Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Tổng quan thép Trung Quốc tuần 29/2026

Tổng quan thép Trung Quốc tuần 29/2026

TRONG NƯỚC

Thị trường thép xây dựng

Về mặt tồn kho, tổng lượng tồn kho thép thanh (rebar) tại 35 thành phố lớn trên toàn quốc trong tuần này đạt 5.060.100 tấn (506,01 vạn tấn), tăng 6,26 vạn tấn; tồn kho dây thép cuộn đạt 707.000 tấn (70,7 vạn tấn), tăng 2,77 vạn tấn; tổng tồn kho đạt 5.767.100 tấn.

Giá thép xây dựng dao động theo chiều hướng giảm. Xét theo khu vực, ngoại trừ Tây Nam có xu hướng tăng nhẹ và Hoa Nam giữ ổn định, các khu vực còn lại gồm Hoa Đông, Hoa Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc và Hoa Trung đều duy trì xu hướng giảm nhẹ, với mức giảm trung bình dao động trong khoảng 20-40 nhân dân tệ/tấn.

Nhu cầu thị trường tiếp tục suy yếu, tồn kho xã hội tích lũy, lượng giao hàng của nhà máy thép tăng, tâm lý thương trân trong mùa thấp điểm truyền thống ở mức khá bình thường. Tồn kho vật liệu xây dựng tại phần lớn các khu vực tăng nhẹ, lượng giao hàng từ nhà máy tăng khiến áp lực thị trường dần lộ rõ; thị trường vẫn do nhu cầu chủ đạo, nhưng thời tiết cực đoan cùng với nhu cầu biểu kiến suy yếu dần, mức độ tích cực của đầu cuối thị trường ở mức bình thường.

Mặc dù giá nguyên liệu cứng cáp và mâu thuẫn về mặt cơ bản không lớn, nhưng trong ngắn hạn giá vẫn chưa thấy động lực tăng rõ ràng. Tóm lại, áp lực tổng thể về nguồn cung không lớn, nếu nhà máy thép giảm bớt lượng giao hàng thì thị trường sẽ có năng lực tiêu thụ nhất định.

Triển vọng tuần tới, nhu cầu trong thời tiết nắng nóng duy trì dao động ở mức thấp, nhưng nhờ có sự hỗ trợ của chi phí, khả năng thị trường chạm đáy lần nữa là không cao; nhìn chung, ý định xuất hàng trong mùa thấp điểm của các thương trân khá mạnh, giá tổng thể có thể duy trì điều chỉnh trong biên độ. Giá thép tuần tới có thể tiếp tục dao động trong biên độ, áp lực cơ bản không lớn, dự kiến giá thép xây dựng toàn quốc tuần tới sẽ tiếp tục vận hành dao động ở vùng giá thấp.

Bảng biến động giá thép thanh và thép dây tại các thành phố trọng điểm toàn quốc

(Đơn vị: Nhân dân tệ/tấn)

Chủng loại / Quy cách

Ngày / Thành phố

Thượng Hải

Hàng Châu

Bắc Kinh

Thiên Tân

Vũ Hán

Trường Sa

Thành Đô

Tây An

HRB400φ20mm thép thanh (rebar)

16 tháng 7

3060

3170

3160

3160

3300

3470

3190

3420

23 tháng 7

3060

3160

3160

3150

3300

3470

3190

3420

Biến động tuần

0

-10

0

-10

0

0

0

0

Xuất xứ (Nơi sản xuất)

Nhật chiếu

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Vũ Cương

Bình Cương

Uy Cương

Tấn Cương

HPB300φ6.5mm dây thép cuộn (wire rod)

16 tháng 7

3400

3680

3640

3730

3440

3700

3480

3520

23 tháng 7

3060

3160

3160

3150

3300

3470

3190

3420

Biến động tuần

-340

-520

-480

-580

-140

-230

-290

-100

Xuất xứ (Nơi sản xuất)

Bình Cương

Vĩnh Cương

Hà Cương

Hà Cương

Bình Cương

Tương Đàm

Đạt Cương

Tấn Cương

Thị trường thép công nghiệp

Cuộn cán nóng

Giá thép cuộn cán nóng toàn quốc suy yếu, nhu cầu mùa thấp điểm theo mùa ảm đạm.

Về mặt cung ứng: Tỷ lệ khởi động tổng thể của các doanh nghiệp sản xuất thép cuộn cán nóng là 79,69%, đi ngang so với tuần trước; tỷ lệ sử dụng công suất của nhà máy thép tuần này là 77,16%, tăng 1,16% so với tuần trước; sản lượng sản xuất bình quân hằng ngày chịu ảnh hưởng bởi việc đại tu dây chuyền sản xuất là 0,081 triệu tấn (0,01 triệu tấn), tăng 0,005 triệu tấn so với tuần trước; sản lượng bình quân hằng ngày chịu ảnh hưởng bởi sản xuất không bão hòa là 3,66 triệu tấn, giảm 0,35 triệu tấn so với tuần trước; sản lượng thực tế của nhà máy thép tuần này là 3,0202 triệu tấn, tăng 0,0454 triệu tấn so với tuần trước; lượng tồn kho tại nhà máy thép là 0,7984 triệu tấn, tăng 0,0239 triệu tấn so với tuần trước.

Về mặt nhu cầu: Lượng tiêu thụ biểu kiến thép cuộn cán nóng tuần này là 2,9924 triệu tấn, giảm 0,92% so với tuần trước, giảm 6,48% so với cùng kỳ năm trước; thời gian gần đây thị trường bước vào mùa thấp điểm theo mùa, thời tiết cực đoan ở các nơi xảy ra thường xuyên, giao dịch trên thị trường ở mức ấm lạnh đan xen. Tỷ lệ sử dụng công suất cán nguội tuần này là 86,50%, giảm 0,11% so với tuần trước, tạo ra sự kìm hãm nhất định đối với nhu cầu cuộn nóng. Hiện tại, áp lực ở phía tiêu thụ trong nước trong điều kiện không có sự hỗ trợ của chính sách thể hiện nhìn chung kém, tổng thể vẫn cần chờ đợi sự quay trở lại theo mùa vụ.

Về mặt tồn kho: Tồn kho thép cuộn cán nóng toàn quốc là 3,5871 triệu tấn, tăng 0,0039 triệu tấn so với tuần trước, trong đó khu vực có mức tăng lớn nhất là khu vực Hoa Nam, tăng 0,042 triệu tấn so với tuần trước; khu vực có mức giảm lớn nhất là khu vực Hoa Bắc, giảm 0,0326 triệu tấn so với tuần trước. Kể từ nửa đầu năm nay, tồn kho cuộn nóng liên tục duy trì ở mức cao, tạo áp lực lớn cho thị trường, hiện đang ở mùa thấp điểm theo mùa, dự kiến trong ngắn hạn tồn kho xã hội có thể sẽ tiếp tục duy trì vận hành ở mức cao là chính.

Mâu thuẫn cung cầu trong ngắn hạn chưa nổi bật, xu hướng của phần lớn các khu vực thiên về yếu, giá dự kiến duy trì mô hình dao động yếu.

Tổng hợp giá tuần thép cuộn cán nóng (17/07/2026 - 24/07/2026)

Khu vực

Chủ đạo thép

3.0mm (17/07)

3.0mm (24/07)

Biến động tuần (3.0mm)

4.75mm (17/07)

4.75mm (24/07)

Biến động tuần (4.75mm)

Thượng Hải

Bản Cương

3390

3370

-20

3330

3310

-20

Hàng Châu

Sa Cương

3390

3370

-20

3350

3330

-20

Nam Kinh

Trung Thiết

3420

3380

-40

3380

3340

-40

Bắc Kinh

Bao Cương

3360

3360

0

3310

3310

0

Thiên Tân

Bao Cương

3270

3240

-30

3220

3190

-30

Thạch Gia Trang

Hàm Cương

3380

3350

-30

3330

3300

-30

Hàm Đan

Thái Cương

3260

3240

-20

3230

3210

-20

Lạc Sơn (Lê Sơn)

An Cương

3360

3330

-30

3320

3290

-30

Trường Sa

Vũ Cương

3430

3400

-30

3370

3340

-30

Vũ Hán

Thái Cương

3350

3310

-40

3320

3280

-40

Thẩm Dương

Panzhihua Iron & Steel (Bàn Cương)

3260

3250

-10

3250

3240

-10

Cáp Nhĩ Tân

LCương (L涟钢)

3320

3310

-10

3290

3280

-10

Trùng Khánh

Thông Cương

3400

3370

-30

3390

3360

-30

Thành Đô

Panzhihua Iron & Steel (Bàn Cương)

3470

3450

-20

3390

3370

-20

Côn Minh

Bát Cương

3530

3510

-20

3470

3450

-30

Tây An

Bao Cương

3410

3370

-40

3310

3270

-40

Lan Châu

Bát Cương

3310

3280

-30

3280

3250

-30

Giá trung bình cuộn nóng 3.0mm tuần này: 3.346 nhân dân tệ/tấn, giảm 25 so với tuần trước. Giá trung bình cuộn nóng 4.75mm tuần này: 3.301 nhân dân tệ/tấn, giảm 25 so với tuần trước.

Cuộn cán nguội

Thị trường thép cuộn cán nguội nội địa nhìn chung duy trì mô hình vận hành với chi phí làm điểm tựa, suy yếu theo mùa vụ và dao động điều chỉnh biên độ hẹp dò đáy; thị trường kỳ hạn biến động giằng co và khó tạo ra xu hướng rõ rệt, báo giá trên thị trường giao ngay ổn định trên danh nghĩa nhưng giảm ngầm thực tế, giao dịch ở phía đầu cuối tiếp tục ảm đạm. Mâu thuẫn cốt lõi của thị trường tập trung vào sự giằng co giữa nguồn cung thu hẹp biên độ và nhu cầu chế tạo cơ khí suy yếu theo mùa vụ.

Thị trường Thiên Tân ở khu vực Hoa Bắc có lượng tài nguyên tương đối dồi dào, biên độ thương lượng giá của các thương trân lớn, giao dịch giảm ngầm 10-20 nhân dân tệ; thị trường Thượng Hải ở khu vực Hoa Đông dựa vào việc nhà máy thép giữ giá và sự hỗ trợ từ một ít nhu cầu cứng phụ trợ ngành ô tô nên báo giá cơ bản duy trì ổn định; khu vực Hoa Nam và Hoa Trung chịu sự cản trở của thời tiết nắng nóng và mưa kéo dài, các nhà máy hạ nguồn tạm dừng sản xuất và giảm sản xuất ngày càng nhiều, nhịp độ giảm giá ngầm của thị trường giao ngay tiếp tục duy trì.

Giá nguyên liệu cuộn cán nóng dao động trong biên độ, chênh lệch giá giữa thép cán nguội và cán nóng duy trì ở mức thấp từ 390-440 nhân dân tệ, lợi nhuận gia công cán nguội tiếp tục bị ép chặt, các nhà máy cán nguội độc lập tư nhân nhìn chung đều tiệm cận đường hòa vốn, trong khi các nhà máy quy trình dài dựa vào lợi thế chi phí gang lỏng tự có nên mức độ thua lỗ tương đối trong tầm kiểm soát.

Về mặt kỳ hạn, giá chủ lực cuộn cán nóng trong phiên có lúc tăng rồi giảm, cuối phiên hồi phục nhẹ nhưng thiếu dòng tiền duy trì tiếp sức, khó truyền sang thị trường giao ngay để tạo đà tăng hiệu quả, chỉ có nguồn hàng giá thấp mới xuất hiện lượng giao dịch lẻ tẻ tăng lên, tính liên tục của hoạt động giao dịch nhìn chung chưa đủ.

Phía cung ứng thể hiện xu hướng thu hẹp phân hóa, tổng sản lượng cán nguội toàn quốc tuần này giảm nhẹ so với tuần trước, tỷ lệ sử dụng công suất chung giảm nhẹ xuống. Các nhà máy quy trình dài điều chỉnh nhẹ phụ tải cán nguội để khớp với đơn hàng hạ nguồn và cân đối tổng thể dây chuyền sản xuất; các nhà máy cán nguội tư nhân bị ràng buộc bởi việc gia công lỗ nên chủ động sắp xếp đại tu dây chuyền, giảm sản xuất và kiểm soát sản lượng, cộng thêm việc tháng 7 bước vào chu kỳ đại tu thiết bị định kỳ, áp lực cung ứng tổng thể được nới lỏng theo biên độ. Lượng thép cuộn cán nguội nhập khẩu tiếp tục giảm, logic thay thế hàng nội địa được duy trì, tác động từ nguồn hàng bên ngoài đối với thị trường trong nước ở mức hạn chế. Tuy nhiên, tỷ lệ khởi động và công suất hiện tại nhìn chung vẫn cao hơn cùng kỳ năm ngoái, nguồn cung không tạo ra sự thiếu hụt thực tế, khó mang lại hỗ trợ mạnh cho giá. Ý chí giữ giá của các nhà máy thép tương đối mạnh, các nhà máy hàng đầu như Baowu, An-Ben đã công bố chính sách kỳ hạn tháng 8 từ sớm, nâng báo giá các chủng loại cán nguội với ý định khóa đơn hàng kỳ hạn và giữ vững đáy thị trường, ý định giảm giá mạnh để xuất hàng trong ngắn hạn là khá yếu.

Phía tồn kho thể hiện đặc trưng phân hóa là tồn kho nhà máy tích lũy nhẹ và tồn kho xã hội chậm rãi giảm bớt. Tồn kho xã hội thép cán nguội toàn quốc tuần này tiếp tục nhịp độ giảm tồn kho nhẹ, giảm nhẹ so với tuần trước nhưng tốc độ giảm tồn kho khá chậm, chủ yếu dựa vào việc thương trân chủ động nhượng bộ lợi nhuận, nhanh mua nhanh bán để thu hồi vốn, chứ không phải nhu cầu cứng thực tế từ đầu cuối tập trung bùng nổ; tồn kho sản phẩm hoàn thiện của nhà máy nhích lên nhẹ, cốt lõi là đơn hàng hạ nguồn theo không kịp, việc tiêu thụ sản lượng bị cản trở. Tồn kho tổng thể của thị trường hiện tại vẫn ở mức tương đối cao so với cùng kỳ năm trước, tồn kho cao luôn chèn ép không gian phản công của thị trường giao ngay, các trung gian nhìn chung duy trì thao tác tồn kho thấp, không có hành vi bổ sung hàng tập trung hay gom hàng bắt đáy, tốc độ lưu thông chu chuyển của thị trường chậm lại.

Phía nhu cầu mang đặc trưng mùa thấp điểm bùng phát toàn diện, trở thành yếu tố tiêu cực cốt lõi kìm hãm đà tăng của thị trường. Ngành ô tô bước vào mùa thấp điểm sản xuất và tiêu thụ truyền thống tháng 7-8, các nhà sản xuất xe giảm quy mô sản xuất theo giai đoạn, các nhà máy gia công linh kiện mua hàng số lượng ít theo nhu cầu, việc ký đơn hàng lớn mua số lượng lớn gần như tuyệt tích; chuỗi công nghiệp thiết bị gia dụng lớn có nhịp sản xuất suy yếu đồng bộ, nhu cầu tiêu thụ nội địa của máy điều hòa, tủ lạnh giảm so với cùng kỳ năm trước, lượng mua nguyên liệu của các nhà máy điện gia dụng thu hẹp rõ rệt so với tuần trước. Các ngành gia công cơ khí, kết cấu thép thông thường, dập ngũ kim chịu ảnh hưởng bởi thời tiết nắng nóng phải đình công, tỷ lệ khởi động giảm, mức tiêu thụ nhu cầu cứng tiếp tục teo lại. Nhu cầu chỉ còn điểm sáng mang tính cấu trúc, các vật liệu phục vụ xe năng lượng mới, hệ thống lưu trữ năng lượng, thiết bị cao cấp duy trì tính đàn hồi, nhưng quy mô tổng thể có hạn, không thể bù đắp khoảng trống nhu cầu của ngành chế tạo truyền thống. Đơn hàng xuất khẩu tuy có độ đàn hồi nhất định nhưng sự thịnh vượng của ngành chế tạo hải ngoại hồi phục, lượng gia tăng không đủ, khó phân lưu nguồn hàng lưu thông trong nước. Toàn bộ thị trường hạ nguồn đồng loạt thực hiện chiến lược mua đến đâu dùng đến đó, không tồn kho, tâm lý quan sát thị trường nặng nề, tâm lý mua lên không mua xuống thể hiện rõ, khối lượng giao dịch bình quân hằng ngày duy trì vận hành ở mức thấp.

Cấp độ chi phí và nguyên liệu hình thành hỗ trợ đáy theo giai đoạn, các đợt hạ giá than cốc trước đó cơ bản đã thực hiện xong, nhưng quặng sắt chịu sự xáo trộn từ nguồn vận chuyển đường biển và cước phí nên có kỳ vọng mạnh lên theo giai đoạn, chi phí nguyên liệu tổng thể không xuất hiện không gian lao dốc sâu, logic giảm sâu mạnh là không đủ. Tuy nhiên, sự hỗ trợ từ chi phí chỉ có thể làm điểm tựa cho giới hạn dưới của giá, trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục ì ạch, rất khó thúc đẩy giá cán nguội tiếp tục đi lên, thị trường rơi vào mô hình dao động trong biên độ "giảm không xuống, tăng chẳng lên".

Tâm lý thị trường nhìn chung thiên về thận trọng quan sát, sự bất đồng giữa phe mua và phe bán thể hiện rõ. Các nhà máy thép dựa vào chính sách đại tu giảm sản xuất và điều chỉnh giá kỳ hạn để kiên quyết giữ vững đáy báo giá, không muốn bán tháo giá thấp; thương trân xem nhẹ thị trường nửa cuối tháng 7, ưu tiên nhượng bộ lợi nhuận để xuất hàng, thu hồi dòng tiền làm chính, linh hoạt điều chỉnh giá giao dịch đơn hàng thực tế; đầu cuối hạ nguồn chờ đợi mùa thấp điểm nắng nóng kết thúc, tạm thời chưa có kế hoạch dự trữ hàng trước. Kỳ vọng chung của thị trường là sau tiết Lập Thu, hoạt động chế tạo khởi động ấm lên thì nhu cầu mới có hy vọng đón nhận sự phục hồi so với tháng trước, giai đoạn hiện tại thị trường chủ yếu xoay quanh việc dò đáy ở vùng giá thấp.

Dự kiến trong ngắn hạn, thị trường thép cán nguội có thể sẽ tiếp tục duy trì xu hướng dao động yếu trong biên độ hẹp và nới lỏng nhẹ cục bộ, cả đợt tăng hay giảm đơn lẻ quy mô lớn đều thiếu động lực dẫn dắt. Các yếu tố hỗ trợ tập trung vào việc nhà máy thép liên tục đại tu mang lại sự thu hẹp nguồn cung, chi phí nguyên liệu có hỗ trợ đáy, chính sách giữ giá của các nhà máy hàng đầu được thực thi; logic kìm hãm vẫn là nhu cầu mùa thấp điểm ngành chế tạo khó hồi phục nhanh, tồn kho tổng thể thiên cao, thị trường kỳ hạn thiếu chỉ dẫn đa số bền vững. Về mặt thao tác, các nhà máy thương mại duy trì tồn kho thấp mua nhanh bán nhanh, bổ sung hàng số lượng ít theo nhu cầu, linh hoạt thương lượng ưu tiên xuất hàng; đầu cuối hạ nguồn duy trì mua sắm theo nhu cầu cứng, không dự trữ số lượng lớn trước, chờ đợi bước ngoặt nhu cầu tháng 8 rồi mới tăng lượng tồn kho thích hợp; các nhà máy cán nguội tiếp tục tư duy kiểm soát sản xuất và giảm tồn kho, giữ vững đáy giá xuất xưởng, bình tĩnh chờ đợi đơn hàng hạ nguồn ấm trở lại.

XUẤT KHẨU

1. Phức hợp thép dài (Thép cây, Cuộn trơn và Phôi billet)

Thép thanh vằn (Thép cây): Giá xuất khẩu và đà giao dịch duy trì trạng thái ảm đạm. Chỉ số giá thép thanh vằn FOB Trung Quốc dao động quanh mức 473 - 474 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết. Các nhà máy lớn miền Bắc Trung Quốc cố gắng giữ giá chào xuất khẩu mác B500B ở mức 485 - 490 USD/tấn FOB và mác HRB400 ở mức 474 - 475 USD/tấn FOB nhằm tránh bán lỗ trong bối cảnh biên lợi nhuận bị thu hẹp. Lực mua từ Đông Nam Á khá dè dặt, khách hàng chỉ chấp nhận mức giá quanh 500 USD/tấn CFR (tương đương 470 - 475 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết). Đến cuối tuần, giá xuất khẩu áp lực giảm nhẹ xuống 473 USD/tấn FOB do nhu cầu nội địa yếu và tồn kho tích lũy.

Thép cuộn trơn (Thép dây): Chỉ số giá thép cuộn trơn FOB Trung Quốc nhích giảm từ 496 USD/tấn FOB đầu tuần xuống 494 USD/tấn FOB vào cuối tuần. Các nhà máy lớn chào bán SAE1008 ở mức 500 - 510 USD/tấn FOB cho kỳ hạn giao hàng tháng 8-9, tuy nhiên phần lớn các đơn vị sẵn sàng giao dịch ở mức 500 USD/tấn FOB đối với lượng hàng giao tháng 8 còn lại.

Phôi thép (Billet): Giá chào xuất khẩu phôi thép 3sp từ Trung Quốc duy trì phổ biến trong khoảng 460 - 465 USD/tấn FOB. Hoạt động thu mua ỳ ạch do người mua nước ngoài đã gom hàng từ trước. Mức giá thầu (bid) thực tế từ người mua rơi vào khoảng 450 - 455 USD/tấn FOB. Về quản lý chất lượng và thị trường tiêu thụ, chi nhánh Đường Sơn thuộc Tập đoàn HBIS đã nhận được chứng nhận ECAS của UAE cho phôi thép vuông B500B, góp phần củng cố dư địa xuất khẩu bán thành phẩm sang khu vực GCC (đạt 1,1 triệu tấn trong nửa đầu năm 2026, tăng 110,4% so với cùng kỳ).

2. Phức hợp thép dẹt (Thép cuộn cán nóng - HRC, CRC, HDG và Phôi phiến)

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc biến động trong biên độ hẹp, đứng ở mức 484 USD/tấn FOB Trung Quốc. Giá chào mác SS400/Q235 từ các nhà máy tư nhân dao động từ 488 - 496 USD/tấn FOB, trong khi các nhà máy lớn chào bán ở mức 500 - 510 USD/tấn FOB. Mức giá giao dịch khả thi chốt ở khoảng 488 - 490 USD/tấn FOB. Tại thị trường Đông Nam Á (đặc biệt là Việt Nam), HRC mác Q195/Q235 tái xuất khẩu được chào bán khoảng 495 - 507 USD/tấn CFR. Một số đơn hàng HRC sang Nam Á (Pakistan) được chốt ở mức 470 - 475 USD/tấn FOB (theo giấy phép bên thứ ba) hoặc 522 - 527 USD/tấn CFR.

Thép cuộn cán nguội (CRC) & Thép mạ kẽm (HDG): Báo giá xuất khẩu CRC mác SPCC duy trì trong khoảng 550 - 562 USD/tấn FOB, với mức giá chỉ báo giao dịch chắc chắn khoảng 545 - 550 USD/tấn FOB. Giá chào xuất khẩu HDG mác SGCC ổn định ở mức 555 - 564 USD/tấn FOB.  

Thép tấm (Plate) & Phôi phiến (Slab): Báo giá xuất khẩu thép tấm mác SS400 của Trung Quốc duy trì vững chắc ở mức 524 - 545 USD/tấn FOB (thậm chí có nhà máy chào 560 USD/tấn FOB) nhờ nhu cầu tiêu thụ nội địa (đặc biệt là ngành đóng tàu) hoạt động rất tốt. Đánh giá giá phôi phiến (Slab) FOB Châu Á giữ ở mức 470 USD/tấn FOB, với mức giá giao dịch khả thi đối với phôi phiến dạng cuộn ước tính 470 - 475 USD/tấn FOB.  

3. Động lực thị trường và các yếu tố tác động

Áp lực chi phí và biên lợi nhuận nhà máy: Các nhà máy thép Trung Quốc chịu khoản lỗ lớn (chỉ khoảng 35 - 40% số nhà máy đạt mức có lãi) do nhu cầu nội địa mùa thấp điểm suy yếu. Mặc dù các nhà máy đã ép giảm giá mua than cốc đợt đầu từ 50 - 55 NDT/tấn để giảm bớt chi phí, mức giảm của giá thép thành phẩm vẫn đè nặng lên tâm lý thị trường.  

Rủi ro vận tải và địa chính trị: Căng thẳng địa chính trị leo thang tại Trung Đông và các cuộc tấn công trên Biển Đỏ khiến cước phí vận chuyển từ Trung Quốc đi các cảng Biển Đỏ (Ả Rập Xê-út) tăng vọt lên 80 - 100 USD/tấn (gần gấp đôi trước đó), đi kèm phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tăng lên 0,75%. Nhiều hãng tàu (như Maersk) tạm dừng đặt chỗ một số tuyến liên quan, dẫn đến việc hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc bị đình trệ hoặc phải chuyển hướng sang các cảng thay thế như Sohar hay Jordan.  

Căng thẳng thương mại và Rào cản kỹ thuật:

Mỹ: Thị trường đối mặt với lo ngại khi Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố các mức thuế mới từ 10 - 12,5% (Trung Quốc chịu mức 12,5%) theo Mục 301/Mục 122, làm dấy lên rủi ro suy giảm nhu cầu bên ngoài đối với thép và hàng chế tạo của Trung Quốc.  

Nhật Bản: Ngày 24/7, Nhật Bản ra kết luận sơ bộ về việc áp thuế chống bán phá giá đối với dải và tấm thép mạ kẽm nhúng nóng nhập khẩu từ Trung Quốc với biên độ phá giá lên tới 69%.