Tính đến tháng 4/2026, nhập khẩu thép không gỉ của Trung Quốc đạt khoảng 169,700 tấn, tăng 33,500 tấn (24.6%) so với tháng trước và 27,600 tấn (19.4%) so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng lượng nhập khẩu thép không gỉ của Trung Quốc đạt khoảng 545,700 tấn, giảm 47,200 tấn (8%) so với cùng kỳ năm ngoái.
.jpg)
Nhập khẩu thép không gỉ của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào Indonesia, Nhật Bản và Hàn Quốc, chiếm 499,000 tấn từ ba quốc gia này trong bốn tháng đầu năm 2026, tương đương 91.4% tổng lượng nhập khẩu. Năm khu vực nhập khẩu hàng đầu chiếm khoảng 513,000 tấn trong cùng kỳ, chiếm 94% tổng lượng nhập khẩu.
Vào tháng 4/2026, Trung Quốc đã nhập khẩu khoảng 144,800 tấn thép không gỉ từ Indonesia, tăng 33,300 tấn (29.8%) so với tháng trước và 28,900 tấn (24.9%) so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thép không gỉ cán nóng chiếm khoảng 17,700 tấn, tăng 9,100 tấn (107%) so với tháng trước và 600 tấn (3.6%) so với cùng kỳ năm ngoái. Thép không gỉ cán nguội chiếm khoảng 100,100 tấn, tăng 17,400 tấn (21%) so với tháng trước và 17,600 tấn (21.4%) so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng phôi thép là 4,600 tấn, giảm 5,500 tấn (54.4%) so với tháng trước và 5,400 tấn (53.6%) so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng phôi vuông và các loại phôi khác đạt 22,300 tấn, tăng 12,300 tấn (122.1%) so với tháng trước và 17,300 tấn (346.8%) so với cùng kỳ năm ngoái.
Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng lượng thép không gỉ nhập khẩu từ Indonesia của Trung Quốc đạt khoảng 456,100 tấn, giảm 35,500 tấn, tương đương 7.2% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, thép không gỉ cán nóng chiếm khoảng 54,500 tấn, giảm 14,200 tấn, tương đương 20.6% so với cùng kỳ năm ngoái; thép không gỉ cán nguội chiếm khoảng 342,200 tấn, giảm 9,100 tấn, tương đương 2.6% so với cùng kỳ năm ngoái; thép tấm chiếm khoảng 15,200 tấn, giảm 16,900 tấn, tương đương 52.7% so với cùng kỳ năm ngoái; và phôi vuông cùng các loại phôi thép khác chiếm khoảng 44,200 tấn, tăng 6,700 tấn, tương đương 17.9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong khi đó, xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc tháng 4 đạt khoảng 394,300 tấn, tăng 84,100 tấn (27.1%) so với tháng trước, nhưng giảm 53,500 tấn (11.9%) so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc đạt khoảng 1,197,200 tấn, giảm 476,600 tấn (28.5%) so với cùng kỳ năm ngoái.
Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng khối lượng xuất khẩu của mười khu vực hàng đầu ở Trung Quốc đại lục đạt khoảng 759,000 tấn, chiếm khoảng 63.4% tổng số. Các điểm đến xuất khẩu chính là Việt Nam, Nga, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ.
Giá thép không gỉ tiếp tục tăng do căng thẳng quốc tế giảm bớt, giá chuẩn quặng niken của Indonesia tăng và kỳ vọng về nguồn cung quặng niken thắt chặt hơn. Được thúc đẩy bởi kỳ vọng lạc quan, xuất khẩu tất cả các sản phẩm thép không gỉ của Trung Quốc đã tăng so với tháng trước trong tháng 4, với thép cuộn cán nguội tăng đáng kể 50,000 tấn.
Về khu vực, xuất khẩu sang hầu hết các khu vực đều ghi nhận mức tăng đáng kể so với tháng trước. Xuất khẩu sang Ấn Độ và Việt Nam tăng mạnh, lần lượt tăng 15,200 tấn và 14,000 tấn. Xuất khẩu sang Việt Nam trong tháng 4 đạt khoảng 66,000 tấn, chỉ đứng thứ hai sau mức cao kỷ lục 70,000 tấn vào tháng 12/2025.
Ấn Độ đang trải qua tình trạng thiếu hụt nguồn cung, và để đáp ứng nhu cầu trong nước, thời hạn miễn chứng nhận BIS đã được gia hạn nhiều lần. Kể từ tháng 3/2026, xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc sang Ấn Độ đã liên tục tăng, đạt 36,000 tấn vào tháng 4, mức cao nhất trong 19 tháng (kể từ tháng 10/2024), tăng 15,000 tấn so với tháng trước và 20,000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng khối lượng từ tháng 1 đến tháng 4 đạt khoảng 77,000 tấn, tăng 24,500 tấn so với cùng kỳ năm ngoái, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 46.7%.
Sau khi tình hình ở nước ngoài được cải thiện, xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc sang Trung Đông đã phục hồi lên 43,000 tấn trong tháng 4, tăng 13,000 tấn so với tháng trước, tương ứng với mức tăng trưởng 45.7%; tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu giảm 27,000 tấn, tương đương mức giảm 39%. Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng xuất khẩu của Trung Quốc sang Trung Đông đạt khoảng 167,500 tấn, giảm 92,500 tấn so với cùng kỳ năm ngoái, tương ứng với mức giảm 35.6%.
Tính đến tháng 4/2026, xuất khẩu ròng thép không gỉ của Trung Quốc đạt khoảng 224,600 tấn, tăng 50,700 tấn, tương đương 29.1% so với tháng trước, nhưng giảm 81,100 tấn, tương đương 26.5% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 1 đến tháng 4/2026, tổng xuất khẩu ròng thép không gỉ của Trung Quốc đạt khoảng 651,500 tấn, giảm 429,400 tấn, tương đương 39.7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nguồn tin: satthep.net




















