Thị trường thép Trung Quốc ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm sản phẩm. Thép xây dựng tiếp tục xu hướng tăng nhẹ nhờ tồn kho ở mức thấp và kỳ vọng tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh, trong khi thép dẹt chịu áp lực từ nhu cầu hạ nguồn yếu và tâm lý thận trọng. Đáng chú ý, CISA tiếp tục kêu gọi các nhà sản xuất thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho, trong bối cảnh sản lượng thép thô tháng 8 giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 74,61 triệu tấn. Trên thị trường quốc tế, giá quặng sắt phục hồi trên mức 96 USD/tấn nhờ giá thép Trung Quốc tăng và hoạt động bổ sung tồn kho của các nhà máy trước kỳ nghỉ lễ.
TRONG NƯỚC
+ THÉP XÂY DỰNG
Ngày 17/9, thị trường thép xây dựng Trung Quốc tiếp tục đà tăng nhẹ với giá giao kho tại Thượng Hải tăng 10 NDT/t lên 3.140 NDT/t. Hợp đồng tương lai thép cây kỳ hạn tháng 1 trên SHFE giảm 4 NDT/t, đóng cửa tại 3.122 NDT/t. Đà tăng đang cho thấy dấu hiệu chậm lại do chi phí nguyên liệu thô đã hạ nhiệt.
Tồn kho và tiêu thụ: Lượng tồn kho thép cây nắm giữ bởi các công ty thương mại và nhà máy thép đã giảm tổng cộng 160.000 tấn so với tuần trước, xuống còn 6,36 triệu tấn trong tuần này. Tiêu thụ thép cây đã tăng 40.000 tấn trong tuần lên 1,90 triệu tấn. Việc lượng tồn kho giảm phù hợp với kỳ vọng của thị trường, do hoạt động xây dựng thường tăng mạnh trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh bắt đầu từ ngày 1/10. Tuy nhiên, mức tiêu thụ thép cây hiện vẫn thấp hơn mức trung bình cùng kỳ năm ngoái là 2,1-2,2 triệu tấn/tuần.
Hỗ trợ từ nguyên liệu thô suy yếu: Sức hỗ trợ giá cho thép cây từ phía nguyên liệu thô đã suy yếu trong tuần này do giá than cốc giao ngay giảm. Giá than cốc chất lượng cao tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/t xuống còn 2.510 NDT/t giao tại xưởng tuyển (ex-washery) vào ngày 16/9. Các thành viên thị trường cho biết, đà phục hồi của giá thép cây kể từ cuối tháng 8 chủ yếu được thúc đẩy bởi giá than tăng cao hơn là do tiêu thụ mạnh hơn. Áp lực giảm đối với giá thép có thể sẽ tăng lên nếu giá nguyên liệu thô tiếp tục sụt giảm.
Giao dịch khu vực: Tổng khối lượng giao dịch thép tại các thành phố trọng điểm toàn quốc ngày 17/9 đạt 209.600 tấn, giảm 30.300 tấn (tương đương 12,64%) so với phiên trước; trong đó thép xây dựng đạt 101.100 tấn, giảm 20,77%. So với tuần trước, khối lượng giao dịch thép xây dựng tăng 11,54%; so với tháng trước giảm 14,62%; so với cùng kỳ năm ngoái giảm 9,17%.
Giá tại các thị trường trọng điểm
Vũ Hán: Giá HRB400E Φ18mm của Baowu Egang và Baowu Wugang ở mức 3.220 NDT/t, Wugang Hangang 3.190 NDT/t, đi ngang. Hoạt động giao dịch đạt 6.600 tấn từ 13 mẫu thương nhân, giảm 3.000 tấn.
Nam Xương: Giá HRB400E Φ18mm của Nanchang Steel ở mức 3.050 NDT/t, Wugang Hangang 3.040 NDT/t, đi ngang.
Thái Nguyên: Giá thép cây chủ lực của Shougang ở mức 3.270 NDT/t, tăng 10 NDT/t; thép cuộn vằn 3.470 NDT/t, tăng 20 NDT/t; giao dịch đạt 4.240 tấn từ 10 mẫu doanh nghiệp, giảm 740 tấn.
Hàng Châu: Giá thép cây của Zhongtian ở mức 3.140 NDT/t.
Trường Sa: Giá thép cây của Pinggang và Lenggang ở mức 3.190 NDT/t, Xianggang 3.210 NDT/t, Liangang 3.240 NDT/t.
Quảng Châu: Giá chủ lực của Shaoxiang ở mức 3.310 NDT/t, Guangjigang và Guixin 3.200-3.290 NDT/t, đi ngang; giao dịch đạt 15.200 tấn, giảm 7.700 tấn.
Bắc Kinh: Thị trường ghi nhận tâm lý cải thiện so với phiên trước, lượng hỏi hàng tăng nhưng tỷ lệ chốt đơn không cao, người mua vẫn thận trọng; giá báo cơ bản ổn định.
Hợp Phì: Giá HRB400E Φ18mm của Magang 3.420 NDT/t, Baowu Changjiang 3.350 NDT/t, Mianyuan 3.330 NDT/t, đi ngang; giao dịch đạt 3.835 tấn, giảm 1.314 tấn.
Trịnh Châu: Giá thép cây của Jingang, Mianyuan 3.180 NDT/t, thép cuộn vằn 3.450 NDT/t, đi ngang; giao dịch đạt 3.130 tấn, giảm 1.480 tấn.
Về cung ứng: Tính đến ngày 9/9, trong tổng số 201 nhà máy, có 50 nhà máy với 91 lò cao đang bảo trì, tổng dung tích 98.810 m³, tăng 7.600 m³ so với tuần trước. Tỷ lệ vận hành lò cao của các doanh nghiệp thép chính đạt 78,08%, giảm 0,66 điểm phần trăm so với tuần trước. Tại Sơn Tây, 12 nhà máy thép xây dựng được khảo sát có 10 dây chuyền thép cây hoạt động bình thường, tỷ lệ vận hành 67%; 17 dây chuyền thép cuộn vằn hoạt động, tỷ lệ 63%. Sản lượng thép cây hàng ngày khoảng 21.000 tấn, đi ngang; sản lượng thép cuộn vằn 38.500 tấn, giảm 500 tấn. Tồn kho thép xây dựng tại các nhà máy Sơn Tây khoảng 564.000 tấn, giảm 29.800 tấn so với tuần trước.
Sản lượng toàn quốc: Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Sản lượng thép thô tháng 8 của Trung Quốc đạt 74,61 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái; sản lượng gang đạt 67,65 triệu tấn, giảm 3,5%; sản lượng thép thành phẩm đạt 114,75 triệu tấn, giảm 5,5%. Lũy kế 8 tháng, sản lượng thép thô đạt 651,85 triệu tấn, giảm 3,1%; gang đạt 563,40 triệu tấn, giảm 3,1%; thép thành phẩm đạt 950,75 triệu tấn, giảm 1,7%. Sản lượng thép thô bình quân ngày tháng 8 đạt 2,407 triệu tấn, giảm 3,0% so với tháng 7; gang đạt 2,182 triệu tấn, giảm 1,0%; thép thành phẩm đạt 3,702 triệu tấn, giảm 1,5%.
Sản lượng thép xây dựng 8 tháng: Sản lượng thép cây đạt 113,54 triệu tấn, giảm 11,8% so với cùng kỳ; thép cuộn vằn đạt 83,40 triệu tấn, giảm 6,5%.
Đầu tư: Đầu tư bất động sản 8 tháng đầu năm giảm 19,9% so với cùng kỳ; đầu tư cơ sở hạ tầng giảm nhẹ; đầu tư tài sản cố định giảm 7,2%. Nhu cầu thép xây dựng vẫn chịu áp lực từ lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, hoạt động tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh và hiệu ứng từ chính sách kiểm soát sản lượng của CISA được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giá trong ngắn hạn.
Dự báo ngày 18/9: Giá thép xây dựng duy trì xu hướng ổn định/yếu, dao động trong vùng 3.100-3.180 NDT/t. Các nhà máy có thể giữ hoặc điều chỉnh giảm nhẹ giá để kích cầu; người mua duy trì chiến lược mua theo nhu cầu thực tế. Lực cầu từ hoạt động tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giá trong ngắn hạn, nhưng mức độ còn phụ thuộc vào tiến độ giải ngân của các dự án xây dựng.
+ THÉP CÔNG NGHIỆP
Thép cuộn cán nóng (HRC)
Ngày 17/9, giá HRC chủ đạo giao kho tại Thượng Hải không đổi ở mức 3.330 NDT/t (496,50 USD/tấn). Các bên bán giữ giá đi ngang so với một ngày trước đó, nhưng hoạt động giao dịch trên thị trường giao ngay đã chậm lại. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE giảm 0,12% so với giá thanh toán phiên trước, xuống còn 3.317 NDT/t.
Tồn kho và sản lượng: Lượng tồn kho HRC nắm giữ bởi các công ty thương mại và nhà máy thép đã giảm 30.000 tấn so với tuần trước, so với mức giảm 20.000 tấn của tuần trước nữa. Tuy nhiên, các nhà máy thép đã cắt giảm sản lượng HRC gần 40.000 tấn trong tuần. Việc xả kho chậm hơn trong tuần này so với kỳ vọng của thị trường, xét đến việc các nhà máy thép cắt giảm sản lượng, đã gây sức nặng lên tâm lý thị trường trong ngày hôm nay.
Bảo trì lò cao: Ngày càng có nhiều nhà máy thép công bố kế hoạch bảo trì lò cao trong những ngày gần đây, chủ yếu là do thua lỗ trong sản xuất. Các nhà máy thép Trung Quốc hiện đang gánh khoản lỗ 250-300 NDT/t đối với HRC.
Giao dịch khu vực: Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 52.800 tấn, giảm 1.600 tấn so với phiên trước. Giao dịch chủ yếu tập trung vào các đơn hàng nhỏ, mua theo nhu cầu thực tế; hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng.
Dự báo ngày 18/9: HRC tiếp tục đi ngang hoặc giảm nhẹ, vùng 3.300-3.360 NDT/t; áp lực từ nguồn cung và tốc độ giải phóng tồn kho chậm. Tâm lý thị trường chịu ảnh hưởng từ đà giảm của hợp đồng kỳ hạn và nhu cầu hạ nguồn yếu.
Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)
Ngày 17/9, giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.767 NDT/t, đi ngang so với phiên trước. Tại các thị trường trọng điểm: Thượng Hải 3.740 NDT/t; Quảng Châu 3.760 NDT/t; Thiên Tân 3.670 NDT/t.
Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.069 NDT/t, đi ngang; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.409 NDT/t, giảm 2 NDT/t. Giao dịch duy trì trạng thái trầm lắng.
Thị trường ghi nhận sự phân hóa: khu vực Hoa Đông chịu áp lực giảm giá, trong khi khu vực Hoa Nam và Hoa Bắc thể hiện khả năng chống giảm tốt hơn. Nhu cầu từ các ngành thiết bị gia dụng, ô tô vẫn yếu, người mua duy trì chiến lược mua cầm chừng, chỉ bổ sung các loại quy cách cần thiết cho sản xuất. Tồn kho CRC toàn quốc duy trì ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây, gây áp lực lên giá. Các nhà máy duy trì sản xuất ổn định, nguồn cung không có biến động lớn.
Dự báo ngày 18/9: CRC/HDG phân hóa; CRC yếu, HDG/tôn phủ màu có thể ổn định nhờ nhà máy giữ giá, nhưng chi phí đầu vào hạ nhiệt.
Thép tấm (Plate)
Ngày 17/9, giá thép tấm trung dày tiếp tục chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào và nhu cầu yếu. Khối lượng giao dịch duy trì ở mức thấp. Tồn kho xã hội tại Vũ An có xu hướng giảm nhẹ so với tuần trước. Các nhà máy duy trì sản lượng ổn định, chưa có kế hoạch cắt giảm mạnh.
Dự báo ngày 18/9: Thép tấm đi ngang hoặc giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào, nhu cầu yếu.
Thép hình (Section steel)
Ngày 17/9, giá thép hình trong nước tiếp tục xu hướng suy yếu. Các chủng loại thép hình chịu áp lực giảm giá từ nhu cầu yếu và tồn kho cao. Chênh lệch giá phôi - thành phẩm thu hẹp. Tồn kho thành phẩm thép hình toàn quốc có xu hướng giảm nhẹ, chủ yếu nhờ cắt giảm nguồn cung. Tỷ lệ vận hành của các nhà máy thép hình dài duy trì ở mức thấp. Khối lượng xuất xưởng hàng tuần của các nhà máy phôi tại Đường Sơn giảm so với tuần trước.
Dự báo ngày 18/9: Thép hình duy trì xu hướng ổn định/yếu, chịu áp lực từ nhu cầu yếu và tồn kho cao.
+ NGUYÊN LIỆU THÔ
Cốc luyện kim (Coke)
Ngày 17/9, thị trường cốc luyện kim Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định sau khi vòng tăng giá thứ năm với mức tăng 100-110 NDT/t đã chính thức được chấp nhận và có hiệu lực. Cụ thể: cốc khô loại 1 tại Đường Sơn (Hà Bắc) đạt 2.560 NDT/t; cốc khô loại 1 tại Trường Trị (Sơn Tây) đạt 2.360 NDT/t; cốc khô loại 1 xuất xưởng tại Lâm Nghi (Sơn Đông) đạt 2.460 NDT/t. Giá cốc khô loại 1 tại cảng (xuất kho) ở mức 1.980 NDT/t. Giá cốc tại Đường Sơn ở mức 2.215 NDT/t, đi ngang.
Chi phí và lợi nhuận: Lỗ bình quân của các nhà máy cốc độc lập ở mức cao. Chi phí sản xuất cốc bình quân đạt 2.546 NDT/t, giá thị trường 2.390 NDT/t, lỗ lý thuyết 156 NDT/t, mức lỗ giảm 5 NDT/t so với tuần trước. Cụ thể: Thiểm Tây lỗ 195 NDT/t; Nội Mông lỗ 248 NDT/t; Ninh Hạ lỗ 265 NDT/t; Hà Bắc lỗ 139 NDT/t; Sơn Tây lỗ 148 NDT/t; Sơn Đông lãi 58 NDT/t. Vòng tăng giá thứ năm đã giúp các nhà máy cốc giảm bớt thua lỗ, một số doanh nghiệp đã chủ động tăng sản lượng, tỷ lệ vận hành của các nhà máy cốc tăng nhẹ. Tồn kho cốc duy trì ở mức thấp và tiếp tục xu hướng giảm.
Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng cốc kỳ hạn tháng 1 trên Sở Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 0,63% trong ngày 17/9, đóng cửa tại 2.043,5 NDT/t, giảm 13 NDT/t so với phiên trước, gây áp lực trực tiếp lên tâm lý thị trường. Về cung cầu, một số nhà máy cốc đã chủ động cắt giảm sản lượng sau giai đoạn thua lỗ sâu, duy trì tồn kho ở mức thấp. Phía cầu, một số nhà máy thép thực hiện bảo trì do thua lỗ, sản lượng gang lỏng giảm, nhưng nhu cầu cốc cơ bản vẫn còn. Nhu cầu mua than luyện cốc của các nhà máy thép vẫn duy trì, tồn kho than luyện cốc trong chuỗi tiếp tục xu hướng giảm. Hiện tại, các nhà máy cốc và nhà máy thép chưa đạt được đồng thuận về vòng tăng giá thứ sáu.
Dự báo ngày 18/9: Giá cốc tiếp tục duy trì xu hướng ổn định, nhưng rủi ro phản hồi tiêu cực từ nhu cầu thép vẫn hiện hữu. Khả năng tiếp tục tăng giá được đánh giá không cao do tâm lý thị trường yếu và nhu cầu hạ nguồn ảm đạm. Thị trường đang trong giai đoạn giằng co vùng cao.
Than mỡ luyện cốc (Coking coal)
Ngày 17/9, giá than mỡ luyện cốc ổn định. Tại Đường Sơn: 2.265 NDT/t (ổn định); than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần: 2.620 NDT/t (ổn định); than gầy Hàn Thành: 1.760 NDT/t (tăng 60 NDT/t). Than nguyên khai mác 5 Mông Cổ: 1.657 NDT/t. Giá than cốc chất lượng cao tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/t xuống còn 2.510 NDT/t giao tại xưởng tuyển (ex-washery) vào ngày 16/9.
Nguồn cung: Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than phục hồi sản xuất nhưng tốc độ chậm, một số mỏ than tại Sơn Tây vẫn đang tạm dừng hoạt động. Tâm lý thận trọng gia tăng, giá đấu giá trực tuyến một số chủng loại than giảm, tỷ lệ đấu giá thất bại tăng. Các thương nhân trung gian lo ngại giá giảm trong tương lai nên chủ yếu tập trung vào việc xuất hàng. Tuy nhiên, tại khu vực Lữ Lương, giá than cốc chủ lực giảm 100 NDT/t; tại Lâm Phần, than luyện cốc giảm 40 NDT/t, cho thấy tín hiệu hạ nhiệt từ nguyên liệu đầu vào.
Nhập khẩu than Mông Cổ: Lượng thông quan qua biên giới duy trì ở mức thấp, phổ biến khoảng 500-800 xe/ngày, chưa phục hồi về mức bình thường. Mặc dù vậy, đà phục hồi của thông quan đã bắt đầu xuất hiện sau khi các hạn chế về nguồn cung nhiên liệu của Mông Cổ được giải tỏa. Chính quyền tỉnh Sơn Tây đã yêu cầu các mỏ than địa phương đẩy nhanh việc nối lại sản xuất và đảm bảo nguồn cung than ổn định đồng thời đảm bảo an toàn.
Dự báo ngày 18/9: Than mỡ luyện cốc duy trì vùng giá cao, đi ngang hoặc tăng nhẹ. Thị trường bước vào chu kỳ biến động mạnh với đà tăng bị hạn chế bởi nguồn cung phục hồi, trong khi đà giảm bị hạn chế bởi tồn kho thấp và kỳ vọng nhu cầu mùa cao điểm. Tuy nhiên, đà giảm của giá than cốc giao ngay đang làm suy yếu hỗ trợ chi phí cho thép.
Quặng sắt (Iron ore)
Ngày 17/9, quặng sắt nhập khẩu suy yếu. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu: 679 NDT/t (giảm 2 NDT/t); Thanh Đảo PB: 677 NDT/t (tăng 1 NDT/t); Thiên Tân PB 61,5%: 698 NDT/t (đi ngang). Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE tăng 0,28% trong ngày, đóng cửa tại 710,5 NDT/t, tăng 2 NDT/t so với phiên trước. Trên thị trường hoán đổi, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Singapore đạt 96,25 USD/tấn, tăng 0,47%.
Thị trường quốc tế: Giá quặng sắt đã chặn đứng chuỗi giảm năm phiên liên tiếp, ổn định ở mức trên 96 USD/tấn khi giá thép Trung Quốc nhích lên trong bối cảnh tâm lý kinh tế vĩ mô được cải thiện và hoạt động bổ sung hàng tồn kho trước kỳ nghỉ lễ của các nhà máy thép. Quặng sắt mịn loại 62% Fe của Australia giao đến Trung Quốc đã tăng 0,35 USD lên 96,75 USD, phục hồi từ mức thấp nhất trong một tháng.
Tồn kho và nhập khẩu: Các nhà máy thép Trung Quốc đã mở rộng lượng tồn kho quặng sắt thêm 2,3 triệu tấn để đạt 90,4 triệu tấn trong tuần trước nhằm đảm bảo hoạt động lò cao diễn ra ổn định suốt kỳ nghỉ Tết Trung thu và Quốc khánh sắp tới. Chi phí khởi động lại và đóng cửa cao buộc các hoạt động phải tiếp tục diễn ra bất chấp biên lợi nhuận bị bóp nghẹt. Việc nhà máy tăng cường mua sắm đã đẩy nhanh lượng hàng thông qua cảng, làm giảm tổng lượng tồn kho trên 47 cảng xuống còn 170,2 triệu tấn. Trong khi đó, lượng tàu đến đã tăng lên 127 tàu, củng cố kỳ vọng đạt khối lượng nhập khẩu hàng tháng là 120 triệu tấn vào tháng 9.
Dự báo ngày 18/9: Quặng sắt tiếp tục yếu, còn rủi ro giảm; nhu cầu mua của nhà máy thận trọng. Giá quặng sắt có thể dao động trong vùng 670-710 NDT/t. Thị trường thiếu động lực tăng trong ngắn hạn do nguồn cung dồi dào và nhu cầu thép yếu. Tuy nhiên, các thành viên thị trường cho biết trong khi việc kiểm soát sản lượng phối hợp bởi các nhà máy thép đã củng cố giá thép và thúc đẩy tăng trưởng quặng sắt trong ngắn hạn, nhu cầu cơ bản yếu và thặng dư nguồn cung liên tục có nghĩa là giá sẽ có khả năng duy trì dao động trong biên độ (range-bound) trong ngắn hạn.
Phế liệu (Scrap)
Ngày 17/9, giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định đến yếu. Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze đạt 2.082 NDT/t, tăng 1 NDT/t; chỉ số giá phế liệu nặng 2.056 NDT/t (tăng 1 NDT/t); chỉ số giá phế liệu vụn 2.108 NDT/t (tăng 1 NDT/t).
Cụ thể theo khu vực: Đường Sơn 2.040 NDT/t (đi ngang); Trương Gia Cảng 2.060 NDT/t (đi ngang).
Cung cầu: Nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, tâm lý giữ giá của các cơ sở thu mua suy yếu. Nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế, tiến độ thu mua chậm lại. Tồn kho phế liệu ở mức thấp lành mạnh, duy trì xu hướng giảm nhẹ. Các nhà máy thép hạ giá thu mua phế liệu để kiểm soát chi phí trong bối cảnh lợi nhuận bị thu hẹp. Thị trường phế liệu chịu áp lực từ triển vọng nhu cầu thép thành phẩm yếu. Hiện tại, các nhà máy lò cao đang điều chỉnh cơ cấu liệu, tăng tỷ lệ sử dụng phế liệu do tính kinh tế cao hơn so với gang lỏng. Các nhà máy lò điện (EAF) chịu áp lực thua lỗ lớn hơn, đặc biệt tại Tứ Xuyên khi ưu đãi thủy điện mùa hè suy giảm, khiến mức tiêu thụ phế liệu trong khu vực khó tăng.
Dự báo ngày 18/9: Giá phế liệu duy trì ổn định, dao động trong biên độ hẹp. Áp lực giảm giá có thể gia tăng nếu giá thép thành phẩm tiếp tục suy yếu.
Phôi thép (Billet)
Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn ngày 17/9 ở mức 3.020 NDT/t, đi ngang so với phiên trước. Một số nhà máy Indonesia duy trì giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 480 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
Dự báo ngày 18/9: Phôi thép duy trì xu hướng ổn định/yếu, chịu áp lực từ giá quặng sắt và than luyện cốc giảm. Các nhà máy có thể điều chỉnh giảm nhẹ giá phôi để kích cầu.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Ngày 17/9, thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế. Triển vọng thị trường không chắc chắn đã khiến người mua chần chừ không mua hàng.
HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc ổn định ở mức 497 USD/tấn FOB. Các nhà máy thép lớn vẫn giữ giá xuất khẩu đối với HRC mác Q235 và SS400 ổn định ở mức 495-505 USD/tấn FOB Trung Quốc. Một nhà máy miền Bắc Trung Quốc giữ vững giá HRC SS400 ở mức 503-505 USD/tấn FOB, sau khi các giao dịch được chốt trong khoảng giá này vào đầu tuần. Các giao dịch đối với HRC Q235 đã chốt ở mức 530 USD/tấn CFR Pakistan gần đây, quy đổi lại tương đương khoảng 495 USD/tấn FOB Trung Quốc. Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc có khả năng vẫn duy trì vững chắc trong ngắn hạn, xét đến sự hỗ trợ chi phí vững chắc và kế hoạch cắt giảm sản lượng của các nhà máy.
Tại khu vực ASEAN, giá HRC không đổi ở mức 536 USD/tấn CFR Việt Nam. Thị trường Việt Nam ổn định trong ngày 17/9, khi người mua tỏ ra ít quan tâm đến HRC nhập khẩu. Các giá chào cho HRC xuất xứ từ Nhật Bản ở mức 520 USD/tấn FOB, tương đương khoảng 550-555 USD/tấn CFR Việt Nam, nhưng mức giá này quá cao để thu hút người mua.
Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Giá thép cây tại các thành phố lớn trong nước đứng ở mức 3.120-3.180 NDT/t (465-474 USD/tấn) tính theo trọng lượng lý thuyết. Giá chào bán thép cây của Trung Quốc sang Singapore giữ nguyên ở mức 510-520 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết, tương đương 485-495 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết.
Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc ổn định ở mức 499 USD/tấn FOB, với các nhà máy Trung Quốc duy trì giá chào xuất khẩu ở mức 497-515 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 10. Giá chào dây cuộn của Indonesia ổn định ở mức 510 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
Phôi thép (Billet): Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn đi ngang ở mức 3.020 NDT/t. Giá chào phôi thép của Indonesia ổn định ở mức 480 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
CRC/HDG: CRC mác SPCC chào 560 USD/tấn FOB; HDG mác SGCC chào 565-635 USD/tấn FOB. Thép tấm mác Q235 chào 538 USD/tấn FOB.
Thép tấm (Plate): Giá chào phổ biến đối với thép tấm xuất xứ Trung Quốc dao động ở mức 560-565 USD/tấn FOB đối với mác SS400; mác Q355 chào 580 USD/tấn CFR Việt Nam.
Bối cảnh quốc tế
GCC: Giá nhập khẩu HRC CFR UAE tăng 15 USD/tấn lên 590 USD/tấn do chi phí vận chuyển cao và nguồn cung từ các xuất xứ chính giảm. Các chào giá HRC độ dày 3mm từ Trung Quốc ở mức 590-600 USD/tấn CFR UAE; trên cơ sở FOB khoảng 510 USD/tấn, cước vận chuyển tăng lên khoảng 90 USD/tấn.
EU: Giá HRC Tây Bắc EU giảm 5 EUR/tấn xuống 730,75 EUR/tấn xuất xưởng; Ý giảm 2 EUR/tấn xuống 736 EUR/tấn xuất xưởng. Chỉ số HRC Ý hàng ngày nhích giảm 2 EUR/tấn xuống còn 736 EUR/tấn xuất xưởng. Đánh giá CFR Ý tăng 10 EUR/tấn lên 600 EUR/tấn.
Anh: Giá HRC giảm 10 GBP/tấn xuống 695 GBP/tấn DDP Tây Midlands.
Thổ Nhĩ Kỳ: Giá thép cây FOB tăng 7,50 USD/tấn lên 612,50 USD/tấn FOB; giá thép cây nội địa tăng 2,50 USD/tấn lên 630 USD/tấn xuất xưởng. Giá dây thép cuộn FOB tăng 12,50 USD/tấn lên 620 USD/tấn FOB.
Brazil: Các nhà máy giảm giá chào thép dẹt do tồn kho tăng; HRC xuất xưởng giảm xuống 3.600-3.750 BRL/tấn; CRC giảm xuống 4.500-4.600 BRL/tấn; HDG giảm xuống 4.500-4.800 BRL/tấn.
Phôi dẹt (Slab): Giá CFR Ý ổn định ở 575 USD/tấn; khu vực Biển Đen giảm 5 USD/tấn xuống 475 USD/tấn. Các nhà cung cấp Trung Quốc giữ giá đi ngang cho lô hàng tháng 12. Indonesia nâng giá chào thêm 5 USD/tấn lên 490 USD/tấn FOB. Brazil nâng giá chào lên 580 USD/tấn FOB.
Rào cản thương mại và logistics: Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics. Cước vận tải cho các lô hàng phôi thép từ Trung Quốc đi Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng lên 50-55 USD/tấn. Tình trạng tắc nghẽn tại các cảng Jeddah và Fujairah vẫn tiếp diễn, cảng Jebel Ali phần lớn vẫn không thể tiếp cận được. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài, tạo cơ hội cho thép nhập khẩu.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Ngắn hạn ngày 18/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Các yếu tố chi phối bao gồm:
Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; giá than mỡ luyện cốc duy trì vùng cao; quặng sắt biến động yếu. Tuy nhiên, NDRC đã họp về tăng cường vận chuyển than từ Tân Cương và DCE áp hạn mức giao dịch quặng sắt trong ngày nhằm hạn chế đầu cơ, tạo áp lực lên nguyên liệu. Giá cốc và quặng sắt trên thị trường kỳ hạn đang có dấu hiệu suy yếu, phản ánh kỳ vọng thị trường về nguồn cung nguyên liệu gia tăng trong thời gian tới. Đáng chú ý, giá than cốc giao ngay tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/t, cho thấy hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu đang suy yếu.
Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Kỳ vọng Fed tăng lãi suất đang gây áp lực lên tâm lý thị trường. Hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng, các giao dịch chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực từ hoạt động giao dịch khi tổng khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm tăng 5,87% so với tuần trước, cho thấy nhu cầu thực tế có dấu hiệu cải thiện. Mặc dù vậy, so với phiên trước, khối lượng giao dịch ngày 17/9 đã giảm 12,64%, cho thấy sự thiếu bền vững của đà phục hồi.
Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 8 tháng giảm 19,9%, diện tích khởi công mới giảm mạnh. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Sản lượng thép thô tháng 8 giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tồn kho vẫn tương đối cao. Đáng chú ý, sản lượng thép cây 8 tháng giảm 11,8% và thép cuộn vằn giảm 6,5% so với cùng kỳ, phản ánh mức độ suy yếu của nhu cầu xây dựng.
Chính sách và can thiệp thị trường: Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. CISA nhấn mạnh ngành thép đã bước vào giai đoạn "giảm lượng và tối ưu hóa", với đặc điểm "cung mạnh, cầu yếu, giá thấp, lợi nhuận yếu". CISA kêu gọi các doanh nghiệp thép tuân thủ nguyên tắc "tam định tam bất yếu" (ba xác định, ba không), kiên trì ưu tiên hiệu quả, tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, và giảm tồn kho cao. Tuy nhiên, việc cắt giảm sản lượng tự nguyện vấp phải những trở ngại đáng kể. Các nhà máy đơn lẻ vẫn duy trì quyền kiểm soát các quyết định sản xuất; cắt giảm sản lượng có nguy cơ mất doanh số và thị phần vào tay các đối thủ giữ nguyên sản lượng. Thua lỗ kéo dài là động lực mạnh mẽ hơn cho việc cắt giảm sản lượng so với sáng kiến của ngành. Khả năng sinh lời của các nhà máy Trung Quốc đã giảm xuống dưới 10% tính đến ngày 11/9; khoản lỗ 150-200 NDT/tấn dự kiến sẽ khuyến khích một số việc cắt giảm sản lượng, nhưng hầu hết các nhà máy đều miễn cưỡng đóng cửa thêm các lò cao trừ khi dòng tiền rơi vào áp lực nghiêm trọng. Tỷ lệ vận hành lò cao vẫn duy trì ở mức tương đối cao 80-85% vào đầu tháng 9.
Phân hóa sản phẩm: Thép dài và HRC được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng mùa vụ, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi nhu cầu. CRC/HDG tăng chậm hơn; thép tấm chịu áp lực từ cung dồi dào, cầu yếu. Thép hình duy trì xu hướng yếu do tồn kho cao và nhu cầu xây dựng chưa phục hồi. Đáng chú ý, các nhà máy lớn như Baosteel, Ansteel, Shougang đã công bố tăng giá thép dẹt tháng 10 thêm 100-200 NDT/tấn, phản ánh nỗ lực chuyển chi phí tăng sang thị trường. Tuy nhiên, "nhà máy tăng, thị trường không tăng" vẫn là rủi ro chính, khi giá thị trường chưa theo kịp đà tăng của giá xuất xưởng.
Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics. Cước vận tải cho các lô hàng phôi thép từ Trung Quốc đi Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng lên 50-55 USD/tấn. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài, tạo cơ hội cho thép nhập khẩu. Tuy nhiên, giá HRC tại Anh giảm 10 GBP/tấn và EU giảm 5 EUR/tấn cho thấy nhu cầu yếu tại các thị trường phát triển.
Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm và khả năng triển khai vòng tăng thứ sáu; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại. Đối với các nhà máy, cần cân nhắc kỹ chiến lược bảo trì và cắt giảm sản lượng để tránh thua lỗ sâu, đặc biệt trong bối cảnh CISA kêu gọi kiểm soát sản lượng.
Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Nếu nhu cầu thực tế thấp hơn kỳ vọng, nhà máy có thể bảo trì nhiều hơn do thua lỗ, cắt giảm sản lượng sẽ làm suy yếu giá nguyên liệu và giảm hỗ trợ chi phí cho thép. Nếu nhà máy không tiếp tục cắt giảm sản lượng, dư địa tăng giá trong tháng 9 càng bị hạn chế. Thị trường đang trong giai đoạn không có xu hướng đơn phương rõ ràng, với các yếu tố hỗ trợ và áp lực đan xen.
Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.

