TỔNG HỢP THỊ TRƯỜNG TUẦN 28 (13/07-18/07)
I/MẢNG KẾT CẤU
Đầu tuần, giá kết cấu tiếp tục giảm nhẹ 100đ/kg so với cuối tuần trước; sang giữa và cuối tuần, giá giảm thêm một nhịp 100đ/kg nữa, nâng tổng mức giảm trong tuần lên khoảng 200đ/kg. Điểm đáng chú ý của đợt giảm lần này là mức giá mới được thể hiện trực tiếp trên bảng giá niêm yết, không còn tình trạng treo bảng cao, bán thấp như những tuần trước. Một số đơn vị tuần trước vẫn cố giữ giá thì nay cũng đã chịu áp lực phải giảm theo; riêng nhóm đại lý lớn ghi nhận mức giảm giao dịch thực tế lên tới khoảng 200đ/kg.
Áp lực giá đi xuống, cộng với tâm lý e ngại xuống tiền do lượng hàng tồn nhập khẩu hồi tháng 5 giá cao vẫn còn, đã khiến thị trường xuất hiện tình trạng thiếu hàng cục bộ ở một số quy cách khổ, độ dày và mác thép. Đáng chú ý nhất là tình trạng thiếu hụt mác A572 - loại chuyên phục vụ tiêu thụ nội địa: nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc trước đó đã được bao tiêu hết và nguồn nhập đã bị chặn, trong khi hàng Ấn Độ và Indonesia chủ yếu là hàng đặt trước, hàng dự trù khá hạn chế nên rất khó tìm được hàng giao ngay. Về phía sản xuất trong nước, mức extra cho mác A572 lại bị đánh giá là quá cao nên các đơn vị không có động lực về lợi nhuận để chào bán.
Tuần này, thị trường ghi nhận một tàu hàng kết cấu từ Ấn Độ, khối lượng khoảng 15.000 tấn, cập cảng phía Nam, nhưng đã được tiêu thụ hơn một nửa chỉ trong chưa đầy một tuần - minh chứng rõ nét cho tình trạng thiếu hụt cục bộ nêu trên, dù mặt bằng giá chung của thị trường vẫn đang ở vùng thấp. Thị trường cũng đang lan truyền thông tin về một tàu khác, khối lượng khoảng 20.000 tấn hàng kết cấu, dự kiến sẽ bổ sung nguồn cung cho tháng 8 trước bối cảnh thiếu hàng cục bộ này.
Trước áp lực nhu cầu như vậy, dự báo trong thời gian tới sẽ xuất hiện nhiều hơn các đơn đặt hàng nhắm đúng quy cách và mác thép phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường, mặc dù tình hình tài chính của một số đơn vị phân phối vẫn được đánh giá là gặp nhiều khó khăn, thua lỗ.
Về cuối tuần, thông tin giảm giá thêm từ bảng giá chung đã kéo mặt bằng thị trường xuống vùng 15.300đ/kg tham chiếu. Dù giá đã ở mức thấp, thị trường lại thiếu đi sự đa dạng về quy cách hàng hóa; nhu cầu xoay vòng nguồn hàng để đáp ứng thị trường được đánh giá sẽ tiếp tục diễn ra, trong khi một số mặt hàng như mác A572 gần như không còn hàng dù nhu cầu vẫn hiện hữu.
II/ MẢNG TÔN – ỐNG
Về thông tin của nhà cung cấp FHS, sau đợt giảm giá thêm hồi tuần trước, lượng đặt hàng chốt đã đạt mức tối đa - điều dễ hiểu khi mức chiết khấu sâu lần này để thu hút cho nhóm khách hàng sản xuất tôn mạ cán lại . Một số đơn vị muốn mua thêm nhưng đã bị cắt giảm lượng phân bổ: chỉ những khách hàng mua đều đặn mới được đảm bảo đủ hàng. Tổng lượng đặt hàng cho nhịp tháng này đã đạt mức tối đa khoảng 330.000 tấn. Điểm phàn nàn duy nhất vẫn là thời gian giao hàng của FHS còn khá xa so với kỳ vọng của khách hàng.
Nhìn vào diễn biến giá chào Indonesia và Ấn Độ hiện đang dao động trong biên hẹp quanh 520 USD/tấn, nhiều khả năng nhà cung cấp nội địa có thể sẽ giữ giá trong tháng tới. Đáng chú ý, tuần này một nhà sản xuất tôn mạ lớn trong nước đã chốt lô hàng khoảng 30.000 tấn HRC từ Dexin (Indonesia) với giá 517 USD/tấn, giao hàng cuối tháng 8 - mức giá được đánh giá khá hợp lý nhờ khoảng cách địa lý gần và thời gian giao hàng nhanh. Bên cạnh đó, thị trường cũng ghi nhận thêm một lô hàng lớn khác đã được chốt cho khu vực phía Bắc.
Đáng lưu ý, hàng CRC khổ trên 1m6 dạng né thuế đang về Việt Nam ngày càng nhiều trong những tháng gần đây, cho thấy đây vẫn là mặt hàng có biên lợi nhuận tốt với người kinh doanh. Giá CRC hiện dao động khoảng 550-570 USD/tấn cho khổ dày 1,0-1,19mm. Loại hàng này có thể dùng để cán tôn tiếp hoặc xẻ băng làm ống, chặt tờ sử dụng ngay, và nhiều khả năng các nhà tôn mạ - đặc biệt nhóm tập trung xuất khẩu sang Đông Nam Á - sẽ không ngại sử dụng nguồn này nhiều hơn trong thời gian tới.
Về tồn kho, lượng hàng tại cảng hiện đã vơi đi đáng kể: tính riêng 3 cảng lớn tại TPHCM, tồn kho HRC tổng thể hiện không tới mức trung bình 60.000 tấn, giảm khoảng 30% so với tồn kho trung bình của tháng trước. Xu hướng mua bán tấp nập khiến các đơn vị ưu tiên kéo hàng về kho bãi riêng thay vì giữ hàng tại cảng, do bài toán tài chính tại kho bãi tốt hơn. Đặc biệt tại cảng chuyên nhận hàng nhập khẩu, tồn kho trung bình chỉ còn khoảng 10.000 tấn.
III/ THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT QUỐC TẾ
Trung Quốc
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) xuất khẩu của Trung Quốc tiếp tục xu hướng nhích lên trong hai phiên gần nhất theo ghi nhận thị trường: từ mức 483 USD/tấn FOB (nhà máy tư nhân chào từ 486 USD/tấn trở lên), sang giữa tuần giá FOB tăng thêm 2 USD/tấn lên 485 USD/tấn; một số nhà máy tư nhân miền Bắc còn nâng giá khả thi cho HRC mác Q235/Q195 lên 487-490 USD/tấn FOB, bám sát đà tăng của thị trường nội địa.
Động lực chính của đợt tăng đến từ phía nguyên liệu và chính sách vĩ mô: giá quặng sắt tương lai tại Đại Liên tăng khoảng 1,8% do lo ngại nguồn cung một số loại quặng sẽ giảm từ 15/7 sau khi đàm phán giá không thành công, cộng thêm rủi ro cước vận tải biển tăng trở lại vì căng thẳng Mỹ-Iran leo thang; Metal Expert cũng ghi nhận giá quặng sắt 62% Fe Australia (CFR Trung Quốc) tăng nhẹ 0,25 USD lên 100,75 USD/tấn. Bên cạnh đó, hợp đồng tương lai thép và nguyên liệu tại Trung Quốc đồng loạt phục hồi kỹ thuật sau khi phần lớn tin xấu đã phản ánh vào giá, cùng tín hiệu từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) ngày 15/7 về việc tăng cường điều chỉnh phản chu kỳ để hỗ trợ tăng trưởng, trong bối cảnh GDP quý II của Trung Quốc chỉ tăng 4,3% - mức thấp nhất kể từ quý IV/2022.
Đáng chú ý, sản lượng thép thô tháng 6 của Trung Quốc lần đầu tăng trở lại sau 14 tháng (+0,4% so với cùng kỳ, lên 83,67 triệu tấn), chủ yếu nhờ lượng xuất khẩu tháng 5 và tháng 6 đều vượt 10 triệu tấn/tháng; tuy nhiên lũy kế xuất khẩu thép thành phẩm 6 tháng đầu năm vẫn giảm 5,6% so với cùng kỳ, xuống 54,874 triệu tấn, do rào cản thương mại gia tăng.
Indonesia
Nguồn cung Indonesia tiếp tục là yếu tố cạnh tranh sát sườn nhất với hàng nội địa Việt Nam ở phân khúc HRC thông dụng. Giá chào SAE1006 từ các công ty thương mại Indonesia sang Việt Nam giữ ổn định quanh 518-520 USD/tấn CFR, trong khi giá chào trực tiếp từ nhà máy lại cao hơn đáng kể, ở mức 530-531 USD/tấn CFR - cho thấy khoảng cách giữa giá bán qua trung gian thương mại và giá chào trực tiếp từ nhà máy đang nới rộng khi nhà máy giữ giá cứng hơn thị trường giao ngay. Riêng slab của Dexin Steel chào bán khoảng 475 USD/tấn FOB cho giao hàng tháng 9, giảm tới 35 USD/tấn so với một tháng trước, phản ánh sức đặt hàng yếu ở cả mảng HRC lẫn slab.
Là nguồn nhập khẩu cạnh tranh trực tiếp nhất với hàng nội địa, động thái giảm giá bán của nhà máy Việt Nam cho khách hàng lớn tuần này đã buộc các thương nhân Indonesia phải neo giá chào ở mức thấp để giữ tính cạnh tranh; trong khi đó giá thầu mua thực tế tại thị trường Việt Nam đã giảm xuống thấp hơn cả mức chào này, cho thấy áp lực giảm giá đang lan tỏa hai chiều giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu.
Đài Loan
Trong bối cảnh trên, China Steel Corporation (CSC) - nhà sản xuất thép dẹt lớn nhất Đài Loan - đã công bố giảm giá bán nội địa cho HRC, thép tấm, CRC và HDG thêm 800 Đài tệ/tấn (~25 USD/tấn) cho các đơn giao tháng 8, đánh dấu tháng giảm giá thứ hai liên tiếp sau chuỗi tăng giá kéo dài 5-6 tháng trước đó. CSC cho biết nguyên nhân đến từ nhu cầu yếu tại Trung Quốc và khu vực châu Á, giá quặng sắt giảm (dao động 98-100 USD/tấn CFR so với trên 100 USD/tấn tháng trước), cùng việc EU siết hạn ngạch nhập khẩu miễn thuế khiến lượng hàng châu Á không xuất được sang EU quay lại gây dư cung cho khu vực và các thị trường xuất khẩu khác - yếu tố cũng đang tác động trực tiếp lên thị trường Việt Nam.
IV/ BẢNG GIÁ GIAO DỊCH NỘI ĐỊA – GIÁ CHÀO THAM KHẢO
Nhóm hàng | Chủng loại / mác | Quy cách / nguồn hàng | Đơn vị | Giá tuần này | Xu hướng giá tuần |
HRC nội địa | SS400 | Hàng Hòa Phát qua đại lý phân phối | vnđ/kg | 15.400-15.700 | Giảm 100đ, giao dịch chậm |
HRC nội địa | SS400 /Q235 | Khổ 2m/1m5 nhập khẩu | vnđ/kg | 15.200 – 15.400 | Giảm 100đ, thiếu qui cách |
HRC nhập khẩu | HRC Trung Quốc | Chào FOB | USD/tấn | 486-496 | Giữ giá |
HRC nhập khẩu | HRC Indonesia | Chào CFR giao tháng 8-9 | USD/tấn | 516-523 | Giảm 3$, xu hướng tăng lại |
HRC nhập khẩu | HRC India | Giao T8, chào CIF | USD/tấn | 520-523 | Giữ giá |
V/ BẢNG THEO DÕI GIÁ NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO
Ngày | Quặng sắt 62% Fe CFR China ex-Australia | Than luyện cốc Australia FOB | Phế HMS 80:20 CFR Turkey ex-USA | Phế shredded CFR Turkey ex-USA |
10/07 | 99.50 USD/tấn | 239.00 USD/tấn | 371 USD/tấn | 391 USD/tấn |
13/07 | 99.00 USD/tấn | 231.00 USD/tấn | 370 USD/tấn | 390 USD/tấn |
14/07 | 100.50 USD/tấn | 231.00 USD/tấn | 369 USD/tấn | 389 USD/tấn |
15/07 | 100.75 USD/tấn | 231.00 USD/tấn | 369 USD/tấn | 389 USD/tấn |
VI/ DỰ BÁO DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG
Mảng kết cấu nhiều khả năng sẽ giữ giá trong tuần tới, với vùng đáy hiện tại được xác lập quanh 15.300đ/kg. Giá chào xuất khẩu đang giữ ở mức 520 USD/tấn; với nhu cầu hiện tại, nếu giá hạ nhẹ thêm về vùng 515 USD/tấn, khả năng cao sẽ thu hút thêm nhiều bên tôn mạ đặt hàng - đây là yếu tố cần tiếp tục theo dõi sát trong 1-2 tuần tới. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt cục bộ một số quy cách/mác (đặc biệt A572) nhiều khả năng sẽ tiếp tục thúc đẩy các đơn đặt hàng theo đúng nhu cầu thị trường, kể cả khi mặt bằng giá chung vẫn ở vùng thấp.
Với mảng tôn-ống, trước bối cảnh thị trường đang ở trạng thái tương đối cân bằng - giá Indonesia/Ấn Độ dao động biên hẹp quanh 520 USD/tấn, tồn kho cảng giảm mạnh, và FHS đã chốt lượng đặt hàng ở mức tối đa - nhiều khả năng giá chào HRC tháng tới sẽ được các nhà sản xuất giữ nguyên. Tuy vậy, diễn biến thực tế sẽ còn phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, bán hàng của các nhà sản xuất nội địa trong 2 tuần tới, đặc biệt là cách FHS và Hòa Phát phản ứng trước xu hướng hàng CRFH né thuế ngày càng nhiều và nguồn cung Indonesia (Dexin) tiếp tục cạnh tranh sát giá nội địa.
VI/ HÀNG CẬP CẢNG TUẦN 28
Mặt hàng | Tổng cộng |
CÂY | 1061.409 |
TẤM | 5836.938 |
KHÔNG GỈ | 36.084 |
HÌNH | 1799.564 |
TÔN BĂNG | 5936.8 |
TÔN NÓNG | 46105.532 |
SẮT KHOANH | 4085.174 |
NGUỘI | 22939.353 |
MẠ | 1318.147 |
ỐNG | 768.599 |
TỔNG CỘNG | 89887.6 |











