Thị trường thép Trung Quốc bước vào ngày 24/07 với cục diện nhích tăng nhẹ trong phiên giao dịch trước nhưng dư địa phục hồi bị kìm hãm mạnh do cầu đầu cuối tiếp tục giải phóng yếu. Mặc dù thị trường tương lai nhóm hàng đen (chuỗi thép/than/quặng) quay đầu đóng cửa tăng điểm và chi phí nguyên liệu đầu vào có dấu hiệu dừng đà giảm, mâu thuẫn cốt lõi về nguồn cung ở mức cao và dòng vốn mua hàng thắt chặt trong mùa thấp điểm vẫn chưa được cải thiện. Tồn kho toàn khẩu kính gia tăng trên diện rộng – đặc biệt là sự積 tụ mạnh của dòng thép xây dựng – đang đè nặng lên tâm lý thị trường, buộc các giao dịch hiện chuyển sang trạng thái phân hóa và dò đáy.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa ngày 23/07 ghi nhận mức nhích tăng nhẹ về mặt giá sàn nhưng thanh khoản thực tế rất kém và có xu hướng suy yếu vào cuối ngày:
Giá toàn quốc: Giá trung bình thép thanh vằn cấp 3 Φ 25mm tại các thành phố trọng điểm đạt 3.221 NDT/tấn (tăng 9 NDT/tấn); thép cuộn vằn cấp 3 Φ 8.0mm đạt 3.455 NDT/tấn (tăng 9 NDT/tấn).
Thượng Hải: Thép cuộn vằn 8mm giữ giá xuất kho ở mức 3.330 NDT/tấn; thép thanh vằn cấp 3 Φ 25mm giảm 20 NDT/tấn xuống 3.040 NDT/tấn (giá xuất kho duy trì mốc 3.030 NDT/tấn). Hợp đồng tương lai thép thanh vằn rb2610 biến động dữ dội, phục hồi lên mốc 3.100 NDT/tấn trong phiên sáng nhưng bị lao dốc về cuối ngày, đóng cửa ở mốc 3.085 NDT/tấn (tăng 2 NDT/tấn); vị thế mở đạt 1,872 triệu hợp đồng (giảm 11.600 hợp đồng). Trong phiên đêm 23/07, hợp đồng rb2610 tiếp tục suy yếu, đóng cửa ở mức 3.076 NDT/tấn (giảm 14 NDT/tấn), mất mốc MA20.
Bắc Kinh: Thép cuộn vằn 8mm giữ vững mốc 3.450 NDT/tấn; thép thanh vằn chủ lực Φ 25mm tăng 10 NDT/tấn lên 3.200 NDT/tấn (giá giao dịch thép vằn chủ đạo toàn thị trường ổn định ở mốc 3.070 NDT/tấn).
Các khu vực khác: Hàng Châu duy trì thế yếu ở mốc 3.050 - 3.070 NDT/tấn; Tây An giữ mốc 2.990 - 3.000 NDT/tấn; phôi thép Đường Sơn giữ giá xuất xưởng ở mốc 2.960 NDT/tấn.
Tồn kho & Giao dịch: Thép xây dựng là phân khúc duy nhất bị tích lũy tồn kho trên toàn tuyến (cả tồn kho nhà máy, xã hội và tổng thể đều tăng, trong đó tồn kho xã hội tăng 0,34% lên 9,6404 triệu tấn). Tổng khối lượng giao dịch thép xây dựng toàn quốc ngày 23/07 phục hồi nhẹ đạt 105.500 tấn (tăng 14,58% so với ngày trước đó), nhưng áp lực bán xả hàng giá thấp vẫn chiếm chủ đạo.
Dự báo 24/07: Giá thép thanh vằn tại Bắc Kinh, Hàng Châu, Quảng Châu dự kiến đi ngang (mốc 3.060 - 3.070 NDT/tấn); Tây An, Vũ Hán, Thành Đô dự kiến giảm nhẹ 10 NDT/tấn (xuống mốc 3.000 - 3.010 NDT/tấn).
+ Thép công nghiệp
Thị trường thép dẹt và thép đặc chủng ghi nhận sự phục hồi về giá trên sàn tương lai nhưng giao dịch thực tế bị phân hóa, tâm lý người mua hạn chế:
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá trung bình 5.51500C tại 10 thành phố trọng điểm đạt 3.291 NDT/tấn (tăng 3 NDT/tấn). Thượng Hải giữ mốc xuất kho 3.300 NDT/tấn. Hợp đồng HRC tương lai 2610 tăng 0,21% lên 3.291 NDT/tấn. Giá phôi nền cán nguội (HRB) đạt 3.210 NDT/tấn (tăng 10 NDT/tấn, kết thúc chuỗi giảm). Tồn kho nhà máy HRC giảm tuần nhưng tồn kho xã hội tăng nhẹ 30.000 tấn do các nhà máy khởi động lại sau đại tu.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình 1.0mm toàn quốc nhích 1 NDT/tấn lên 3.743 NDT/tấn. Giá tại Thượng Hải (3.700 NDT/tấn), Quảng Châu (3.720 NDT/tấn), Thiên Tân (3.640 NDT/tấn) đồng loạt đi ngang. Thị trường trong trạng thái giằng co; các nhà máy giữ giá đáy nhưng hạ nguồn thắt chặt mua sắm, chỉ mua theo nhu cầu thiết yếu.
Thép tấm & Lá dày: Tồn kho xã hội thép tấm trung dày tiếp tục đà giảm tuần nhưng tổng tồn kho so với cùng kỳ vẫn cao hơn 41%. Giá giao ngay ổn định, các nhà máy không chấp nhận hạ giá chào do nhu cầu nội địa nhóm thép tấm vẫn có điểm tựa.
Thép chất lượng cao & Đặc biệt (Ưu đặc cương): Ngày 23/07 vận hành thu hẹp và yếu đi. Các trung tâm cốt lõi Hoa Đông giảm 20 - 30 NDT/tấn đối với thép kết cấu carbon và hợp kim; Hoa Bắc và Hoa Trung đi ngang. Sáng 24/07, giá xuất xưởng thép 45# tại các nhà máy chính giữ ổn định: Thường Châu Đông Phương 3.780 NDT/tấn, Hanggang 3.630 NDT/tấn, Lâm Nghi 3.450 NDT/tấn, Tân Thiên Thép 3.310 NDT/tấn.
+ Nguyên liệu thô
Sự nâng đỡ từ chi phí nguyên liệu quay trở lại trạng thái đệm đáy nhưng lực đẩy lên còn yếu:
Than cốc: Đợt giảm giá thứ nhất (50 - 55 NDT/tấn) đã áp dụng toàn diện. Giá xuất xưởng cốc loại 1 dập khô tại Đường Sơn giảm 55 NDT/tấn xuống 2.175 NDT/tấn; Trường Trị giảm xuống 1.975 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai quan trọng 09 bật tăng 19,5 điểm lên 1.847 NDT/tấn.
Than luyện cốc (Coking Coal): Thị trường vận hành yếu ổn định. Giá than cốc chính tại Đường Sơn giữ mốc 1.755 NDT/tấn; Lâm Phần giữ mốc 2.020 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai 09 tăng 15,5 điểm lên 1.287,5 NDT/tấn. Nguồn cung thắt chặt do thanh tra an toàn mỏ.
Quặng sắt: Thị trường nhập khẩu phục hồi nhẹ nhờ thông tin đình công tại Úc và tồn kho cảng giảm. Quặng bột PB tại cảng Kinh Đường tăng 1 NDT/tấn lên 716 NDT/tấn; Nhật Chiếu đạt 696 NDT/tấn (+4 NDT/tấn); Thanh Đảo đạt 696 NDT/tấn (+3 NDT/tấn); Thiên Tân đạt 708 NDT/tấn (+4 NDT/tấn). Quặng sắt tương lai 09 trên sàn Đại Liên đóng cửa đạt 747,5 NDT/tấn (tăng 5,5 điểm); hợp đồng hoán đổi Singapore đạt 98,15 USD/tấn (tăng 1,1%). Quặng nội địa (66% acid tại Đường Sơn) giữ nguyên mốc 784 NDT/tấn (cơ sở ướt, chưa thuế).
Phế liệu thép: Chỉ số lưu thông toàn quốc tăng 1 điểm lên 2.074. Phế nặng Đường Sơn giữ mốc 2.030 NDT/tấn; Trương Gia Cảng mốc 2.080 NDT/tấn. Giá phế liệu cao hơn tính kinh tế của sắt lỏng nhưng nhà máy thép hạn chế nâng tỷ lệ phối trộn do lợi nhuận kém.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục duy trì trạng thái trầm lắng, áp lực dư cung nội địa chưa thể giải tỏa qua kênh xuất khẩu:
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc đi ngang ở mốc 484 USD/tấn FOB. Chào giá mác Q235 từ các nhà máy tư nhân dao động mốc 488 - 496 USD/tấn FOB; giá giao dịch thực tế khoảng 484 - 490 USD/tấn FOB. Khách mua Châu Á và Nam Mỹ phản ứng chậm. Tại ASEAN, giá CFR HRC giữ nguyên 514 USD/tấn, giá chào SAE1006 nhập khẩu vào Việt Nam dao động 515 - 520 USD/tấn CFR nhưng lực mua yếu.
Thép cây & Thép cuộn trơn: Chỉ số giá thép cây FOB Trung Quốc giữ mốc 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Chào giá thép cây mác B500B ở mức 485 - 490 USD/tấn FOB. Thị trường xuất khẩu phôi thanh Đường Sơn giữ giá chào 460 - 465 USD/tấn FOB. Cuộn trơn (Wire rod) chào bán xuất khẩu ở mức 500 - 510 USD/tấn FOB.
Thép tấm & Thép mạ: Chào giá thép tấm SS400 xuất khẩu ổn định ở mức 524 - 545 USD/tấn FOB; chào giá CRC xuất khẩu đạt 550 - 562 USD/tấn FOB. Các nhà máy giữ giá cứng đối với thép tấm do thị trường nội địa tiêu thụ tốt hơn.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép Trung Quốc ngày 24/07/2026 dự báo tiếp tục vận hành trong thế giằng co, dao động tích lũy trong biên độ hẹp tại vùng đáy. Các yếu tố kỹ thuật và cơ bản tác động bao gồm:
Phía cung ứng & Tồn kho: Hơn 60% nhà máy thép chịu thua lỗ đang gia tăng đại tu và giảm sản lượng, giúp nhịp tích lũy tồn kho nhà máy chậm lại. Tuy nhiên, tổng tồn kho toàn ngành vẫn cao hơn cùng kỳ năm ngoái trên 31% (đặc biệt là dòng thép xây dựng và thép tấm trung dày), đòi hỏi thời gian tiêu hóa dài. Sự khởi động trở lại của một số dây chuyền cán nóng đang ngăn cản quá trình tái cân bằng cung cầu.
Phía chi phí & Nguyên liệu: Mặc dù giá quặng sắt và thép nền cán nguội kết thúc chuỗi giảm nhẹ, việc đợt giảm giá thứ nhất của than cốc đi vào thực tế vẫn làm hạ trục chi phí. Phía chi phí hiện chỉ đóng vai trò nâng đỡ đệm đáy chứ không tạo đủ lực đẩy giá thành phẩm bứt phá. Phía nhu cầu & Tâm lý: Mùa thấp điểm thời tiết (nắng nóng, mưa bão) cộng hưởng với nguồn vốn thi công thắt chặt khiến các công trường hạ nguồn chậm tiến độ. Tâm lý thị trường hoàn toàn phụ thuộc vào việc mua hàng bổ sung theo nhu cầu thực tế rải rác. Khối lượng giao dịch phiên sáng 24/07 có thể tiếp tục bị kìm hãm ở các mức giá cao.
Dự báo xu hướng giá ngày 24/07: Giá giao ngay các chủng loại thép thành phẩm (thép xây dựng, HRC, CRC, phôi ống, thép đặc biệt) trên thị trường nội địa Trung Quốc ngày hôm nay dự kiến sẽ duy trì trạng thái phân hóa, biến động hẹp (tăng giảm cục bộ 10 - 20 NDT/tấn). Ngắn hạn, mốc 3.100 NDT/tấn trên sàn tương lai rb2610 tiếp tục là ranh giới kháng cự quan trọng, giá thép giao ngay khó mở rộng đà tăng khi thiếu vắng sức mua đột biến từ dòng vốn đầu cơ.













