THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ
Thép dẹt (HRC, Thép tấm)
Thị trường HRC Châu Âu tiếp tục xu hướng tăng trong tuần qua. Tại Ý, chỉ số giá HRC giao xưởng hàng ngày tăng lên mức 733,25 EUR/tấn (tăng 6,50 EUR/tấn). Các nhà máy tại Tây Bắc EU đã nâng giá chào lên mức 770 EUR/tấn cho khu vực Tây Bắc và 790 EUR/tấn cho Nam Âu, tăng khoảng 20-30 EUR/tấn so với các mức giá chào trước đó. Mức sàn thị trường mới tại miền Nam được xác định vào khoảng 740 EUR/tấn cơ sở giao hàng, trong khi tại miền Bắc, mức 750 EUR/tấn cơ sở giao hàng được một số người mua báo cáo là mức thấp nhất có thể đạt được. Chỉ số HRC hàng ngày tại Tây Bắc EU tăng lên 744,50 EUR/tấn giao xưởng.
Tại Ý, một nhà máy chào bán ở mức 750-760 EUR/tấn cơ sở giao hàng cho lịch giao hàng tháng 10, trong khi một số ý kiến cho biết mức 740 EUR/tấn vẫn có sẵn. Các mức giá chào nhập khẩu được ghi nhận ở mức 715 EUR/tấn DDP và lên tới 740 EUR/tấn đối với hàng có sẵn trong kho. Mức đánh giá HRC theo điều kiện CIF Ý đạt 575 EUR/tấn, tăng 7,50 EUR/tấn.
Tại Vương quốc Anh, giá HRC tiếp tục ổn định ở mức 705 Bảng/tấn DDP Tây Midlands. Các nhà máy nội địa chào bán ở khoảng mức này, trong khi các trung tâm dịch vụ thép/kho hàng sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn khoảng 690-700 Bảng/tấn.
Giá thép tấm dày (plate) tại Ý tăng, với các nhà cán lại nhắm tới mức 750-760 EUR/tấn giao xưởng đối với mác S275, tăng 20-40 EUR/tấn. Thép tấm mác S275, độ dày 12-40 mm, được báo giá ở mức khoảng 750 EUR/tấn EXW cho giao hàng cuối tháng 10 - tháng 11.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá HRC nội địa hàng tuần tăng 7,5 USD/tấn lên mức 595 USD/tấn giao xưởng, và giá xuất khẩu tăng 10 USD/tấn lên mức 595 USD/tấn FOB. Giá nhập khẩu HRC theo phương thức CFR hàng tuần tăng 7,5 USD/tấn lên mức 550 USD/tấn. Các nhà máy nội địa chào bán ở khoảng 600-635 USD/tấn giao xưởng. CRC nội địa tăng 5 USD/tấn lên 685 USD/tấn giao xưởng và xuất khẩu tăng 10 USD/tấn lên 685 USD/tấn FOB【5†L139】. HDG nội địa tăng 12,5 USD/tấn lên 777,5 USD/tấn giao xưởng và xuất khẩu tăng 15 USD/tấn lên 745 USD/tấn FOB.
Thép dài & Nguyên liệu bán thành phẩm
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá thép cây (rebar) nội địa tiếp tục đà tăng. Mức đánh giá hàng ngày tăng 10 USD/tấn lên 607,50 USD/tấn giao xưởng (chưa bao gồm VAT). Các nhà máy tại vùng Marmara chào bán ở mức 620-625 USD/tấn giao xưởng, trong khi các nhà máy tại Izmir ở mức 600 USD/tấn. Giá xuất khẩu thép cây được ghi nhận ở mức 610 USD/tấn FOB nhưng nhu cầu chậm. Mức đánh giá thép cây FOB Thổ Nhĩ Kỳ tăng lên 594 USD/tấn.
Tại Châu Âu, thị trường thép cây và dây cuộn khởi động tháng 9 trong bối cảnh chậm chạp. Đánh giá thép cây tại Ý giảm 5 EUR/tấn xuống 690 EUR/tấn giao xưởng. Đánh giá dây cuộn tại Ý duy trì ổn định ở mức 700 EUR/tấn giao đến. ArcelorMittal thông báo tăng giá các sản phẩm thép dài thêm 20 EUR/tấn, nâng tổng mức tăng trong hai tháng lên 45 EUR/tấn, do chi phí năng lượng tăng cao.
Giá phôi thanh (billet) nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ tăng lên mức 512,50 USD/tấn CFR. Giá phôi thép nội địa Thổ Nhĩ Kỳ nhích lên 545 USD/tấn giao xưởng. Giá phôi thép FOB Biển Đen giữ nguyên ở mức 460 USD/tấn. Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ đã mua khoảng 250.000-300.000 tấn phôi thép từ Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia trong tháng 8.
Phôi thép & Phế
Giá phế liệu nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ tăng nhờ giao dịch gốc Mỹ. Một nhà sản xuất tại Izmir đã đặt mua HMS 1&2 (80:20) ở mức 380 USD/tấn CFR từ một nhà cung cấp Mỹ. Đánh giá hàng ngày HMS 1&2 (80:20) từ Bờ Đông Hoa Kỳ tăng lên 380 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận một số cải thiện trong doanh số bán thép cây và tiếp tục đẩy giá chào bán các sản phẩm dài lên cao hơn. Giá chào bán thép cây nội địa tại Thổ Nhĩ Kỳ tăng thêm 5 USD/tấn kể từ đầu tuần, đạt 600-625 USD/tấn EXW.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC BẮC MỸ
Thị trường HRC Mỹ tiếp tục tăng do thanh khoản thấp và nguồn cung thắt chặt. Giá giao xưởng HRC tại Mỹ tăng 25,25 USD/tấn ngắn lên mức 1.226 USD/tấn ngắn. Nucor đã nâng giá giao ngay HRC thêm 5 USD lên 1.185 USD/tấn ngắn, ghi nhận mức tăng hàng tuần liên tiếp thứ sáu với tổng mức tăng 60 USD. California Steel Industries (CSI) cũng nâng giá HRC thêm 5 USD lên 1.245 USD/tấn ngắn. Thời gian giao hàng HRC trung bình của nhà máy rút xuống còn 8 tuần. Đánh giá giá nhập khẩu HRC tại Mỹ tăng 20 USD/tấn lên 1.040 USD/tấn DDP Houston.
Giá thép tấm (plate) tại Mỹ tăng 10 USD/tấn lên 1.430 USD/tấn theo điều kiện giao hàng và 1.400 USD/tấn theo điều kiện giao xưởng. Thời gian giao hàng thép tấm duy trì ổn định ở mức 12 tuần.
Giá HDG tại Mỹ tăng do nguồn cung hạn chế. HDG nền cán nguội tăng 9 USD/tấn ngắn lên 1.440 USD/tấn ngắn. HDG nền cán nóng tăng 15 USD/tấn ngắn lên 1.445,50 USD/tấn ngắn. CRC giảm nhẹ 1,25 USD/tấn ngắn xuống 1.419,75 USD/tấn ngắn.
Nguồn cung OCTG tại Mỹ tiếp tục thắt chặt. Chỉ số tổng hợp OCTG Pipe Logix tăng 48 USD/tấn ngắn lên 2.281 USD/tấn ngắn trong tháng 8, mức cao nhất kể từ tháng 9 năm 2023. 57% nhà phân phối OCTG báo cáo lượng hàng tồn kho ở mức thấp. Các nhà nhập khẩu đã nộp hồ sơ xin cấp phép cho 135.100 tấn ngắn trong tháng 8.
Tại Mexico, các nhà máy cố gắng tăng giá HRC nội địa thêm 25 USD/tấn nhưng người mua kháng cự. Đánh giá HRC nội địa giảm xuống 16.580-16.650 peso/tấn (983-987 USD/tấn), phản ánh biến động tỷ giá. Bộ Kinh tế Mexico khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với thép tấm carbon nhập khẩu từ Nhật Bản.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Việt Nam
Tập đoàn Hòa Phát nhích tăng giá HRC nội địa sau ba tháng giảm liên tiếp. Vào ngày 3/9, nhà sản xuất này tăng giá HRC giao hàng tháng 10 thêm 150 VNĐ/kg (6 USD/tấn). Nguyên liệu mác SAE1006/SS400 loại không tẩy bóng được chào bán ở mức 14.210-14.240 VNĐ/kg (545-546 USD/tấn) CFR chưa bao gồm VAT. Công ty áp dụng mức chiết khấu khoảng 12 USD/tấn cho các lô hàng từ 20.000 tấn trở lên.
Sự cố hỏa hoạn tại khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh đã tạo ra kỳ vọng nguồn cung HRC sẽ thắt chặt trong ngắn hạn, đẩy giá chào tăng cao.
Nhật Bản
Xuất khẩu thép của Nhật Bản giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 7, xuống 2,49 triệu tấn, mức giảm đầu tiên sau hai tháng. Xuất khẩu sản phẩm thép thông thường giảm 11% xuống 1,66 triệu tấn. Xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 9,9% xuống 173.000 tấn, sang Mỹ giảm 5,2% xuống 119.000 tấn. Xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 16% lên 390.000 tấn, sang Đài Loan tăng 32% lên 156.000 tấn.
Xuất khẩu phế liệu sắt của Nhật Bản giảm 16,6% trong tháng 7 xuống còn khoảng 513.700 tấn, đưa tổng lượng xuất khẩu 7 tháng đầu năm lên 4,05 triệu tấn, giảm 8,6%.
Đài Loan
China Steel Corporation (CSC) công bố điều chỉnh tăng giá nội địa cho tháng 10 và quý 4. Các sản phẩm giao hàng theo tháng tăng từ 500 đến 600 Đài tệ/tấn. HRC dùng để cán lại, thép tấm và HRC dùng cho mục đích chung, và CRC dùng cho mục đích chung tăng 600 Đài tệ/tấn. Các thành viên thị trường chỉ ra chi phí than cốc luyện kim tăng vọt, giá dầu thô quốc tế và nguồn cung nước ngoài thắt chặt từ các biện pháp hạn chế nhập khẩu của Mỹ và CBAM của EU đã thúc đẩy các đợt điều chỉnh tăng giá này.
Yieh Phui tăng giá thép mạ kẽm và thép sơn màu nội địa tháng 9 thêm 500 Đài tệ/tấn và thép không gỉ sơn màu 304 thêm 1.500 Đài tệ/tấn, đồng thời giữ nguyên giá chào xuất khẩu tháng 10.
Các thị trường khác
Ấn Độ: Giá HRC nội địa Ấn Độ leo lên mức cao nhất trong hơn bốn năm. Đánh giá HRC hàng tuần đối với mặt hàng 2,5-4mm đạt 61.250 rupee/tấn (648 USD/tấn) xuất kho tại Mumbai, tăng 750 rupee/tấn so với tuần trước. CRC nội địa tăng 2.750 rupee/tấn lên 70.750 rupee/tấn, trong khi HDG loại 0,8mm 80gsm tăng 1.500 rupee/tấn lên 76.500 rupee/tấn. Giá HRC FOB Ấn Độ tăng lên 570 USD/tấn từ mức 555 USD/tấn của tuần trước. Các nhà máy Ấn Độ đã tạm dừng giá chào HRC sang Trung Đông.
Iran: Giá thép dẹt nội địa Iran tăng mạnh trong tuần này, được hỗ trợ bởi đà mất giá của đồng rial (giảm 15% trong hai tuần qua xuống 2.200.000 rial/USD). Giá HRC nội địa tăng lên mức 860.000-943.000 Rial/kg, tương đương 537-589 USD/tấn. Xuất khẩu phôi dẹt (slab) của Iran giảm xuống 420 USD/tấn FOB. Phôi thép (billet) xuất khẩu được điều chỉnh về mức 410-415 USD/tấn FOB cho lịch giao hàng 15 ngày.
Bangladesh: Người mua Bangladesh thể hiện sự quan tâm đối với phế liệu gốc Mỹ ở mức nhỉnh hơn một chút so với 380 USD/tấn CFR. Các hợp đồng mua HMS 1&2 (80:20) gốc Mỹ dạng rời được báo cáo ở mức 377 USD/tấn và 379 USD/tấn CFR. Nhu cầu nội địa yếu đối với các sản phẩm dài tiếp tục gây áp lực lên việc mua phế liệu.
BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH
Sản phẩm | Khu vực | Giá (USD/tấn) | Điều kiện | Biến động |
HRC | Ý | 733-744 EUR/tấn | Giao xưởng | +6,50 EUR/tấn |
HRC | Tây Bắc EU | 744,50 EUR/tấn | Giao xưởng | +7 EUR/tấn |
HRC | Anh | 705 Bảng/tấn | DDP West Midlands | 0 |
HRC | Thổ Nhĩ Kỳ | 595 | Giao xưởng | +7,5 |
HRC | Thổ Nhĩ Kỳ | 595 | FOB | +10 |
HRC | Mỹ | 1.226 | Giao xưởng (USD/tấn ngắn) | +25,25 |
HRC | Mỹ | 1.040 | DDP Houston | +20 |
HRC | Ấn Độ | 648 | Xuất kho Mumbai | +8 |
CRC | Mỹ | 1.419,75 | Giao xưởng (USD/tấn ngắn) | -1,25 |
HDG (CR) | Mỹ | 1.440 | Giao xưởng (USD/tấn ngắn) | +9 |
HDG (HR) | Mỹ | 1.445,50 | Giao xưởng (USD/tấn ngắn) | +15 |
Thép tấm | Mỹ | 1.430 | Giao hàng | +10 |
Thép tấm | Ý | 750 EUR/tấn | EXW | +20-40 EUR |
Thép cây | Thổ Nhĩ Kỳ | 607,50 | Giao xưởng (chưa VAT) | +10 |
Thép cây | Thổ Nhĩ Kỳ | 594 | FOB | +6,50 |
Thép cây | Ý | 690 EUR/tấn | Giao xưởng | -5 EUR |
Dây cuộn | Ý | 700 EUR/tấn | Giao đến | 0 |
Phôi thanh | Thổ Nhĩ Kỳ | 512,50 | CFR | +5 |
Phôi thanh | FOB Biển Đen | 460 | FOB | 0 |
Phế HMS 1&2 | Thổ Nhĩ Kỳ | 380 | CFR | +2 |
Slab | Ý (Trung Quốc) | 580-590 | CFR | +20 |
Slab | Ý (Indonesia) | 560-565 | CFR | +20 |
TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép thế giới tuần qua (không bao gồm Trung Quốc) ghi nhận xu hướng tăng giá trên diện rộng, được hỗ trợ bởi chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang (đặc biệt là than cốc và than mỡ luyện cốc) và nguồn cung thắt chặt tại nhiều khu vực.
Tại Châu Âu, giá HRC tiếp tục tăng do các nhà máy đẩy giá chào lên cao trong bối cảnh nguồn cung thắt chặt và thiếu hụt các lựa chọn nhập khẩu. Mức sàn thị trường đã được nâng lên 740-750 EUR/tấn cơ sở giao hàng. Sự bất định xung quanh tương lai của Acciaierie d'Italia và tác động của khung pháp lý nhập khẩu mới của EU (hiệu lực từ 1/9) đang tạo ra áp lực tăng giá bổ sung.
Tại Mỹ, nguồn cung HRC và các sản phẩm thép dẹt tiếp tục thắt chặt do khối lượng nhập khẩu giảm mạnh và các đợt bảo trì nhà máy. Các nhà máy chủ yếu giao dịch theo hợp đồng và người mua gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hàng giao ngay. Giá OCTG tiếp tục tăng do nhu cầu từ ngành dầu khí.
Tại Châu Á, thị trường phân hóa. Việt Nam ghi nhận đợt tăng giá HRC từ Hòa Phát sau ba tháng giảm liên tiếp, trong khi sự cố hỏa hoạn tại Formosa Hà Tĩnh tạo ra kỳ vọng nguồn cung thắt chặt trong ngắn hạn. Ấn Độ chứng kiến giá HRC nội địa leo lên mức cao nhất trong hơn bốn năm, được hỗ trợ bởi nhu cầu vững chắc hơn và chi phí nguyên liệu cao. Tại Đài Loan, CSC công bố đợt tăng giá tháng 10 phản ánh chi phí sản xuất gia tăng.
Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục là một điểm nóng với giá thép cây nội địa tăng lên trên 600 USD/tấn lần đầu tiên kể từ tháng 4, được hỗ trợ bởi nhu cầu cải thiện và chi phí sản xuất cao. Biên lợi nhuận của các nhà máy thép Thổ Nhĩ Kỳ đã mở rộng lên mức 15-35 USD/tấn.
Các yếu tố địa chính trị tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Xung đột tại Trung Đông và khu vực Biển Đen gây gián đoạn logistics và đẩy chi phí vận tải biển tăng cao. Các cuộc tấn công ở Biển Đen buộc người mua phải cơ cấu lại các quyết định mua sắm. Thặng dư thương mại kỷ lục của Trung Quốc tiếp tục là điểm tranh chấp tại các diễn đàn quốc tế.
Nhìn chung, thị trường thép toàn cầu đang trong giai đoạn tăng giá được thúc đẩy bởi chi phí và các ràng buộc về nguồn cung, trong khi nhu cầu thực tế vẫn còn ở mức khiêm tốn. Các thành viên thị trường kỳ vọng xu hướng này sẽ tiếp tục trong ngắn hạn, nhưng mức độ tăng giá sẽ phụ thuộc vào mức độ phục hồi thực tế của nhu cầu trong tháng 9 và tác động của các biện pháp thương mại mới.
















