻ hơn
Tuần này, giá các loại phế nhập khẩu chính tại Ấn Độ đã giảm nhẹ, trong khi người mua thể hiện sự quan tâm tương đối mạnh mẽ hơn đối với các chủng loại có mức giá thấp hơn.
Các chào giá cho HMS 1&2 (80:20) từ châu Âu, Vương quốc Anh và châu Phi được báo cáo ở mức 330-335 USD/tấn CFR, giảm so với mức 330-340 USD/tấn CFR của tuần trước. Một số nguồn tin thị trường báo cáo về một giao dịch đối với hàng có xuất xứ từ châu Phi ở mức 335 USD/tấn CFR vào đầu tuần này, nhưng đến cuối tuần vẫn chưa được xác nhận vì mức giá này bị coi là quá cao. Các chào giá cho phế cắt nhỏ (shredded scrap) từ châu Âu và Úc được nghe ở mức 375-385 USD/tấn CFR, so với mức 380-390 USD/tấn CFR một tuần trước đó.
Đà giảm của các mức giá chào vẫn còn hạn chế bất chấp nhu cầu yếu đối với các chủng loại truyền thống, do cước phí vận chuyển cao tiếp tục hỗ trợ giá. Một thương nhân quốc tế chia sẻ: "Có quá nhiều chào giá cho HMS và phế cắt nhỏ không đạt được tính khả thi."
Người mua đã thể hiện sự quan tâm lớn hơn đối với phế tiện (turnings), với các chào giá được báo cáo ở mức 300-305 USD/tấn CFR cho hàng từ Úc, EU và Vương quốc Anh, và 315 USD/tấn CFR cho phế liệu từ Malaysia. Cuối tuần trước, phế liệu tiện của Brazil được cho là có giá khoảng 290 USD/tấn CFR.
Tuần này, các giao dịch đối với phế tiện từ Úc, châu Âu và Israel đã được chốt trong khoảng 295-305 USD/tấn CFR.
Các bên tham gia thị trường cho biết người mua sẵn sàng chốt các giao dịch ở mức gần 300 USD/tấn CFR, đây là mốc giá duy trì mức tâm lý quan trọng trong suốt tháng qua. Theo đó, vào giữa tháng 6, phế liệu tiện từ Mỹ đã được đặt mua ở mức 305 USD/tấn CFR, trong khi các mức giá trả mua sau đó giảm xuống còn 300 USD/tấn CFR. Tuần trước, phế LMS từ châu Phi đã được giao dịch ở mức 290 USD/tấn CFR.
Nhu cầu đối với các loại phế khác vẫn đang ở mức trầm lắng do sự chậm lại theo mùa và nhu cầu thép yếu tại Ấn Độ cũng như các thị trường nhập khẩu quan trọng khác.
Các bên tham gia thị trường cũng thảo luận về các chào giá DRI từ Iran ở mức khoảng 215 USD/tấn CFR, mặc dù thông tin này vẫn chưa thể xác nhận cho đến thời điểm hiện tại. Việc nhập khẩu từ Iran vẫn gặp khó khăn trong bối cảnh xung đột đang diễn ra ở Trung Đông.
Quặng sắt nhích nhẹ nhờ tâm lý thị trường được cải thiện
Giá quặng sắt tăng nhẹ vào thứ Tư khi thị trường vật chất theo đà tăng của các hợp đồng tương lai, đồng thời các tín hiệu chính sách mới từ Trung Quốc, sự đầu cơ về các gói hỗ trợ kinh tế có thể xảy ra và bối cảnh kinh tế bên ngoài được cải thiện đã củng cố tâm lý thị trường.
Quặng sắt mịn 62% Fe của Úc tăng 0,25 USD/tấn lên 100,75 USD/tấn CFR, trong khi giá hợp đồng tương lai tăng 0,2 USD/tấn trên sàn DCE và tăng 0,4 USD/tấn trên sàn SGX trong ngày.
Thị trường quặng sắt vật chất đã theo đà phục hồi kỹ thuật của các hợp đồng tương lai sau khi giá giảm xuống mức thấp gần đây và phần lớn các tin tức tiêu cực đã được phản ánh vào giá. Các hợp đồng tương lai phục hồi chủ yếu do các nhà đầu tư đóng các vị thế bán và chốt lời, tạo ra sự hỗ trợ nhất định cho các chào giá giao ngay và tín hiệu mua vào.
Tâm lý thị trường cũng được hỗ trợ bởi các tín hiệu chính sách mới từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC). Vào ngày 15 tháng 7, ngân hàng trung ương cho biết họ sẽ tăng cường các điều chỉnh nghịch chu kỳ và xuyên chu kỳ để ứng phó với các điều kiện kinh tế, tài chính trong nước và quốc tế, tập trung vào việc mở rộng nhu cầu nội địa, tối ưu hóa nguồn cung và củng cố động lực tăng trưởng kinh tế. Tuyên bố này củng cố kỳ vọng rằng các nhà chức trách sẽ duy trì lập trường chính sách hỗ trợ, trong khi cuộc họp của Bộ Chính trị vào cuối tháng 7 đã thúc đẩy suy đoán thị trường rằng Bắc Kinh có thể giới thiệu thêm các biện pháp hỗ trợ bổ sung.
Tuy nhiên, việc thu mua vật chất đã chững lại một chút so với ngày 14 tháng 7. Khối lượng giao dịch tại các cảng của Trung Quốc giảm, lấn át sự cải thiện trên thị trường đường biển và hạn chế đà tăng của giá chuẩn.
Dữ liệu kinh tế vĩ mô của Trung Quốc là một yếu tố hạn chế khác. Tăng trưởng GDP quý hai chậm lại còn 4,3% so với cùng kỳ năm trước từ mức 5% trong quý đầu tiên, tốc độ yếu nhất kể từ quý bốn năm 2022, trong khi đầu tư vào tài sản cố định giảm 5,7% so với cùng kỳ trong giai đoạn tháng 1-6 và đầu tư bất động sản giảm 18%. Mặc dù sản lượng công nghiệp tháng 6 tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn dự báo 4,7%, và doanh số bán lẻ tăng 1% so với dự báo giảm 0,1%, những con số này đã không thể bù đắp những lo ngại về nhu cầu nội địa yếu và sự suy thoái kéo dài của ngành bất động sản.
Kỳ vọng về việc cắt giảm sản xuất hơn nữa ở các nhà sản xuất thép Trung Quốc đang thua lỗ cũng tiếp tục gây áp lực lên triển vọng tiêu thụ quặng sắt.
Dẫu vậy, theo Cục Thống kê Quốc gia (NBS), sản lượng thép thô vẫn tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước lên 83,67 triệu tấn trong tháng 6, trong khi sản lượng trong nửa đầu năm 2026 giảm 3% xuống còn 499,95 triệu tấn.
Trong khi đó, lạm phát tại Mỹ thấp hơn dự kiến đã cải thiện tâm lý rủi ro trên diện rộng. Lạm phát tiêu dùng chậm lại còn 3,5% so với cùng kỳ trong tháng 6 từ mức 4,2% trong tháng 5, thấp hơn dự báo 3,8%, trong khi CPI hàng tháng giảm 0,4%.
Trung Quốc: Các giao dịch quặng sắt, USD/tấn
Sản phẩm | Fe, % | Phương thức bán | Khối lượng, tấn | Thời gian giao hàng | Giá, CFR Thanh Đảo | Giá, FOB |
Newman fines, Úc | 60,7 | COREX | 90.000 | 1120 tháng 8 | 98,7 | 85,7 |
China Steel Corporation (CSC) của Đài Loan cắt giảm giá thép dẹt nội địa tháng thứ hai liên tiếp
Theo thông báo mới nhất từ China Steel Corporation (CSC) của Đài Loan, công ty đã giảm giá nội địa đối với các sản phẩm HRC, thép tấm, CRC và HDG thêm 800 TWD/tấn (25 USD/tấn) cho các đơn hàng giao trong tháng 8. Việc cắt giảm này đánh dấu tháng thứ hai liên tiếp giá thép bị hạ, sau chuỗi tăng giá kéo dài từ 5 đến 6 tháng trước đó. CSC cho rằng quyết định này xuất phát từ các yếu tố cơ bản của thị trường suy yếu trong bối cảnh nhu cầu thép tại Trung Quốc và khu vực châu Á sụt giảm, cùng với đó là giá quặng sắt thấp hơn. Theo dữ liệu của CSC, giá quặng sắt đã biến động trong khoảng 98-100 USD/tấn CFR Trung Quốc so với mức trên 100 USD/tấn CFR của tháng trước. Công ty cũng lưu ý rằng chế độ hạn ngạch nhập khẩu thép chặt chẽ hơn của EU đã làm giảm khối lượng nhập khẩu miễn thuế đối với các nhà bán hàng châu Á, dẫn đến tình trạng dư cung trong khu vực và các thị trường xuất khẩu khác.
Thị trường thép tấm tại Đức vẫn trầm lắng trong bối cảnh nhu cầu yếu
Tình trạng trầm lắng trên thị trường thép tấm tại Đức vẫn tiếp diễn giữa bối cảnh nhu cầu liên tục yếu và hoạt động giao dịch hạn chế.
Tuần này, giá chào từ các nhà sản xuất nội địa được báo cáo ở mức lên tới 820-850 EUR/tấn xuất xưởng (EXW), tùy thuộc vào nhà cung cấp và khối lượng đơn hàng, mức giá này nhìn chung ổn định trong hai tuần qua. Đồng thời, các nguồn tin ước tính giá giao dịch đối với thép tấm cấp S235JR cho đợt giao hàng tháng 8-tháng 9 ở mức 800-820 EUR/tấn EXW, so với mức 800-840 EUR/tấn EXW được báo cáo hai tuần trước.
Hoạt động kinh doanh trên thị trường thép tấm tại Đức được mô tả là rất ảm đạm. Hơn nữa, các nhà máy hầu như không chốt được đơn hàng thương phẩm nào, chủ yếu tập trung vào các dự án đòi hỏi những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Một nguồn tin địa phương chia sẻ: "Các trung tâm dịch vụ thép đang gặp khó khăn vì nhu cầu của người dùng cuối ở mức thấp. Do đó, hoạt động bổ sung hàng tồn kho cũng ở mức thấp."
Giá thép tấm S235JR của Ý cho đợt giao hàng tháng 9 được nghe ở mức 720-740 EUR/tấn cơ sở EXW, tương đương khoảng 780-800 EUR/tấn giao đến miền Nam nước Đức và khoảng 810-830 EUR/tấn giao đến khu vực Ruhr, giảm 10 EUR/tấn so với hai tuần trước.
Khoảng giá thép dây tại Ý nới rộng trong bối cảnh chiến lược khác biệt của các nhà máy
Thị trường thép dây (wire rod) tại Ý thể hiện bức tranh trái chiều vào giữa tháng 7, khi các nhà máy theo đuổi những chiến lược định giá khác nhau. Trong khi một số nhà sản xuất vẫn giữ vững các mức chào giá và kiên quyết không nhượng bộ, thì số khác lại cho thấy sự linh hoạt hơn và đồng ý giảm giá, gây áp lực lên mặt bằng giá chung.
Tuần này, các mức giá giao dịch thực tế trên thị trường nội địa đối với thép dây chất lượng kéo sợi (5,5 mm) được báo cáo ở mức 680-690 EUR/tấn DAP (670-680 EUR/tấn EXW) cho các đơn hàng khối lượng lớn và 690-700 EUR/tấn DAP (680-690 EUR/tấn EXW) cho các đơn hàng khối lượng nhỏ. Mức giá cận dưới của các khoảng giá này đã giảm 5 EUR/tấn so với hai tuần trước. Trong khi đó, giá giao dịch thực tế đối với thép dây chất lượng làm lưới dao động ở mức 660-670 EUR/tấn DAP (650-660 EUR/tấn EXW), với khoảng giá nới rộng thêm 10 EUR/tấn trong cùng kỳ.
Hoạt động kinh doanh trên thị trường thép dây nội địa vẫn khá trì trệ, thúc đẩy một số nhà máy thực hiện các biện pháp giảm giá hạn chế. Tuy nhiên, nhìn chung các nhà sản xuất vẫn đang cố gắng duy trì mức giá ổn định và tỏ ra ngần ngại trong việc giảm giá đáng kể đối với các đơn hàng có khối lượng vừa và nhỏ. Một nhà sản xuất địa phương bình luận: "Các khách hàng lớn đang ép các nhà máy phải đưa ra mức giá khoảng 670 EUR/tấn DAP cho khối lượng lớn, nhưng chúng tôi đang nỗ lực hết sức để không giảm giá chào."
Đồng thời, những người trong cuộc không kỳ vọng bất kỳ thay đổi đáng kể nào trên thị trường trước khi kỳ nghỉ hè kết thúc.
"Chúng tôi kỳ vọng giá cả sẽ duy trì tương đối ổn định khi ngày càng có nhiều khách hàng chuẩn bị cho kỳ nghỉ của họ và hạn chế đặt hàng," một nguồn tin khác bình luận.
Giá thép thanh tại Ba Lan sụt giảm trong bối cảnh nhu cầu yếu
Giá thép thanh tại Ba Lan đã suy yếu thêm vào giữa tháng 7 do nhu cầu thấp hơn đáng kể so với tháng trước. Mặc dù gần đây không có chào giá nhập khẩu mới nào được báo cáo, nhưng sự vắng bóng này có rất ít tác động đến thị trường.
Tuần này, các nhà máy Ba Lan tiếp tục chào giá thép thanh BST500 kích thước 12-32 mm ở mức khoảng 2.700 PLN/tấn CPT (tương đương 622 EUR/tấn CPT, với tỷ giá 1 EUR = 4,34 PLN), giảm so với mức 2.850 PLN/tấn CPT (tương đương 673 EUR/tấn CPT, với tỷ giá 1 EUR = 4,23 PLN) cách đây hai tuần. Nhu cầu yếu hơn và hoạt động mua hàng hạn chế tiếp tục gây áp lực lên thị trường.
Không có chào giá nhập khẩu mới nào được ghi nhận trong những tuần gần đây, nhưng việc thiếu hụt hàng nhập khẩu đã không thể cải thiện tâm lý thị trường, do nhu cầu yếu tiếp tục đè nặng lên giá cả. Giá thép thanh tại các kho hàng cũng đã giảm xuống mức 2.720-2.760 PLN/tấn CPT (tương đương 626-635 EUR/tấn CPT), so với mức 2.780-2.830 PLN/tấn CPT (tương đương 657-669 EUR/tấn CPT) cách đây hai tuần, mặc dù hoạt động giao dịch vẫn còn hạn chế.
Các bên tham gia thị trường kỳ vọng tâm lý sẽ cải thiện vào tháng 8-tháng 9. Một nguồn tin thị trường chia sẻ: "Điểm tích cực duy nhất là trong vòng một hoặc hai tháng tới, mọi người sẽ không còn hàng tồn kho mua ở mức giá 2.720 PLN/tấn CPT hoặc cao hơn nữa. Khi đó, thị trường sẽ cần phải quay trở lại mức khoảng 2.800 PLN/tấn CPT". Sự phục hồi như vậy được coi là khả thi với điều kiện các nhà máy không công bố thêm một đợt cắt giảm giá mới, điều mà hầu hết các bên tham gia thị trường hiện nay cho là khó xảy ra.



















