Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Tổng quan thép Trung Quốc tuần 30/2026

Tổng quan thép Trung Quốc tuần 30/2026

TRONG NƯỚC

Thị trường thép xây dựng

Về mặt tồn kho trong tuần qua, tồn kho thép thanh vằn tại 35 thành phố chính trên cả nước tuần này là 514,11 vạn tấn, tăng 8,1 tấn, tồn kho thép dây cuộn trơn là 69,68 vạn tấn, giảm 1,02 vạn tấn, tổng tồn kho xã hội là 583,79 vạn tấn.

Giá thép xây dựng tuần này dao động giảm, nhu cầu thị trường vẫn ở mức thấp, tâm lý thương nhân nhìn chung ổn, ý muốn bán hàng tương đối mạnh. Do lợi nhuận từ lò cao và lò điện hồ quang sản xuất thép thanh vằn liên tục bị lỗ, sau khi giá nguyên liệu than cốc hạ nhiệt đợt 2, hiệu quả sản xuất của các nhà máy thép hiện tại vẫn đang ở quanh mức hòa vốn, dự kiến sản lượng tuần tới có thể tiếp tục giảm.

Về mặt nhu cầu, hiện tại vẫn đang trong mùa nắng nóng và mưa nhiều, các dự án thi công hạ nguồn tiến độ chậm, tình hình giải ngân vốn cuối cùng chưa thấy cải thiện rõ rệt, vốn nhìn chung yếu, nhu cầu vẫn mang đặc điểm của mùa thấp điểm.

Về mặt nguyên liệu, hiện tại than cốc đã hạ nhiệt đợt 2, thị trường tồn tại kỳ vọng tiếp tục hạ nhiệt, hỗ trợ chi phí nhìn chung yếu. Nhu cầu tuần này suy yếu, ý muốn bán hàng trên thị trường mạnh, giá dao động ở mức thấp.

Tóm lại, vĩ mô chưa có chính sách vượt kỳ vọng xuất hiện, đặc điểm mùa thấp điểm của nhu cầu thép thành phẩm rõ rệt, mâu thuẫn của thép đang tích lũy, kết hợp với hỗ trợ chi phí nhìn chung yếu, tâm lý thị trường suy yếu, nhưng cần lưu ý đến mức độ cắt giảm sản xuất của các nhà máy thép trong tuần tới, mâu thuẫn cơ bản có thể sẽ được giảm bớt phần nào, dự kiến giá thép xây dựng trên cả nước sẽ phục hồi nhẹ trong tuần tới.

Bảng biến động giá thép thanh và thép dây tại các thành phố trọng điểm toàn quốc

(Đơn vị: Nhân dân tệ/tấn)

Chủng loại/Quy cách

Ngày/Thành phố

Thượng Hải

Hàng Châu

Bắc Kinh

Thiên Tân

Vũ Hán

Trường Sa

Thành Đô

Tây An

HRB400
φ20mm thép thanh vằn

23/7

3060

3160

3160

3150

3300

3470

3190

3420

30/7

3040

3160

3160

3150

3300

3470

3190

3420

Chênh lệch tuần

-20

0

0

0

0

0

0

0

 

Nơi sản xuất

Nhật Chiếu

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Vũ Cương

Bình Cương

Uy Cương

Tấn Cương

 

HPB300
φ6.5mm thép cuộn trơn

23/7

3400

3670

3640

3720

3440

3700

3480

3520

30/7

3380

3670

3640

3720

3440

3700

3480

3520

Chênh lệch tuần

-20

0

0

0

0

0

0

0

 

Nơi sản xuất

Bình Cương

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Bình Cương

Tương Cương

Đạt Cương

Tấn Cươ

 

Thị trường thép công nghiệp

Cuộn cán nóng

Giá giao ngay bình quân cả nước của thép cuộn cán nóng 4,75mm tuần qua duy trì ở mức 3271 NDT/tấn, giảm 30 NDT/tấn so với tuần trước.

Thị trường Hoa Bắc: Giá khu vực có sức chống chịu giảm tương đối tốt, giá tuần cơ bản đi ngang. Đơn hàng giao thẳng từ nhà máy địa phương ở mức khả quan, lượng hàng về khu vực tương đối ít, tồn kho lưu thông tiếp tục giảm. Đồng thời, ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng cực đoan và mưa lớn ở phía Bắc ít hơn so với phía Nam, nhu cầu đầu cuối từ các công trình cơ sở hạ tầng và kết cấu thép duy trì ổn định tương đối, tâm lý mua hàng khá tích cực, hỗ trợ giá khu vực vững chắc.

Thị trường Hoa Nam: Giá khu vực yếu và đi xuống, là khu vực có mức giảm lớn nhất cả nước. Lượng hàng về khu vực Hoa Nam tuần này tăng tập trung, nguồn hàng lưu thông tại cảng và thị trường bị ứ đọng nghiêm trọng, tồn kho xã hội tăng tích lũy đáng kể. Hơn nữa, Hoa Nam đang trong mùa thấp điểm nhu cầu truyền thống, thời tiết nắng nóng và bão xuất hiện thường xuyên, các doanh nghiệp gia công hạ nguồn nghỉ thi công luân phiên, mua hàng theo nhu cầu, nhu cầu đầu cuối yếu, cung cầu nới lỏng khiến giá khu vực tiếp tục chịu áp lực.

Thị trường Hoa Đông và Hoa Trung: Nhìn chung tuần này, về phía cung ứng, tồn kho thép tấm cán nóng tại Thượng Hải tăng, các nhà máy thép giao hàng bình thường và đến hàng đúng tiến độ; tuần này giá hợp đồng tương lai giảm khá nhanh, nhu cầu thị trường rất yếu, giao dịch kém. Việc giảm liên tục có tác động lớn đến tâm lý thương nhân. Hiện tại giao dịch giá thấp cũng không tốt, do đó một số thương nhân chọn cách giữ giá ổn định, không giảm theo giá hợp đồng tương lai.

Tồn kho nhà máy của các nhà máy thép tuần này tiếp tục tích lũy, phản ánh trực tiếp tốc độ giao hàng của nhà máy thép chậm lại và ý muốn mua hàng của khách hàng đầu cuối yếu. Khách hàng hạ nguồn chủ yếu mua hàng nhỏ lẻ theo nhu cầu, không có hành vi mua bù tập trung, áp lực bán hàng của nhà máy thép tăng lên, nguồn hàng bị tồn đọng tại khu vực nhà máy. Hiện tại, tình hình tồn kho nhà máy và tồn kho xã hội cùng tích lũy đã hình thành, áp lực tồn kho tổng thể chuyển dịch lên phía thượng nguồn, cục diện cung cầu nới lỏng khó có thể đảo ngược trong ngắn hạn, tạo áp lực liên tục lên giá giao ngay.

Tổng hợp các yếu tố, dự báo giá thép tấm cán nóng trong thời gian tới có thể sẽ dao động và yếu đi. Sự phân hóa thị trường thép cuộn cán nóng tuần này ngày càng gia tăng, biến số cốt lõi tập trung vào những thay đổi phía cung ứng: các đợt hạn chế sản xuất theo mùa vụ vì bảo vệ môi trường tại Hoa Bắc trước đó đã lần lượt kết thúc, các nhà máy thép trong khu vực dần khôi phục sản xuất, nguồn cung thép cán nóng tại Hoa Bắc tiếp tục tăng, lượng hàng lưu thông trong khu vực tăng đáng kể, thúc đẩy tích lũy tồn kho tại thị trường địa phương; ngược lại, Hoa Đông và Hoa Nam chưa có hành động cắt giảm sản xuất tập trung, kết hợp với lượng hàng về tiếp tục, nhiều khu vực trên cả nước đồng loạt bước vào chu kỳ tích lũy tồn kho. Từ chu kỳ sắp xếp sản xuất, hiện tại các nhà máy thép có chu kỳ sắp xếp đơn hàng tập trung từ 7-10 ngày, chủ yếu là đơn hàng ngắn hạn và đơn hàng theo nhu cầu, không có đơn hàng dài hạn khóa số lượng, nguồn hàng tổng thể trong ngắn hạn tương đối dồi dào. Để kiểm soát áp lực tồn kho tại nhà máy, các nhà máy thép chủ yếu áp dụng chiến lược bán hàng linh hoạt, nhượng bộ nhẹ để đẩy hàng, nếu sau này không có cắt giảm sản xuất tập trung nào được thực hiện, cục diện cung ứng dồi dào sẽ tiếp tục duy trì.

Bảng tổng hợp giá thép cuộn cán nóng theo tuần (2026/7/24 - 2026/7/31)

3,0mm

 

 

 

4,75mm

 

 

 

24/7

31/7

Chênh lệch tuần

Khu vực

24/7

31/7

Chênh lệch tuần

Nhà máy chủ đạo

3370

3330

-40

Thượng Hải

3310

3270

-40

Bản Cương

3370

3340

-30

Hàng Châu

3330

3300

-30

Sa Cương

3380

3340

-40

Nam Kinh

3340

3300

-40

Trung Thiết

3360

3340

-20

Bắc Kinh

3310

3290

-20

Bao Cương

3240

3210

-30

Thiên Tân

3190

3160

-30

Bao Cương

3350

3330

-20

Thạch Gia Trang

3300

3280

-20

Hàm Cương

3240

3200

-40

Hàm Đan

3210

3170

-40

Thái Cương

3330

3290

-40

Lạc Tòng

3290

3250

-40

An Cương

3400

3370

-30

Trường Sa

3340

3310

-30

Vũ Cương

3310

3300

-10

Vũ Hán

3280

3270

-10

Thái Cương

3250

3230

-20

Thẩm Dương

3240

3220

-20

Phàn Cương

3310

3290

-20

Cáp Nhĩ Tân

3280

3260

-20

Liên Cương

3370

3330

-40

Trùng Khánh

3360

3320

-40

Thông Cương

3450

3400

-50

Thành Đô

3370

3320

-50

Phàn Cương

3510

3450

-60

Côn Minh

3450

3390

-30

Bát Cương

3370

3340

-30

Tây An

3270

3240

-30

Bao Cương

3280

3290

10

Lan Châu

3250

3260

10

Bát Cương

Giá bình quân thép cuộn cán nóng 3,0mm tuần này là 3316 NDT/tấn, giảm 30 so với tuần trước; giá bình quân 4,75mm là 3271 NDT/tấn, giảm 30 so với tuần trước.

Cuộn cán nguội

Tuần qua, thép tấm cán nguội trong nước tiếp tục diễn biến dao động yếu và giảm nhẹ trong mùa thấp điểm, thể hiện đặc điểm chi phí nới lỏng, nguồn cung thu hẹp ở mức cận biên, nhu cầu tiếp tục yếu, tồn kho giảm chậm. Thị trường rơi vào tình trạng "khó giảm sâu, khó tăng mạnh" trong giai đoạn tìm đáy, thương nhân chủ yếu bán hàng theo nhu cầu và kiểm soát tồn kho.

Diễn biến trong tuần qua chia làm hai giai đoạn: Nửa đầu tuần, giá hợp đồng tương lai thép cuộn cán nóng yếu đi, giá nguyên liệu nền hạ xuống, các khu vực đồng loạt giảm 10-20 NDT/tấn; nửa cuối tuần, các nhà máy thép tăng cường bảo dưỡng, đà giảm chậm lại, chỉ một số thị trường tồn kho cao giảm giá ngầm để xả hàng, giá niêm yết công khai giữ ổn định. Chênh lệch giá giữa thép cán nóng và thép cán nguội tiếp tục duy trì ở mức thấp, biên lợi nhuận gia công của nhà máy cán nguội tiếp tục bị áp lực, hầu hết doanh nghiệp duy trì ở mức lỗ nhẹ hoặc hòa vốn.

Quặng sắt, than cốc và than luyện kim biến động trong biên độ hẹp, nguyên liệu nền cho thép cán nguội (thép cuộn cán nóng) dao động trong khoảng 3270-3320 NDT/tấn, hỗ trợ chi phí thể hiện xu hướng giữ giá nhưng không đẩy giá: nguyên liệu giảm hạn chế đáy của thép cán nguội, nhưng không có động lực tăng giá để kéo giá giao ngay phục hồi; giá thanh toán cuối tháng 7 của các nhà máy thép phổ biến giảm, càng làm suy yếu khả năng giữ giá của thị trường giao ngay.

Hợp đồng tương lai nhóm sản phẩm thép đen biến động yếu, hợp đồng thép cán nguội và thép cán nóng chịu áp lực rõ rệt ở phía trên, cuộc chiến giữa bên mua và bên bán diễn ra gay gắt, thị trường tương lai không có đợt tăng kéo dài, khó có thể kéo tâm lý thị trường giao ngay ấm lên, sự liên kết giữa tương lai và giao ngay suy yếu.

Tuần này, tổng sản lượng của 5 loại sản phẩm thép chính giảm 19,13 nghìn tấn so với tuần trước, nhưng sản lượng thép tấm cán nguội phục hồi nhẹ; do ảnh hưởng của thua lỗ liên tục, nhiều dây chuyền sản xuất thép cán nguội tại Hoa Bắc và Hoa Đông đã sắp xếp bảo dưỡng định kỳ và giảm tải, lượng nguồn cung lưu thông giảm nhẹ, áp lực cung ứng ở mức cận biên được giảm bớt, nhưng công suất từ các máy cán mới tiếp tục được giải phóng, áp lực cung ứng trung dài hạn vẫn còn.

Tồn kho trong nhà máy tiếp tục giảm, các nhà máy thép kiểm soát giao hàng, phân phối nguồn hàng về thị trường địa phương, giảm lưu thông giữa các khu vực, phần nào giải quyết vấn đề nguồn hàng dồi dào tại một số khu vực.

Nhu cầu nằm sâu trong mùa thấp điểm truyền thống, chủ yếu là nhu cầu thiết yếu, không có tích trữ hàng tồn kho.

Ngành ô tô: Tháng 6-8 là điểm thấp theo chu kỳ của ngành, thời tiết nắng nóng kết hợp với mùa thấp điểm, các nhà máy lắp ráp liên tục thu hẹp kế hoạch sản xuất, chỉ duy trì sản xuất cốt lõi hàng tháng, việc tích trữ hàng tồn kho số lượng lớn trước thời hạn đã hoàn toàn ngừng lại, lượng đặt hàng thép cán nguội tiếp tục giảm theo tháng; các chính sách kích thích ô tô truyền đạt chậm, khó giải phóng nhu cầu tăng thêm trong ngắn hạn.

Ngành gia dụng: Kế hoạch sản xuất thiết bị trắng giảm so với cùng kỳ năm ngoái, doanh số nội địa điều hòa giảm đáng kể, tủ lạnh và máy giặt duy trì sản xuất ở mức thấp, các nhà máy gia công gia dụng mua theo nhu cầu, không dự trữ hàng trước, lượng mua cuối cùng tiếp tục thu hẹp.

Ngành cơ khí, kim loại, xuất khẩu: Các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ thiếu đơn hàng, vốn bị thắt chặt, nhịp độ mua hàng bị phân mảnh; xuất khẩu thép cán nguội bị áp chế bởi các vụ kiện chống bán phá giá và thuế carbon ở nước ngoài, khối lượng đơn hàng có hạn, khó bù đắp khoảng trống nhu cầu mùa thấp điểm trong nước.

Dự kiến giá thép tấm cán nguội tuần tới tiếp tục dao động trong biên độ hẹp.

XUẤT KHẨU

Thị trường xuất khẩu sắt thép Trung Quốc trong tuần qua tiếp tục trải qua một đợt suy giảm trầm trọng về mặt giá cả lẫn tâm lý giao dịch. Sự kết hợp giữa nhu cầu tiêu thụ ảm đạm tại các thị trường quốc tế, lượng tồn kho nội địa tăng cao và kết quả từ cuộc họp Bộ Chính trị Trung Quốc không đưa ra các biện pháp kích thích đủ mạnh đã khiến giá chào bán xuất khẩu của các nhà máy Trung Quốc liên tục bị đẩy xuống các mức đáy mới.

1. Phức hợp thép dài (Thép cây, Cuộn trơn và Phôi billet)

Thép cây

Giá cả & Xu hướng: Chỉ số giá thép cây FOB Trung Quốc liên tục sụt giảm, chốt tuần ở mức 468 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết FOB). Giá chào xuất khẩu từ các nhà máy lớn ở miền Bắc Trung Quốc đối với mác B500B phổ biến ở mức 480 - 486 USD/tấn FOB, mác HRB400 ở mức 470 - 475 USD/tấn FOB, và thép cây dạng cuộn HRB400 đứng ở 514 - 515 USD/tấn FOB. Một số chào hàng xuất khẩu thậm chí đã bị các nhà máy lớn rút lui khi giá nội địa lao dốc.  

Giao dịch & Tâm lý thị trường: Hoạt động mua bán đường biển diễn ra cực kỳ trầm lắng. Các đợt cắt giảm giá chào bán từ phía nhà máy Trung Quốc hầu như không thu hút được sự quan tâm của khách hàng quốc tế. Tại khu vực Đông Nam Á, người mua ở Hồng Kông và Singapore liên tục hạ giá đặt mua (bid) xuống 493 USD/tấn CFR (hoặc tương đương 470 USD/tấn FOB) đối với các lô hàng giao tháng 10, gây áp lực đàm phán rất lớn lên các nhà thương mại Trung Quốc.

Cuộn trơn (Wire rod)

Chỉ số giá dây thép cuộn FOB Trung Quốc hạ xuống mốc 492 - 493 USD/tấn FOB.  

Các nhà máy miền Bắc điều chỉnh giá chào xuất khẩu dây cuộn mác SAE1008 giao tháng 9 xuống quanh mức 497 - 505 USD/tấn FOB (một số nhà máy lớn miền Đông vẫn giữ mức chào cao từ 515 - 530 USD/tấn FOB cho loại hàm lượng carbon cao nhưng hoàn toàn mất tính cạnh tranh).  

Mức giá giao dịch thực tế đối với hầu hết các nhà máy đã dịch chuyển về mốc 500 USD/tấn FOB hoặc thấp hơn. Tuy nhiên, sức ép từ dây cuộn Indonesia (chào bán ở mức 480 USD/tấn FOB) khiến hàng Trung Quốc đắt hơn từ 20 - 30 USD/tấn, gây khó khăn lớn trong việc chốt hợp đồng. Các thương nhân dự báo giá chào dây cuộn Trung Quốc sẽ phải hạ thêm 5 - 8 USD/tấn trong ngắn hạn.  

Phôi thép (Billet)

Giá chào xuất khẩu phôi thanh 3SP/4SP của Trung Quốc đã hạ xuống mức 455 USD/tấn FOB cho các lô hàng giao cuối tháng 9.  

Tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, các thương nhân Trung Quốc chào bán phôi thép ở mức 505 - 510 USD/tấn CFR. Dù vậy, tâm lý người mua tại đây vẫn rất thận trọng do sự thiếu ổn định của giá tương lai và giá giao ngay tại Trung Quốc.  

Mặc dù vậy, mức giá phôi chào thấp này bắt đầu kích thích một số hoạt động mua giao ngay hưởng chênh lệch giá (arbitrage) từ các nhà thương mại quốc tế.  

2. Phức hợp thép dẹt (Thép cuộn cán nóng - HRC, CRC, HDG và Phôi phiến)

Thép cuộn cán nóng (HRC)

Giá xuất khẩu: Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm xuống mức 480 - 484 USD/tấn FOB.  

Phân khúc giá: Các công ty thương mại chủ động giảm giá bán mác Q235 từ các nhà máy nhỏ ở miền Bắc xuống 475 - 485 USD/tấn FOB. Đối với mác SS400 từ các nhà máy lớn, giá chào duy trì ở mức 490 - 500 USD/tấn FOB.  

Chào bán khu vực: Tại thị trường Đông Nam Á (đặc biệt là Việt Nam), HRC mác Q195 Trung Quốc được chào ở mức 495 USD/tấn CFR, với một số lô hàng nhỏ chốt thành công ở mức 490 USD/tấn CFR (phục vụ mục đích tái xuất để miễn thuế AD). Tại Thổ Nhĩ Kỳ, HRC Q235 Trung Quốc được chào ở 540 USD/tấn CFR và Q195 ở mức 525 - 535 USD/tấn CFR. Hầu hết người mua đường biển vẫn giữ thái độ im lặng, mức giá kỳ vọng của họ đặt ra chỉ ở 475 USD/tấn FOB hoặc thấp hơn.

Thép cuộn cán nguội (CRC) & Thép mạ kẽm (HDG)

CRC (mác SPCC): Giá chào xuất khẩu phổ biến giảm về mức 540 - 555 USD/tấn FOB tùy theo uy tín nhà máy và điều kiện giao hàng.  

HDG (mác SGCC): Giá chào xuất khẩu dao động trong khoảng 546 - 585 USD/tấn FOB. Thị trường xuất khẩu thép mạ gặp thêm trở ngại khi Nhật Bản chính thức tuyên bố kéo dài thời hạn điều tra chống bán phá giá đối với các sản phẩm thép mạ kẽm nhúng nóng nhập khẩu từ Trung Quốc đến tháng 12/2026.  

Phôi phiến (Slab):Đánh giá giá Slab FOB Châu Á hàng tuần giảm 7 USD/tấn xuống còn 463 USD/tấn FOB.  

Các nhà máy Trung Quốc không đưa ra mức giá chào chính thức mà ưu tiên đàm phán trực tiếp theo từng đơn hàng. Giá chào tham chiếu cho Slab mác S235JR xuất xứ Trung Quốc ước tính ở mức 470 USD/tấn FOB. Giá thép cuộn giảm liên tục trong nước và sức mua yếu tại Châu Âu/Bắc Mỹ mùa hè đã đè nặng lên giá xuất khẩu Slab.  

3. Động lực thị trường và các yếu tố tác động

Tác động thất vọng từ Hội nghị Bộ Chính trị Trung Quốc: Cuộc họp Bộ Chính trị kỳ tháng 7 của cơ quan ra quyết định Trung ương Trung Quốc đã không đưa ra được các chính sách hỗ trợ kinh tế hay gói kích thích quy mô lớn cho ngành bất động sản như kỳ vọng của giới đầu tư. Việc lặp lại các thông điệp ổn định chung chung đã giáng một đòn mạnh vào tâm lý thị trường, khiến giá thép tương lai và giao ngay lập tức quay đầu giảm sâu.  

Áp lực tồn kho gia tăng trong bối cảnh sản lượng vẫn cao: Dù một số khu vực như Đường Sơn thực hiện cắt giảm 20% công suất lò cao tạm thời, sản lượng thép thành phẩm nhìn chung vẫn duy trì ở mức tương đối cao. Tồn kho thép cây tại các công ty thương mại Trung Quốc tăng tới 34% so với cùng kỳ năm trước (đạt 5,17 triệu tấn). Tồn kho HRC cũng tăng thêm 50.000 tấn trong tuần. Sự lệch pha giữa cung cao và cầu yếu do thời tiết nắng nóng/mưa lớn khiến áp lực xả hàng tồn kho đè nặng lên các nhà xuất khẩu.  

Sự suy yếu của giá nguyên liệu thô (Than cốc & Quặng sắt): Giá than luyện cốc trên Sàn Đại Liên giảm mạnh (có thời điểm giảm hơn 4.4%) cùng với việc các nhà máy thép liên tục ép hạ giá thu mua than cốc (giảm 50 - 55 NDT/tấn) đã làm mất đi điểm tựa về chi phí sản xuất. Chi phí đầu vào giảm khiến các nhà máy có thêm dư địa xả bán thép xuất khẩu giá rẻ.  

Sự thận trọng của thị trường tài chính & vĩ mô toàn cầu: Tâm lý chờ đợi quyết định lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cùng sự sụt giảm của giá dầu thô thế giới đã làm suy yếu sức mua trên toàn bộ phức hợp hàng hóa cơ bản, buộc các nhà nhập khẩu quốc tế (Đông Nam Á, Trung Đông, Nam Mỹ) ưu tiên đứng ngoài quan sát và trì hoãn việc đặt đơn hàng mới.