TRONG NƯỚC
+ THÉP XÂY DỰNG
Thị trường thép xây dựng Trung Quốc ghi nhận mức tăng nhẹ trong phiên 22/9. Giá thép cây (rebar) Φ25mm bình quân tại các thành phố trọng điểm đạt 3.251 NDT/tấn, tăng 5 NDT/tấn so với phiên trước; giá thép cuộn vằn (wire rod) Φ8.0mm đạt 3.492 NDT/tấn, tăng 5 NDT/tấn. Tại các thị trường chủ đạo, Bắc Kinh duy trì giá thép cuộn vằn (8mm) ở mức 3.440 NDT/tấn và thép cây (25mm) ở mức 3.210 NDT/tấn; Thượng Hải điều chỉnh tăng 10 NDT/tấn đối với cả thép cuộn vằn (lên 3.450 NDT/tấn) và thép cây (lên 3.130 NDT/tấn).
Về cung cầu, tính đến ngày 17/9, tồn kho thép cây của các nhà thương mại và nhà máy Trung Quốc đã giảm 160.000 tấn so với tuần trước, xuống còn 6,36 triệu tấn. Tiêu thụ thép cây tăng 40.000 tấn trong tuần lên 1,90 triệu tấn, tuy nhiên mức tiêu thụ này vẫn thấp hơn mức trung bình cùng kỳ năm ngoái (2,1-2,2 triệu tấn/tuần). Sản lượng thép thô tháng 8 của Trung Quốc đạt 74,61 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái; lũy kế 8 tháng đạt 651,85 triệu tấn, giảm 3,1%; sản lượng thép cây đạt 113,54 triệu tấn, giảm 11,8%. Hỗ trợ từ nguyên liệu thô suy yếu khi giá than cốc giao ngay tại An Trạch, Lâm Phần giảm 40 NDT/tấn xuống còn 2.510 NDT/tấn giao tại xưởng tuyển. Đà phục hồi của giá thép cây kể từ cuối tháng 8 chủ yếu được thúc đẩy bởi giá than tăng cao hơn là do tiêu thụ mạnh hơn.
+ THÉP CÔNG NGHIỆP
Thép cuộn cán nóng (HRC): Ngày 22/9, giá HRC thương mại giao kho chủ đạo tại Thượng Hải tăng 10 NDT/tấn lên 3.310 NDT/tấn. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải giảm 0,18% so với giá thanh toán phiên trước, đóng cửa tại 3.299 NDT/tấn. Tồn kho HRC nắm giữ bởi các công ty thương mại và nhà máy thép đã giảm 30.000 tấn so với tuần trước. Các nhà máy thép đã cắt giảm sản lượng HRC gần 40.000 tấn trong tuần. Hiện tại, các nhà máy thép Trung Quốc đang gánh khoản lỗ 250-300 NDT/tấn đối với HRC, khiến nhiều nhà máy công bố kế hoạch bảo trì lò cao. Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 51.110 tấn, tăng 980 tấn so với phiên trước; giao dịch chủ yếu tập trung vào các đơn hàng nhỏ, mua theo nhu cầu thực tế.
Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG): Ngày 22/9, giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.759 NDT/tấn, tăng 1 NDT/tấn so với phiên trước. Tại các thị trường trọng điểm: Thượng Hải 3.730 NDT/tấn; Quảng Châu 3.750 NDT/tấn; Thiên Tân 3.660 NDT/tấn. Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.065 NDT/tấn, tăng 1 NDT/tấn; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.409 NDT/tấn, đi ngang. Thị trường ghi nhận sự phân hóa: khu vực Hoa Đông chịu áp lực giảm giá, trong khi khu vực Hoa Nam và Hoa Bắc thể hiện khả năng chống giảm tốt hơn. Nhu cầu từ các ngành thiết bị gia dụng, ô tô vẫn yếu, người mua duy trì chiến lược mua cầm chừng. Tồn kho CRC toàn quốc duy trì ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây.
Thép hình (Section steel): Ngày 22/9, giá thép hình trong nước tiếp tục xu hướng suy yếu do nhu cầu yếu và tồn kho cao. Chênh lệch giá phôi - thành phẩm thu hẹp. Tồn kho thành phẩm thép hình toàn quốc có xu hướng giảm nhẹ, chủ yếu nhờ cắt giảm nguồn cung. Tỷ lệ vận hành của các nhà máy thép hình dài duy trì ở mức thấp.
+ NGUYÊN LIỆU THÔ
Quặng sắt: Ngày 22/9, thị trường quặng sắt nhập khẩu duy trì ổn định và chịu áp lực giảm nhẹ. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu và Thanh Đảo ở mức 682 NDT/tấn; Thiên Tân PB 61,5% ở mức 703 NDT/tấn. Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE tăng 0,14%, đóng cửa tại 715 NDT/tấn. Trên thị trường hoán đổi, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Singapore đạt 97,25 USD/tấn. Giá quặng sắt mịn hàm lượng 62% Fe của Australia giao đến Trung Quốc đã tăng lên 98,45 USD/tấn vào ngày 21/9, mức cao nhất trong một tháng. Các nhà máy thép Trung Quốc đã mở rộng lượng tồn kho quặng sắt thêm 2,3 triệu tấn để đạt 90,4 triệu tấn trong tuần trước nhằm đảm bảo hoạt động lò cao diễn ra ổn định suốt kỳ nghỉ lễ.
Than cốc (Coke): Ngày 22/9, thị trường cốc luyện kim Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định. Cốc khô loại 1 tại Đường Sơn đạt 2.560 NDT/tấn; tại Trường Trị đạt 2.360 NDT/tấn; xuất xưởng tại Lâm Nghi đạt 2.460 NDT/tấn. Chi phí sản xuất cốc bình quân đạt 2.486 NDT/tấn, giá thị trường 2.390 NDT/tấn, lỗ lý thuyết 97 NDT/tấn. Vòng tăng giá thứ năm đã giúp các nhà máy cốc giảm bớt thua lỗ, tỷ lệ vận hành tăng nhẹ. Tuy nhiên, thị trường xuất hiện thông tin về việc chuẩn bị khởi động vòng giảm giá đầu tiên đối với cốc luyện kim với mức giảm 100-110 NDT/tấn, dự kiến khởi động sau Tết Trung thu và chính thức có hiệu lực trước Quốc khánh.
Than mỡ luyện cốc (Coking coal): Ngày 22/9, giá than mỡ luyện cốc ổn định. Tại Đường Sơn ở mức 2.205 NDT/tấn; than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần ở mức 2.510 NDT/tấn; than gầy Hàn Thành ở mức 1.640 NDT/tấn. Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than phục hồi sản xuất nhưng tốc độ chậm. Tuy nhiên, tâm lý thận trọng gia tăng sau thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành.
Phế liệu (Scrap): Ngày 22/9, giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định và giảm nhẹ. Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze đạt 2.079 NDT/tấn, giảm 2 NDT/tấn. Cụ thể theo khu vực: Đường Sơn 2.040 NDT/tấn; Trương Gia Cảng 2.060 NDT/tấn. Nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế. Các nhà máy lò cao đang điều chỉnh cơ cấu liệu, tăng tỷ lệ sử dụng phế liệu do tính kinh tế cao hơn so với gang lỏng.
Phôi thép (Billet): Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn ngày 22/9 ở mức 3.010 NDT/tấn, tăng 10 NDT/tấn so với phiên trước. Một số nhà máy Indonesia duy trì giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 478 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Ngày 22/9, thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế.
HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc tăng 1 USD/tấn lên 496 USD/tấn FOB. Các nhà máy thép lớn vẫn giữ giá xuất khẩu đối với HRC mác Q235 và SS400 ổn định ở mức 497-510 USD/tấn FOB Trung Quốc. Một nhà máy miền Bắc Trung Quốc giữ vững giá HRC SS400 ở mức 503-505 USD/tấn FOB. Tại khu vực ASEAN, giá HRC không đổi ở mức 535 USD/tấn CFR Việt Nam. Một nhà máy Indonesia đã chào giá HRC mác SAE1006 ở mức 540 USD/tấn CFR Việt Nam cho các lô hàng giao tháng 12 và tháng 1, nhưng không thu hút được sự quan tâm mua vào.
Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Giá chào bán thép cây của Trung Quốc sang Singapore giữ nguyên ở mức 510-520 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết. Một nhà máy ở miền bắc Trung Quốc giữ nguyên giá chào xuất khẩu thép cây ở mức 482 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết đối với mác B500B; chào bán thép cây HRB400 và thép cây cuộn HRB400 lần lượt ở mức 472 USD/tấn FOB và 513 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết.
Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc ổn định ở mức 499 USD/tấn FOB, với các nhà máy Trung Quốc duy trì giá chào xuất khẩu ở mức 497-515 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 10. Một nhà máy lớn ở miền đông Trung Quốc đã tăng giá chào xuất khẩu dây cuộn thêm 5 USD/tấn lên 540 USD/tấn FOB đối với mác hàm lượng carbon cao do chi phí nguyên liệu thô tăng. Một nhà máy khác ở miền bắc Trung Quốc chào bán dây cuộn SAE1008 ở mức 501 USD/tấn FOB và dây cuộn Q195 ở mức 497 USD/tấn FOB. Giá chào dây cuộn của Indonesia ổn định ở mức 510 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
Phôi dẹt (Slab): Đánh giá hàng tuần về phôi dẹt FOB Châu Á tăng 5 USD/tấn lên 485 USD/tấn. Một nhà máy của Indonesia đã nâng giá chào xuất khẩu phôi dẹt mác dùng cán cuộn thêm 5 USD/tấn trong tuần lên mức 490 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12. Phôi dẹt mác dùng cho cán tấm có xuất xứ từ Trung Quốc được chào ở mức 510 USD/tấn FOB trở lên.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Ngắn hạn ngày 23/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Các yếu tố chi phối bao gồm:
Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; tuy nhiên, thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành đã làm suy yếu hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu. Giá than cốc giao ngay tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/tấn. Thị trường xuất hiện thông tin về việc vòng giảm giá đầu tiên đối với cốc luyện kim đang được chuẩn bị khởi động, với mức giảm 100-110 NDT/tấn. Giá quặng sắt biến động yếu, dao động trong vùng 670-710 NDT/tấn. Thị trường thiếu động lực tăng trong ngắn hạn do nguồn cung dồi dào và nhu cầu thép yếu.
Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Kỳ vọng Fed tăng lãi suất đang gây áp lực lên tâm lý thị trường. Hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng, các giao dịch chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực từ hoạt động giao dịch khi tổng khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm tăng 5,87% so với tuần trước.
Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 8 tháng giảm 19,9%, diện tích khởi công mới giảm mạnh. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Tồn kho vẫn tương đối cao.
Chính sách và can thiệp thị trường: Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. Khả năng sinh lời của các nhà máy Trung Quốc đã giảm xuống dưới 10%; khoản lỗ 150-200 NDT/tấn dự kiến sẽ khuyến khích một số việc cắt giảm sản lượng, nhưng hầu hết các nhà máy đều miễn cưỡng đóng cửa thêm các lò cao trừ khi dòng tiền rơi vào áp lực nghiêm trọng. Tỷ lệ vận hành lò cao vẫn duy trì ở mức tương đối cao 80-85% vào đầu tháng 9.
Phân hóa sản phẩm: Thép dài và HRC được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng mùa vụ, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi nhu cầu. CRC/HDG tăng chậm hơn; thép tấm chịu áp lực từ cung dồi dào, cầu yếu. Thép hình duy trì xu hướng yếu do tồn kho cao và nhu cầu xây dựng chưa phục hồi. Các nhà máy lớn như Baosteel, Ansteel, Shougang đã công bố tăng giá thép dẹt tháng 10 thêm 100-200 NDT/tấn, phản ánh nỗ lực chuyển chi phí tăng sang thị trường.
Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài, tạo cơ hội cho thép nhập khẩu.
Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm và khả năng triển khai vòng tăng thứ sáu; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại. Đối với các nhà máy, cần cân nhắc kỹ chiến lược bảo trì và cắt giảm sản lượng để tránh thua lỗ sâu, đặc biệt trong bối cảnh CISA kêu gọi kiểm soát sản lượng.
Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Nếu nhu cầu thực tế thấp hơn kỳ vọng, nhà máy có thể bảo trì nhiều hơn do thua lỗ, cắt giảm sản lượng sẽ làm suy yếu giá nguyên liệu và giảm hỗ trợ chi phí cho thép. Thị trường đang trong giai đoạn không có xu hướng đơn phương rõ ràng, với các yếu tố hỗ trợ và áp lực đan xen.
Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.


