Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 30/7/2026

Thị trường thép Trung Quốc bước vào phiên giao dịch ngày hôm nay 30/7 tiếp tục chịu áp lực rung lắc suy yếu và mài đáy tại vùng giá thấp trong bối cảnh mâu thuẫn cung – cầu mùa thấp điểm kéo dài và áp lực từ đà điều chỉnh chi phí nguyên liệu thô chưa dừng lại. Tâm lý thận trọng bao trùm thị trường trước các sự kiện vĩ mô lớn như cuộc họp Bộ Chính trị Trung Quốc và cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Dù một số nhà máy tại Đường Sơn chủ động cắt giảm sản lượng và bảo dưỡng lò cao giúp kiềm hãm một phần nguồn cung, áp lực tồn kho xã hội cao hơn 11% so với cùng kỳ năm trước cùng sự sụt giảm sức mua từ hạ nguồn do thời tiết nắng nóng, mưa bão tiếp tục đè nặng lên giá thành phẩm. Bên cạnh đó, nhịp giảm từ thị trường tương lai phiên đêm đâm thủng các mốc hỗ trợ kỹ thuật then chốt tiếp tục đẩy giá giao ngay vào trạng thái điều chỉnh giảm nhẹ bù.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC 

+ Thép xây dựng

Thị trường thép xây dựng nội địa dự báo vận động suy yếu là chủ đạo, trạng thái điều chỉnh giảm nhẹ lan rộng trên các thị trường trọng điểm với biên độ hẹp:  

Bắc Kinh: Giá cơ sở thép thanh vằn cấp 3 HRB400E Φ18-22mm dự kiến giảm nhẹ 10 NDT/tấn về mốc 3.050 NDT/tấn do thép cây kỳ hạn phiên đêm biến động giảm mạnh và giao dịch thực tế kém.  

Hàng Châu & Quảng Châu: Giá cơ sở HRB400E Φ18-22mm dự báo giảm nhẹ 10 NDT/tấn về mốc 3.050 NDT/tấn dưới tác động từ xu hướng đi xuống của sàn tương lai và sức mua yếu.  

Tây An, Vũ Hán, Thành Đô: Giá giao ngay dự kiến tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh giảm 10 NDT/tấn, báo giá lần lượt ở các mốc 2.980 NDT/tấn, 2.980 NDT/tấn và 3.020 NDT/tấn trong bối cảnh bầu không khí giao dịch trầm lắng và thương nhân thận trọng quan sát.  

Phôi thép Đường Sơn: Giá xuất xưởng phôi thép vuông carbon phổ thông Thiên An - Đường Sơn duy trì mốc 2.940 NDT/tấn. Chi phí tích lũy phôi thép bao gồm thuế của các nhà máy quy trình dài trung bình ở mức 2.999 NDT/tấn, nhà máy chịu mức lỗ lý thuyết khoảng 59 NDT/tấn.  

Thị trường tương lai: Hợp đồng chủ lực thép thanh vằn rb2610 phiên đêm tăng mạnh vị thế thêm 190.000 lô, đâm thủng mốc hỗ trợ đi xuống và lập đáy mới kể từ tháng 3, chốt phiên ở mốc 3.032 NDT/tấn (giảm 35 điểm/tấn, tương đương giảm 1,14%, biên độ dao động trong phiên đạt 3.022 - 3.061 NDT/tấn, vị thế mở đạt 2,224 triệu lô). Biên độ dao động tham khảo trong ngày dự kiến ở vùng 3.000 - 3.069 NDT/tấn.  

Tồn kho & Thanh khoản: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc phiên trước đạt 9,82 vạn tấn (tăng nhẹ so với 8,75 vạn tấn phiên trước đó nhưng vẫn ở mức thấp). Tồn kho thép vật liệu xây dựng tại xưởng của các nhà máy mẫu đạt 4,1017 triệu tấn (giảm 0,90% so với tuần trước nhưng tăng 38,34% so với cùng kỳ năm ngoái). Tỷ lệ sử dụng công suất lò cao tại Đường Sơn đạt 84,36% (giảm 0,86% so với tuần trước). 

+ Thép công nghiệp

Phân khúc thép dẹt và thép hình tiếp tục vận động phân hóa, đi ngang củng cố hoặc điều chỉnh giảm nhẹ do sức ép từ lực cầu hạ nguồn mùa thấp điểm:  

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao ngay tài nguyên chủ đạo mác 5.5×1500×C giữ nhịp ổn định là chính, đạt giá trung bình toàn quốc 3.286 NDT/tấn. Hợp đồng HRC tương lai 10 chốt phiên đêm ở mốc 3.260 NDT/tấn (giảm 0,79%). Khối lượng xuất hàng hằng ngày của các đại lý lớn tại 18 thành phố trọng điểm phiên trước phục hồi nhẹ đạt khoảng 51.250 tấn (tăng 2.660 tấn).  

Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình toàn quốc loại 1.0mm duy trì thế ổn định củng cố, đạt mốc 3.737 - 3.738 NDT/tấn (giảm nhẹ 1 NDT/tấn). Giá cuộn cán nguội 1.0mm tại Thượng Hải (3.700 NDT/tấn), Quảng Châu (3.720 NDT/tấn) và Thiên Tân (3.640 NDT/tấn) chủ yếu đi ngang. Lợi nhuận chênh lệch giá cán nguội - cán nóng ở mốc 451 NDT/tấn. Tỷ lệ sử dụng công suất cán nguội tháng 7 đạt 81,76% (giảm 2,52%), tổng sản lượng mẫu đạt 5,44 triệu tấn. Tồn kho xã hội cán nguội đạt 128,23 vạn tấn (giảm 4,45% so với tháng trước nhưng cao hơn 11,00% so với cùng kỳ năm trước).  

Thép hình & Phôi ống: Báo giá thép hình Đường Sơn giữ mức 3.240 - 3.270 NDT/tấn; tỷ lệ khởi công dây chuyền cán thép hình Đường Sơn đạt 28,9% (giảm 18,5%). Giá phôi ống cán nóng 20# tại Lâm Nghi giữ mốc 3.400 NDT/tấn, Thường Châu ở mốc 3.450 NDT/tấn.  

+ Nguyên liệu thô

Sự nới lỏng từ đầu chi phí tiếp tục làm xói mòn sàn đỡ giá thành phẩm khi đợt hạ giá thứ hai của than cốc chính thức đi vào thực tế:  

Than cốc (Coke): Đợt giảm giá thứ hai chính thức hạ cánh (mức giảm khoảng 50 - 55 NDT/tấn). Hợp đồng tương lai chủ lực 09 phiên đêm tiếp tục suy yếu về mốc 1.829 NDT/tấn (giảm 0,57%).  

Than luyện cốc (Coking coal): Hợp đồng tương lai chủ lực 09 đóng cửa phiên đêm biến động hẹp ở mốc 1.245 NDT/tấn (tăng nhẹ 0,04%). Sự cố an toàn tại 4 mỏ than Thiểm Tây gây gián đoạn nguồn cung ngắn hạn nhưng nhập khẩu gia tăng làm dịu tâm lý.  

Quặng sắt: Thị trường vận hành đi ngang thiên yếu. Hợp đồng tương lai quặng sắt 09 phiên đêm chốt ở mốc 734 NDT/tấn (giảm 0,74%). Quặng mịn 62% Fe Úc nhập khẩu giữ mốc 98,25 USD/tấn CFR. Giá bột PB tại cảng Nhật Chiếu và Thanh Đảo duy trì mốc 692 NDT/tấn; cảng Kinh Đường ở mốc 712 - 713 NDT/tấn. Tồn kho quặng sắt tại hai cảng Đường Sơn giảm 48 vạn tấn xuống 27,44 triệu tấn.  

Thép phế liệu: Chỉ số giá chuẩn lưu thông phế liệu toàn quốc nhích nhẹ lên mốc 2.074 (chỉ số phế nặng đạt 2.052, phế nghiền đạt 2.097). Giá phế nặng Đường Sơn giữ mốc 2.030 NDT/tấn, Trương Gia Cảng giữ mốc 2.080 NDT/tấn. Bến bãi duy trì tồn kho thấp, giao dịch thực hiện theo nhu cầu cứng.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Hoạt động xuất khẩu thép Trung Quốc duy trì trạng thái ảm đạm, chịu tác động từ sự suy yếu của giá nội địa và chi phí vận tải biển tăng cao do rủi ro địa chính trị:  

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC ổn định ở mốc 484 USD/tấn FOB Trung Quốc. Báo giá mác Q235 đạt 487 - 490 USD/tấn FOB; mác SS400 giữ khoảng 490 - 500 USD/tấn FOB. Mức giá giao dịch thực tế mác Q235 đạt khoảng 485 USD/tấn FOB. Tại Đông Nam Á, giá HRC chào về Việt Nam đi ngang ở mốc 513 - 514 USD/tấn CFR (mức trả giá của người mua quanh 510 USD/tấn CFR).  

Thép dài & Phôi thép: Chỉ số thép cây FOB Trung Quốc ở mốc 472 USD/tấn; giá chào xuất khẩu mác HRB400 và B500B giữ mốc 474 - 485 USD/tấn FOB. Chỉ số dây cuộn trơn giữ mốc 493 USD/tấn FOB (giá chào mác SAE1008 ở mốc 500 - 515 USD/tấn FOB, cao hơn 20 - 30 USD/tấn so với hàng Indonesia). Giá phôi thanh xuất khẩu của Trung Quốc và Indonesia duy trì chào quanh mốc 460 USD/tấn FOB, giá chốt giao dịch ở mốc 455 - 460 USD/tấn FOB.  

Phòng vệ thương mại & Pháp lý: Bộ Thương mại Hoa Kỳ (ITA) ban hành kết luận cuối cùng áp thuế chống trợ cấp (CVD) 6,80% đối với thép cây nhập khẩu từ Việt Nam và 23,27% đối với Ai Cập trong năm 2024. Căng thẳng hàng hải tại Biển Đen và Biển Đỏ tiếp tục đẩy cước vận tải và phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh (AWRP) lên cao, làm gián đoạn luồng hàng xuất khẩu.  

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Thị trường thép Trung Quốc trong ngắn hạn dự báo tiếp tục vận hành trong mô hình dao động mài đáy tại vùng giá thấp với trạng thái phân hóa yếu là chủ đạo:  

Áp lực cung – cầu: Mặc dù chính sách hạn chế sản xuất ngắn hạn tại Đường Sơn và nhịp đại tu bảo dưỡng lò cao giúp thu hẹp nguồn cung gang lỏng, sản lượng thép thành phẩm vẫn ở mức tương đối cao. Tồn kho xã hội tích tụ cộng hưởng với sức mua hạ nguồn suy yếu do thời tiết mùa hè cực đoan sẽ buộc các nhà máy phải thực hiện các biện pháp cắt giảm sản lượng sâu hơn trong tháng 8 để tái thiết lập cân bằng cung – cầu.  

Phản hồi tiêu cực từ chi phí: Việc đợt giảm giá thứ hai của than cốc hạ cánh cùng sự suy yếu của nhóm nguyên liệu đầu vào khiến trục chi phí sản xuất tiếp tục dịch chuyển xuống dưới. Quá trình này vô hình trung làm xói mòn sàn đỡ giá thành phẩm, khiến thị trường duy trì vòng lặp phản hồi tiêu cực ngắn hạn.  

Dự báo xu hướng giá: Giá giao ngay các mặt hàng thép thành phẩm (thép cây, cuộn cán nóng, cán nguội, thép hình) dự kiến tiếp tục điều chỉnh giảm nhẹ bù hoặc đi ngang giằng co (biến động 10 - 20 NDT/tấn). Cấu trúc kỹ thuật trên sàn tương lai bị tổn hại sau phiên tăng mạnh vị thế phe Bán đêm qua, ranh giới hỗ trợ vùng 3.000 - 3.020 NDT/tấn trên hợp đồng rb2610 sẽ chịu thử thách lớn; thị trường cần chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn từ chính sách vĩ mô và đợt cắt giảm sản lượng thực chất từ các nhà máy.