Thị trường thép Trung Quốc phiên ngày 16 tháng 7 ghi nhận trạng thái giao dịch đi ngang và có phần hạ nhiệt sau chuỗi ngày phục hồi kỹ thuật. Trên sàn giao dịch, giá thép kỳ hạn bước vào giai đoạn điều chỉnh trong biên độ hẹp để tiêu hóa mức tăng trước đó. Mặc dù áp lực từ nguồn cung thắt chặt do các nhà máy bảo trì lò cao và lực nâng đỡ từ chi phí nguyên liệu vẫn hiện hữu, thực tế tiêu thụ suy yếu trong mùa thấp điểm (thời tiết nắng nóng kéo dài và mưa bão) đã kìm hãm đà tăng của thị trường giao ngay, khiến khối lượng giao dịch toàn quốc sụt giảm rõ rệt.
Thị trường thép trong nước
Thép xây dựng
Thép thanh vằn (Rebar): Giá giao ngay tại các thành phố trọng điểm chủ yếu vận hành ổn định. Cụ thể, mác thép HRB400E quy cách chủ đạo giữ nguyên tại Bắc Kinh (3.070 Nhân dân tệ/tấn), Hàng Châu (3.100 Nhân dân tệ/tấn), Quảng Châu (3.040 Nhân dân tệ/tấn). Thị trường ghi nhận mức tăng nhẹ 10 Nhân dân tệ/tấn tại Vũ Hán (lên mức 3.050 Nhân dân tệ/tấn) và Thành Đô (lên mức 3.040 Nhân dân tệ/tấn) dưới lực đẩy giữ giá từ nhà máy. Tại Thượng Hải, giá xuất kho giữ ổn định ở mức 3.060 Nhân dân tệ/tấn. Trên sàn SHFE, hợp đồng thép vằn chủ lực tháng 10 đóng cửa ở mức 3.115 Nhân dân tệ/tấn, tăng nhẹ 8 điểm.
Phôi thép và thép hình: Giá phôi vuông xuất xưởng Đường Sơn đi ngang ở mức 2.990 Nhân dân tệ/tấn. Giá các mặt hàng thép hình tại Đường Sơn ổn định toàn tuyến với thép góc đạt .3260 Nhân dân tệ/tấn, thép hình U đạt 3.260 Nhân dân tệ/tấn, thép hình I đạt 3.290 Nhân dân tệ/tấn và thép hình H đạt 3.380 Nhân dân tệ/tấn.
Khối lượng giao dịch: Lượng xuất hàng vật liệu xây dựng toàn quốc từ 224 doanh nghiệp mẫu đạt 90.700 tấn, giảm mạnh so với mức 103.200 tấn của ngày trước đó do tâm lý thận trọng, hạ nguồn chủ yếu mua sắm theo nhu cầu thiết yếu.
Thép công nghiệp
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao ngay bình quân tại 10 thành phố trọng điểm đối với quy cách 5.51500C giảm nhẹ 1 Nhân dân tệ/tấn xuống mức 3.307 Nhân dân tệ/tấn. Tại kho Thượng Hải, giá giữ nguyên ở mức 3.330 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng HRC chủ lực tháng 10 trên sàn Thượng Hải tăng 0,15%, chốt phiên tại 3.324 Nhân dân tệ/tấn. Khối lượng xuất hàng của các đại lý lớn tại 18 thành phố đạt 49.520 tấn, giảm 4.120 tấn so với phiên trước.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá bình quân toàn quốc của cuộn cán nguội 1.0mm đi ngang ở mức 3.751 Nhân dân tệ/tấn. Giá tại các thị trường Thượng Hải (3.710 Nhân dân tệ/tấn), Quảng Châu (3.730 Nhân dân tệ/tấn) và Thiên Tân (3.650 Nhân dân tệ/tấn) đồng loạt niêm yết bằng phẳng. Giá nguyên liệu nền cán nguội Đường Sơn giữ ổn định ở mức 3.240 Nhân dân tệ/tấn.
Tôn mạ (HDG) & Thép sơn màu: Giá bình quân tấm mạ kẽm 1.0mm duy trì ở mức 4.091 Nhân dân tệ/tấn; tấm mạ màu 0.47mm giảm 15 Nhân dân tệ/tấn xuống còn 5.401 Nhân dân tệ/tấn do áp lực tiêu thụ hàng tồn kho tăng. Các nhà máy tư nhân tiếp tục giữ vững giá xuất xưởng.
Phôi ống thép cán nóng 20#: Vận hành phân hóa. Giá phôi ống tại Lâm Nghi tăng 20 Nhân dân tệ/tấn lên mức 3.440 Nhân dân tệ/tấn; Tân Thiên Gang và Thường Châu Đông Phương giữ giá ổn định lần lượt ở mức 3.280 Nhân dân tệ/tấn và 3.520 Nhân dân tệ/tấn.
Thị trường xuất khẩu
Thép thanh vằn (Rebar): Chỉ số giá xuất khẩu FOB Trung Quốc duy trì ổn định ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Nhà máy miền Bắc Trung Quốc tăng giá chào xuất khẩu mác B500B thêm 1 USD lên mức 485 USD/tấn FOB; mác HRB400 đạt 475 USD/tấn FOB và cuộn gân HRB400 đạt 521 USD/tấn FOB.
Thép cuộn trơn: Chỉ số xuất khẩu FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 497 USD/tấn. Một nhà máy miền Bắc nâng chào giá thêm 3 USD lên mức 509 USD/tấn FOB, trong khi phạm vi chào giá chủ lưu của các nhà máy dao động quanh mức 505 - 510 USD/tấn FOB. Chào giá từ Indonesia cạnh tranh ở mức thấp là 485 USD/tấn FOB.
Phôi thép (Billet): Các nhà cung cấp Trung Quốc chào giá xuất khẩu phôi 3sp trong khoảng 460 - 465 USD/tấn FOB cho kỳ hạn giao tháng 9. Nhà máy Indonesia duy trì chào giá ở mức 465 USD/tấn FOB.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống còn 485 USD/tấn FOB do nhu cầu từ thị trường đường biển chững lại. Các nhà máy nhỏ và công ty thương mại hạ giá mác Q235 và SS400 xuống khoảng 480 - 485 USD/tấn FOB.
Tôn mạ kẽm (HDG): Chào giá xuất khẩu cuộn mạ kẽm mác SGCC đạt mức 557 USD/tấn FOB.
Triển vọng thị trường
Cung ứng và tồn kho: Dữ liệu từ Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) trong 10 ngày đầu tháng 7 cho thấy sản lượng thép thành phẩm giảm mạnh 15.2% so với kỳ trước do các nhà máy tập trung bảo trì dây chuyền cán để hạn chế thua lỗ, trong khi sản lượng thép thô và gang chỉ giảm nhẹ lần lượt 0.1% và 1.8%. Trạng thái mùa thấp điểm khiến tốc độ suy giảm nhu cầu vượt xa tốc độ co hẹp cung ứng, dẫn đến tồn kho tại các nhà máy tăng ngược chiều 3% (tích lũy thêm 490.000 tấn) lên mức 16,77 triệu tấn, tạo áp lực cao đè nặng lên thị trường. Kế hoạch bảo trì lò cao tại Đường Sơn (15 - 30/7) dự kiến làm giảm sản lượng gang lỏng 60.000 tấn/ngày tiếp tục là yếu tố chính kìm hãm nguồn cung thành phẩm.
Chi phí nguyên liệu: Lực nâng đỡ từ chi phí có xu hướng suy yếu nhẹ. Giá quặng sắt PB nhập khẩu tại cảng Kinh Đường giảm 5 Nhân dân tệ/tấn xuống còn 724 Nhân dân tệ/tấn. Than cốc luyện kim loại chuẩn một tại Đường Sơn tạm giữ mức ổn định 1.885 Nhân dân tệ/tấn trong bối cảnh vòng tăng giá thứ 10 bị hoãn và hạ nguồn gia tăng kỳ vọng giảm giá. Giá thép phế liệu nặng tại Đường Sơn đi ngang ở mức 2.030 Nhân dân tệ/tấn.
Dự báo xu hướng: Mâu thuẫn cung mạnh cầu yếu trong chu kỳ mùa thấp điểm nắng nóng và mưa bão chưa được giải quyết thực chất. Dù thị trường kỳ hạn có tín hiệu hỗ trợ tại mốc 3.100 điểm và kỳ vọng vĩ mô về các chính sách kích cầu kinh tế trong quý 3 vẫn duy trì, giá thép giao ngay thực tế thiếu động lực tăng bứt phá. Dự kiến phiên tiếp theo, thị trường thép Trung Quốc sẽ tiếp tục trạng thái vận hành biến động yếu hoặc đi ngang trong biên độ hẹp.













