Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Tổng quan thép Trung Quốc tuần 35/2026

TRONG NƯỚC

Thị trường thép xây dựng

Tổng tồn kho thép thanh vằn tại 35 thành phố chính trên cả nước là 505,46 nghìn tấn, giảm 5,86 nghìn tấn. Tồn kho thép cuộn trơn là 66,37 nghìn tấn, tăng 0,61 nghìn tấn. Tổng tồn kho xã hội là 571,83 nghìn tấn.

Giá thép xây dựng dao động theo xu hướng mạnh lên. Đầu tuần, hợp đồng tương lai thép thanh vằn mở cửa cao và đi lên, giao dịch thị trường tăng so với tuần trước, báo giá tại các địa phương tăng nhẹ. Giữa tuần, hợp đồng chính chuyển sang tháng tiếp theo, các vị thế mua đóng lãi và giảm lượng nắm giữ, giá trên sàn hạ xuống, một số thương nhân bán giá thấp, báo giá thị trường điều chỉnh giảm nhẹ. Cuối tuần, sàn giao dịch đi lên mạnh hơn, tâm lý thị trường ấm lên, báo giá giao ngay ngừng giảm và tăng nhẹ.

Tổng hợp lại, giá than luyện cốc đã được điều chỉnh tăng 4 lần liên tiếp, chi phí nguyên liệu tăng liên tục ăn vào lợi nhuận của các doanh nghiệp thép, thiệt hại của nhà máy càng thêm trầm trọng. Hiện 70% doanh nghiệp thép đang bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận giảm 2,17% so với tuần trước. Ảnh hưởng bởi điều này, các nhà máy thép tăng cường bảo trì, sản lượng gang lỏng ở mức thấp. Một số nhà máy thép tăng chênh lệch cấp độ quy cách thép để bù đắp chi phí than luyện cốc tăng, giảm áp lực lỗ vận hành.

Dự kiến giá thép xây dựng trên cả nước  sẽ dao động theo xu hướng mạnh lên.

Bảng biến động giá thép thanh và thép dây tại các thành phố trọng điểm toàn quốc

(Đơn vị: Nhân dân tệ/tấn)

Chủng loại/Quy cách

Ngày/Thành phố

Thượng Hải

Hàng Châu

Bắc Kinh

Thiên Tân

Vũ Hán

Trường Sa

Thành Đô

Tây An

Thép cây HRB400 φ20mm

27/8

3050

3160

3080

3130

3210

3400

3150

3360

3/9

3110

3210

3140

3180

3290

3490

3230

3420

Chênh lệch tuần

+60

+50

+60

+50

+80

+90

+80

+60

Xuất xứ

Nhật Chiếu

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Vũ Cương

Bình Cương

Uy Cương

Tấn Cương

Cuộn trơn HPB300 φ6.5mm

27/8

3390

3670

3560

3700

3350

3630

3440

3460

3/9

3450

3720

3620

3750

3430

3720

3520

3560

Chênh lệch tuần

+60

+50

+60

+50

+80

+90

+80

+100

Xuất xứ

Bình Cương

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Bình Cương

Tương Cương

Đạt Cương

Tấn Cương

Thị trường thép công nghiệp

Cuộn cán nóng

Tuần qua (31/8 – 4/9), giá thị trường thép cuộn cán nóng trong nước vận hành dao động. Đến thời điểm đưa tin, giá bình quân của loại 5.5*1500*C là 3.444 NDT/tấn, tăng 1 NDT so với ngày giao dịch trước đó và tăng 13 NDT so với cùng kỳ tuần trước.

Tuần qua giá thị trường thép cuộn cán nóng trong nước nhìn chung có xu hướng dao động trong biên độ, đà tăng tại các khu vực chậm lại so với giai đoạn trước. Đầu tuần, được thúc đẩy bởi các chính sách hỗ trợ và chi phí đầu vào, giá lại tăng cao. Về mặt hợp đồng tương lai, hợp đồng chính của thép cuộn cán nóng có lúc vượt mức 3.400 điểm, nhưng sau đó do các vị thế tích lũy trước đó lần lượt thoát ra và chốt lời, giá chịu áp lực và quay đầu giảm, biên độ dao động trong tuần thu hẹp tương đối, nhưng trọng tâm giá vẫn nhích nhẹ so với tuần trước. Về thị trường giao ngay, kết hợp với chính sách vĩ mô, khi các kỳ vọng tích cực liên tục lan tỏa, tâm lý các thương nhân giao ngay tại các địa phương tiếp tục phân hóa. Khi giá tăng, ý chí giữ giá tương đối mạnh; khi giá yếu đi, chủ yếu giữ giá ổn định để bán hàng, không xuất hiện tình trạng bán tháo hoảng loạn. Bầu không khí giao dịch thay đổi nhẹ theo biến động giá, giao dịch hàng giá cao vẫn yếu, nhưng giao dịch hàng giá trung bình và thấp tương đối sôi động.

Về nguồn hàng, tuần này tổng sản lượng thép cuộn cán nóng trong nước tăng rõ rệt so với tuần trước, khoảng 4.217 triệu tấn. Tổng lượng tồn kho tại nhà máy và tồn kho thị trường có xu hướng giảm, khoảng 5.126,6 nghìn tấn, giảm 125,7 nghìn tấn so với tuần trước, trong đó lượng tồn kho tại nhà máy giảm nhiều hơn tồn kho xã hội. Điều này cho thấy khi mùa cao điểm đến gần, nhu cầu hạ nguồn được giải phóng phần nào, kéo theo tồn kho giảm nhẹ, nhưng mức tồn kho vẫn ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây, cục diện cung – cầu nới lỏng chưa có sự thay đổi căn bản.

Về đánh giá cho giai đoạn tiếp theo, hiện các chính sách hỗ trợ vĩ mô vẫn đang được triển khai, mùa tiêu thụ truyền thống đang dần đến gần, tỷ lệ hoạt động của hạ nguồn được kỳ vọng sẽ từng bước phục hồi. Cùng với đó, sức hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu đầu vào vẫn còn, tác động hỗ trợ giá khá mạnh. Ngoài ra, một số thương nhân vẫn còn kỳ vọng vào tương lai. Vì vậy, dự báo giá thị trường thép cuộn cán nóng trong nước tuần tới có thể nhìn chung có xu hướng dao động tìm cách tăng nhẹ.

Cuộn cán nguội

Thị trường thép cuộn cán nguội trong nước dao động theo xu hướng mạnh lên, động lực từ chi phí đầu vào rõ rệt. Giá giao ngay tăng theo thép cuộn cán nóng, nhưng sức hấp thụ của hạ nguồn có hạn, mức tăng yếu hơn so với cán nóng. Chênh lệch giá cán nóng - cán nguội tiếp tục thu hẹp, lợi nhuận gia công cán nguội duy trì ở mức mỏng.

Giá cán nguội trên sàn giao dịch tăng theo đà đi lên của cán nóng và than luyện cốc, chênh lệch giữa kỳ hạn và hiện tại được điều chỉnh nhẹ. Người mua cuối chuỗi tăng cường quan sát ở mức giá cao, giá sau khi tăng mạnh có xu hướng giảm nhẹ trở lại.

- Năng lực sử dụng của nhà máy cán nguội hồi phục nhẹ, một số dây chuyền bảo trì trước đây dần dần hoạt động trở lại. Tuy nhiên, do chênh lệch giá cán nóng - cán nguội thấp và lợi nhuận mỏng, ý chí mở rộng sản xuất quy mô lớn không cao, tổng sản lượng tăng ở mức vừa phải.

- Giá nguyên liệu thép cuộn cán nóng tăng, giá than luyện cốc được điều chỉnh tăng thực tế, quặng sắt biến động theo xu hướng mạnh, chi phí sản xuất cán nguội tăng lên, tạo hỗ trợ đáy cho thị trường giao ngay.

- Phân phối của nhà máy: Hàng hóa theo hợp đồng được luân chuyển bình thường, một số nhà máy giữ giá, biên độ chiết khấu hạn chế. Nguồn cung trên thị trường nhìn chung dồi dào, một số quy cách khan hiếm.

- Tuần này nằm trong giai đoạn khởi động "Tháng Chín vàng", thời tiết nóng giảm dần, tỷ lệ hoạt động của ngành sản xuất cải thiện nhẹ so với tháng trước, nhưng nhu cầu thực tế yếu hơn dự kiến.

- Ngành ô tô: Lịch trình sản xuất ổn định, mua theo nhu cầu thiết yếu, việc bổ sung kho lớn chưa đến.

- Ngành gia dụng: Tiêu thụ nội địa trầm lắng, đơn hàng xuất khẩu phân hóa, mua chủ yếu theo nhu cầu.

- Gia công chế tạo: Các nhà trung gian thận trọng, giao dịch hàng giá cao gặp nhiều cản trở, hàng giá thấp bán chạy hơn.

- Tổng thể giao dịch: Đầu tuần giao dịch khá nhờ động lực chi phí, giữa tuần khi giá tăng, tâm lý chờ đợi của người dùng cuối tăng lên, giao dịch trở nên ảm đạm.

Dự kiến thị trường cán nguội sẽ dao động trong biên độ hẹp, ổn định trước rồi phụ thuộc vào mức độ đáp ứng nhu cầu. Xu hướng dao động mạnh lên nhưng biên độ tăng có hạn.

XUẤT KHẨU

1. PHỨC HỢP THÉP DÀI (Thép cây, Cuộn trơn và Phôi thanh)

Thép cây (Rebar): Chỉ số giá FOB Trung Quốc đối với thép cây tăng từ 476 USD/tấn lên 482 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết) vào cuối tuần. Đà tăng được hỗ trợ bởi chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang và các giao dịch nội địa được cải thiện. Vào ngày 4/9, các nhà máy và thương nhân Trung Quốc đã nâng giá chào thép cây lên mức 515–520 USD/tấn CFR Hồng Kông (trọng lượng thực tế), tăng so với mức 495–500 USD/tấn CFR của tuần trước. Tại Singapore, giá chào từ các nhà máy Trung Quốc và Malaysia tăng lên 520 USD/tấn CFR (trọng lượng lý thuyết), tuy nhiên nhu cầu đối với các đơn hàng lớn (30.000–50.000 tấn) vẫn yếu, với người mua nhắm mục tiêu dưới mức 495 USD/tấn CFR. Chi phí xuất khẩu của một số nhà máy Trung Quốc được ước tính đã tăng lên mức 530 USD/tấn CFR Đông Nam Á sau các đợt tăng liên tiếp của chi phí nguyên liệu thô.

Cuộn trơn (Wire rod): Chỉ số giá FOB Trung Quốc đối với cuộn trơn tăng nhẹ 1 USD/tấn lên 501 USD/tấn FOB. Các nhà máy Trung Quốc duy trì giá chào xuất khẩu ở mức 510–520 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 10. Một nhà máy lớn của Indonesia đã nâng giá chào xuất khẩu cuộn trơn thêm 5 USD/tấn lên 505 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 11. Người mua vẫn chậm chạp trong việc chấp nhận mức tăng giá, với các mức giá thầu từ Đông Nam Á dưới mức 510–520 USD/tấn CFR, tương đương 490–500 USD/tấn FOB.

Phôi thanh (Billet): Giá xuất khẩu phôi thanh của Trung Quốc dao động ở mức 465–480 USD/tấn FOB tùy theo nhà cung cấp và thời điểm trong tuần. Các nhà máy Trung Quốc đã nâng giá chào phôi thanh lên mức 465–475 USD/tấn FOB cho giao hàng tháng 10–11, so với mức 460–465 USD/tấn FOB vào cuối tuần trước. Một nhà máy Indonesia đã nâng giá chào lên 480 USD/tấn FOB vào ngày 4/9. Tại Đài Loan, phôi thanh 3sp của Trung Quốc tăng 10 USD/tấn lên 490–495 USD/tấn CFR, trong khi các giá chào mua được ghi nhận ở mức 480–485 USD/tấn CFR. Tại Philippines, các mức chào bán phôi thanh 5sp của Trung Quốc tăng lên 497–505 USD/tấn CFR Manila từ mức 484–500 USD/tấn CFR của tuần trước.

2. PHỨC HỢP THÉP DẸT (HRC, CRC, HDG và Phôi phiến)

Thép cuộn cán nóng (HRC): Chỉ số giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc tăng từ 499 USD/tấn lên 502 USD/tấn FOB Trung Quốc vào cuối tuần. Các nhà máy lớn giữ vững giá chào ở mức 500–515 USD/tấn FOB tùy thuộc vào cảng và nhà máy. Một nhà máy lớn của Trung Quốc giữ giá chào xuất khẩu ở mức 515 USD/tấn FOB đối với HRC mác SS400, với dư địa đàm phán rất hạn chế do đà tăng của giá hợp đồng tương lai. Vào ngày 3/9, hai nhà máy lớn của Trung Quốc đã bán khoảng 10.000 tấn HRC mác SS400 với giá 503 USD/tấn FOB sang Đông Nam Á, giao hàng trong tháng 10. Các nhà máy này cũng bán một vài nghìn tấn HRC mác SS400 với giá 505 USD/tấn FOB sang Nam Mỹ trong tuần này. Một số nhà máy thép tư nhân ở miền Bắc Trung Quốc đã hạ giá xuống mức 499–502 USD/tấn FOB đối với HRC mác Q235 theo xu hướng suy yếu của thị trường nội địa.

Tại thị trường ASEAN, giá HRC tăng 8 USD/tấn lên 535 USD/tấn CFR Việt Nam do các mức giá chào tăng cao. Các bên bán đã nâng giá chào đối với thép cuộn mác SAE1006 từ một nhà máy Indonesia lên mức 548–558 USD/tấn CFR Việt Nam sau vụ hỏa hoạn tại khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh của Việt Nam, do kỳ vọng nguồn cung sẽ thắt chặt trong ngắn hạn. Nhà sản xuất Hòa Phát của Việt Nam cũng được dự báo sẽ tăng giá bán đồng thời cắt giảm lượng phân bổ【7†L22-L25】.

Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá chào xuất khẩu CRC của Trung Quốc dao động trong khoảng 545–583 USD/tấn FOB tùy theo nhà cung cấp và khu vực. Các công ty thương mại tại Hoa Đông báo cáo giá chào CRC mác SPCC ở mức 570–583 USD/tấn FOB. Một công ty thương mại tại Hoa Nam báo cáo mức giá chào CRC mác SPCC ở mức 545 USD/tấn FOB. Giá xuất khẩu CRC của Trung Quốc sang Đài Loan đã tăng sau khi chi phí nguyên vật liệu tăng và giá HRC tại Châu Á phục hồi, với các mác SPCC và 1B tăng lên.

Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG): Giá chào xuất khẩu HDG của Trung Quốc dao động trong khoảng 569–645 USD/tấn FOB. Các công ty thương mại tại Hoa Đông báo cáo giá chào HDG mác SGCC ở mức 574–645 USD/tấn FOB. Một công ty thương mại tại Hoa Nam báo cáo mức giá chào HDG mác SGHC ở mức 575 USD/tấn FOB. Tuần trước, các nhà cung cấp Trung Quốc đã nâng giá xuất khẩu đối với HDG hướng đến các thị trường Châu Á thêm khoảng 9 USD/tấn, chủ yếu được thúc đẩy bởi chi phí sản xuất leo thang (than mỡ luyện cốc và than cốc) và kỳ vọng phục hồi nhu cầu theo mùa trong tháng 9.

Phôi phiến (Slab): Mức đánh giá phôi phiến FOB Châu Á hàng tuần tăng 10 USD/tấn lên 480 USD/tấn. Một nhà máy Indonesia đã nâng giá chào xuất khẩu phôi phiến mác chuyên dùng cán cuộn lên mức 477–480 USD/tấn FOB vào đầu tuần này, và tiếp tục đẩy giá chào lên mức 485 USD/tấn FOB vào ngày 4/9 cho chuyến hàng giao tháng 11. Phôi phiến có xuất xứ từ Trung Quốc được chào bán ở mức 500 USD/tấn FOB Trung Quốc trong tuần này, tăng 20 USD/tấn so với tuần trước, và phôi phiến mác cán tấm S235JR được chào ở mức từ 510 USD/tấn FOB trở lên cho lô hàng giao tháng 10–11.

3. ĐỘNG LỰC THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

Chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang: Giá than cốc luyện kim (metallurgical coke) đã tăng 350–385 Nhân dân tệ/tấn từ ngày 21/8 đến ngày 3/9 tại Trung Quốc. Các nhà sản xuất than cốc lớn đã đề xuất đợt tăng giá thứ tư với mức 100–110 Nhân dân tệ/tấn vào ngày 1/9, và một số nhà máy thép tại Hà Bắc và Thiên Tân đã chấp nhận mức tăng này. Giá than mỡ luyện cốc (coking coal) của Úc tiếp tục tăng, với một giao dịch 80.000 tấn than Goonyella C được chốt ở mức 274,5 USD/tấn FOB Úc vào ngày 2/9. Chi phí nguyên liệu cao đã đẩy chi phí sản xuất của các nhà máy thép tăng thêm 170–190 Nhân dân tệ/tấn, khiến phần lớn nhà máy thép cây rơi vào tình trạng thua lỗ 150–200 Nhân dân tệ/tấn.

Nguồn cung thắt chặt: Sự cố hỏa hoạn tại khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh của Việt Nam đã tạo ra kỳ vọng nguồn cung HRC sẽ thắt chặt trong ngắn hạn, đẩy giá chào tăng cao. Tại Trung Quốc, các nhà máy thép tại tỉnh Sơn Tây lên kế hoạch cắt giảm sản lượng do thiếu than cốc luyện kim, trong khi các cuộc thanh tra an toàn tại khu vực này vẫn được siết chặt sau vụ tai nạn chết người vào cuối tháng 5. Các hoạt động bảo trì và hạn chế sản xuất tại một số nhà máy tiếp tục tạo mức nền hỗ trợ cho giá thép.

Tâm lý thị trường và giao dịch: Hoạt động giao dịch nội địa Trung Quốc được cải thiện trong tuần, với khối lượng giao dịch thép cây tại các thành phố lớn tăng lên 107.000 tấn vào ngày 4/9 (mức cao thứ hai trong tuần). Tuy nhiên, tiêu thụ thép vằn vẫn chưa quay trở lại mức của mùa cao điểm. Tâm lý thị trường được cải thiện nhờ kỳ vọng nguồn cung thắt chặt, nhưng vẫn còn những lo ngại về nhu cầu thực tế yếu hơn dự kiến.

Các yếu tố địa chính trị và thương mại:

Căng thẳng tại Trung Đông và khu vực Biển Đen tiếp tục gây gián đoạn logistics và đẩy chi phí vận tải biển tăng cao. Các biện pháp tự vệ thương mại của EU và Mỹ đang định hình lại dòng chảy thương mại thép toàn cầu. Thặng dư thương mại kỷ lục của Trung Quốc đã trở thành điểm tranh chấp chính tại cuộc họp G20, làm gia tăng áp lực buộc Bắc Kinh phải kiềm chế xuất khẩu.

BẢNG TỔNG HỢP GIÁ XUẤT KHẨU HÀNG TUẦN

Sản phẩm

Mác/Quy cách

Giá đầu tuần (USD/tấn)

Giá cuối tuần (USD/tấn)

Biến động

Điều kiện

Thép cây (Rebar)

B500B/HRB400

476

482

+6

FOB Trung Quốc (trọng lượng lý thuyết)

Cuộn trơn (Wire rod)

SAE1008

500

501

+1

FOB Trung Quốc

Phôi thanh (Billet)

3sp

460–465

465–480

+5–15

FOB Trung Quốc

HRC

SS400/Q235

499

502

+3

FOB Trung Quốc

CRC

SPCC

545–583

545–583

0

FOB Trung Quốc

HDG

SGCC/SGHC

569–645

569–645

0

FOB Trung Quốc

Phôi phiến (Slab)

S235JR

480

500–510

+20–30

FOB Trung Quốc

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thị trường tuần 31/8–4/9/2026

Nhận định chung: Thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tuần qua ghi nhận xu hướng tăng giá trên diện rộng, được hỗ trợ chủ yếu bởi chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang (đặc biệt là than cốc và than mỡ luyện cốc) và kỳ vọng nguồn cung thắt chặt. Tuy nhiên, nhu cầu thực tế từ người mua quốc tế vẫn còn yếu, với nhiều người mua tỏ ra ngần ngại trước các mức giá cao hơn. Các yếu tố địa chính trị và rào cản thương mại tiếp tục tạo ra sự bất định, trong khi các nhà máy thép Trung Quốc đang phải đối mặt với áp lực thua lỗ gia tăng, thúc đẩy các đợt bảo trì và cắt giảm sản lượng. Triển vọng ngắn hạn cho thấy giá có thể tiếp tục được hỗ trợ bởi chi phí, nhưng đà tăng sẽ phụ thuộc vào mức độ phục hồi thực tế của nhu cầu trong tháng 9.