Thị trường thép Trung Quốc ngày hôm nay (5/8) tiếp tục duy trì trạng thái vận hành suy yếu, dao động trong biên độ hẹp khi các yếu tố hỗ trợ chưa xuất hiện. Đợt giảm giá than cốc lần thứ hai đã được thực hiện và kỳ vọng về đợt giảm thứ ba trong tuần này đang hiện hữu, tiếp tục làm nới lỏng hỗ trợ chi phí cho thép thành phẩm. Thị trường kỳ hạn ghi nhận tín hiệu thăm dò ngừng giảm sau chuỗi điều chỉnh sâu, song niềm tin chung vẫn đang ở phe bán (bi quan) do nhu cầu mùa thấp điểm chưa có cải thiện và mâu thuẫn cung - cầu chưa được giải quyết căn bản. Các thương nhân tiếp tục duy trì chiến lược tồn kho thấp và bán linh hoạt theo diễn biến thị trường.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng ngày 5/8 được dự báo tiếp tục xu hướng dao động trong biên độ hẹp, giá giao ngay tại các thành phố trọng điểm duy trì ổn định hoặc điều chỉnh giảm nhẹ 10-20 NDT/tấn so với phiên trước. Kết thúc phiên ngày 4/8, giá bình quân thép thanh vằn HRB400 φ25mm toàn quốc đạt 3.141 NDT/tấn (giảm 3 NDT so với ngày giao dịch trước), trong khi thép vằn xoắn cấp 3 φ8,0mm đạt 3.382 NDT/tấn (giảm 4 NDT). Tại các thị trường chủ lực, giá thép thanh vằn duy trì tại Bắc Kinh (2.990-3.110 NDT/tấn), Thượng Hải (2.980-3.000 NDT/tấn) và Hàng Châu (3.000-3.010 NDT/tấn).
Về phía cung ứng: Các nhà máy thép tiếp tục duy trì kế hoạch bảo dưỡng và cắt giảm sản lượng, đặc biệt các lò điện hồ quang đã giảm thời gian sản xuất. Tồn kho thép thanh vằn tại 35 thành phố đến ngày 31/7 đạt 5,1411 triệu tấn (tăng 8,1 vạn tấn so với tuần trước) và tồn kho thép cuộn trơn đạt 696.800 tấn (giảm 10.200 tấn), tổng tồn kho xã hội đạt 5,8379 triệu tấn. Áp lực hàng tồn tiếp tục ở mức cao, tốc độ giảm tồn tại nhà máy và xã hội diễn ra chậm.
Về phía cầu: Giao dịch ngày 4/8 ghi nhận mức trung bình với khối lượng khoảng 110.300 tấn (tăng so với mức 92.600 tấn của ngày 3/8), nhưng vẫn ở vùng thấp. Nhu cầu chủ yếu đến từ các đơn hàng đáp ứng nhu cầu thực tế, thiếu vắng giao dịch bù hàng tập trung. Thời tiết nắng nóng và mưa bão tiếp tục hạn chế tiến độ thi công các dự án hạ nguồn.
Trên thị trường kỳ hạn, hợp đồng thép thanh vằn chủ lực (rb2610) đóng cửa ngày 4/8 ở mức 2.983 điểm (giảm 6 điểm so với phiên trước), khối lượng hợp đồng mở đạt 2,39 triệu lô. Trong phiên có nhịp hồi phục lên vùng 2.997 nhưng không vượt qua ngưỡng kháng cự 3.000 điểm. Kỳ vọng ngày 5/8, hợp đồng này có thể tiếp tục dao động trong khoảng 2.970-3.010 điểm với vùng hỗ trợ quanh 2.950.
+ Thép công nghiệp
Thép cuộn cán nóng (HRC)
Giá thị trường HRC ngày 5/8 được dự báo tiếp tục dao động ở mức yếu, sau khi giá bình quân sản phẩm 5,5×1500×C tại 10 thành phố trọng điểm ngày 4/8 đạt 3.231 NDT/tấn (giảm 8 NDT so với phiên trước, giảm 55 NDT so với cùng kỳ tuần trước). Tại các thị trường chính, giá duy trì ở vùng 3.240-3.270 NDT/tấn (Thượng Hải), 3.330 NDT/tấn (Hàng Châu), 3.300 NDT/tấn (Nam Kinh), 3.290 NDT/tấn (Bắc Kinh), 3.160 NDT/tấn (Thiên Tân). Trong phiên hôm qua, dòng tiền đầu cơ giá lên đã giải phóng kỳ vọng thăm dò tăng giá, một số thương nhân bị lỗ lớn trong giai đoạn trước bắt đầu có động thái giữ giá, trong khi các thương nhân có tồn kho cao vẫn chủ yếu bán giảm giá để thu hồi vốn.
Tồn kho HRC tiếp tục tích lũy: tồn kho xã hội và nhà máy tuần qua ghi nhận mức tăng 75.100 tấn, lên 5,1843 triệu tấn. Khối lượng giao dịch xuất hàng ngày của các thương nhân lớn tại 18 thành phố ngày 4/8 đạt khoảng 47.410 tấn (tăng 3.980 tấn so với phiên trước), cho thấy giao dịch giá thấp được cải thiện nhẹ.
Thép cuộn cán nguội (CRC)
Thị trường CRC tiếp tục vận hành ổn định nhưng có phần yếu. Giá bình quân thép cuộn cán nguội 1,0mm toàn quốc ngày 4/8 là 3.720 NDT/tấn (giảm 2 NDT), trong đó giá tại Thượng Hải duy trì 3.680 NDT/tấn, Quảng Châu 3.700 NDT/tấn, Thiên Tân 3.610 NDT/tấn (giữ nguyên so với phiên trước). Biên lợi nhuận chênh lệch cán nguội – cán nóng duy trì ở mức 451 NDT/tấn. Các nhà máy thép đang gặp áp lực về đơn hàng và chi phí, trong khi nhu cầu từ ngành ô tô, gia dụng và cơ khí tiếp tục ở mức thấp theo mùa.
Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)
Thị trường thép mạ kẽm (HDG) ngày 5/8 được dự báo tiếp tục vận hành chủ yếu ổn định, với xu hướng giằng co giữa hỗ trợ chi phí và áp lực cầu yếu. Ngày 4/8, giá bình quân thép tấm mạ kẽm 1,0mm tại các thành phố trọng điểm toàn quốc duy trì ở mức 4.055 NDT/tấn (giữ nguyên so với phiên trước), trong khi thép tấm mạ màu 0,47mm giữ ở mức 5.391 NDT/tấn (không đổi). Báo giá thép mạ kẽm và mạ màu tại các thành phố trọng điểm đều ổn định, giá xuất xưởng thép mạ kẽm của các nhà máy tư nhân cũng giữ nguyên.
Về phía cung ứng: Công suất hoạt động của các dây chuyền sản xuất thép mạ phủ trong nước vẫn ổn định, nhịp độ sản xuất của các nhà máy thép đều đặn, chưa có kế hoạch bảo dưỡng và cắt giảm sản lượng tập trung, nguồn hàng lưu thông trên thị trường nhìn chung dồi dào. Các quy cách thông dụng chính đều có đủ nguồn hàng, không xảy ra tình trạng khan hiếm. Tồn kho tại nhà máy và tồn kho xã hội tiếp tục tích lũy chậm, tốc độ giảm tồn kho diễn ra chậm.
Về phía chi phí: Giá nguyên liệu nền thép cuộn cán nguội tại Đường Sơn trong ngày vẫn giữ ổn định, phía nguyên liệu thô bước vào giai đoạn điều chỉnh đi ngang, tạo thành hỗ trợ chi phí tương ứng cho sản phẩm thép mạ phủ thành phẩm. Biến động giá kẽm thỏi và vật liệu phụ trợ sơn phủ không lớn, chi phí sản xuất tổng hợp tạm thời không biến động đáng kể. Phía nguyên liệu thô tạm thời ngừng giảm, giảm bớt áp lực giảm giá liên tục đối với thành phẩm, nhưng mức độ hỗ trợ từ chi phí có hạn, khó có thể thúc đẩy giá giao dịch vật chất bật tăng trở lại.
Về phía cầu: Thị trường vẫn đang trong mùa thấp điểm nhu cầu truyền thống, thời tiết nắng nóng tiếp tục ảnh hưởng đến thi công các dự án công trình ngoài trời, kìm hãm sự giải phóng nhu cầu đối với thép mạ màu. Đơn hàng từ các ngành sản xuất gia dụng, cơ khí chế tạo thể hiện trầm lắng, các doanh nghiệp hạ nguồn tiếp tục duy trì mô hình tồn kho thấp, áp dụng hình thức mua theo nhu cầu phát sinh, ý chí dự trữ số lượng lớn không cao. Nhu cầu cơ bản chỉ duy trì ở mức nền tảng, thiếu các đợt mua sắm tập trung để thúc đẩy khối lượng giao dịch tăng đột biến.
Trên thị trường kỳ hạn, diễn biến của kẽm Thượng Hải khá trầm lắng, khó có thể tạo ra sự phấn khích về mặt tâm lý cho phân khúc mạ kẽm. Các hợp đồng của nhóm sản phẩm gang thép (hệ thống màu đen) trên thị trường kỳ hạn duy trì xu hướng dao động trong biên độ hẹp, khó dẫn dắt xu hướng của thị trường giao dịch vật chất. Các thương nhân có tâm lý chờ đợi quan sát rất đậm nét, báo giá tạm thời chưa điều chỉnh, nhưng không gian thương lượng giá cho các đơn hàng thực tế vẫn còn.
Trong ngắn hạn, nếu không có các yếu tố kích thích đáng kể, thị trường HDG khó có thể thoát khỏi cục diện dao động trong biên độ hẹp. Giá thị trường thép mạ phủ trong nước ngày mai được dự báo sẽ tiếp tục duy trì vận hành ổn định và yếu.
Thép tấm trung bình
Giá thép tấm trung bình dự báo vận động theo xu hướng yếu đi kèm với khối lượng giao dịch thấp. Tồn kho tại khu vực Vũ An ở mức 573.000 tấn, tăng nhẹ so với tuần trước.
Thép hình
Giá thép hình trong nước dao động giảm nhẹ, phản ánh áp lực từ cầu yếu và sự cạnh tranh giữa các nhà máy. Tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp sản xuất theo quy trình dài giảm 4,5 điểm phần trăm xuống 75% trong tuần qua, trong khi khối lượng giao dịch tại Đường Sơn giảm còn 130.000 tấn (giảm 30.000 tấn so với tuần trước).
Phôi ống
Giá phôi ống cán nóng 20# ngày 5/8 dự báo đi ngang hoặc giảm nhẹ, sau khi các mức giảm đã diễn ra trong tuần. Ngày 4/8, giá tại Lâm Nghi Cương Đầu (Hoa Đông) là 3.350 NDT/tấn (giảm 10 NDT), Thường Châu Đông Phương 3.420 NDT/tấn (giữ nguyên), Tân Thiên Cương (Hoa Bắc) 3.230 NDT/tấn (giữ nguyên). Kỳ vọng đợt giảm than cốc lần thứ ba vào ngày 7/8 sẽ tiếp tục nới lỏng chi phí, gây áp lực lên thành phẩm.
Thép không gỉ
Giá thép cuộn không gỉ 304 cán nguội cắt mép duy trì quanh mức 16.080 NDT/tấn. Hợp đồng Niken chủ lực và thép không gỉ có diễn biến tích cực nhẹ, song nhu cầu đầu cuối vẫn hạn chế.
+ Nguyên liệu thô
Than cốc
Thị trường than cốc ghi nhận đợt giảm giá lần thứ hai đã được thực hiện với mức giảm 50-55 NDT/tấn, đưa giá than cốc đến nhà máy tại Đường Sơn về 1.775 NDT/tấn. Ngành dự kiến đợt giảm giá lần thứ ba sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 7/8, dự báo mức giảm tương tự. Chi phí sản xuất than cốc trung bình toàn quốc ở mức 1.951 NDT/tấn, lợi nhuận lý thuyết lỗ 2 NDT/tấn. Các khu vực Hà Bắc và Sơn Đông vẫn duy trì lợi nhuận, trong khi các khu vực khác đang thua lỗ. Hợp đồng than cốc tương lai chủ lực đóng cửa ngày 4/8 ở mức 1.760 điểm, tăng 2 điểm.
Than luyện cốc
Thị trường vận hành yếu ổn định, một số loại than điều chỉnh giảm 10-30 NDT/tấn. Nguồn cung than vẫn ở mức căng thẳng do giám sát an toàn và giấy phép khai thác, song phía hạ nguồn (nhà máy luyện cốc) duy trì thái độ mua hàng thận trọng.
Quặng sắt
Giá quặng sắt nhập khẩu vận hành yếu. Ngày 4/8, giá PB 60,8% tại cảng Nhật Chiếu là 662 NDT/tấn (giảm 2 NDT so với phiên trước), cảng Thanh Đảo 663 NDT/tấn (giảm 2 NDT), cảng Thiên Tân 678 NDT/tấn (giảm 5 NDT). Hợp đồng quặng sắt tương lai Singapore chốt ở 93,65 USD/tấn. Tồn kho quặng tại các cảng duy trì ở mức cao và áp lực hàng đến cảng trong ngắn hạn vẫn tiếp diễn. Các nhà máy thép hạ nguồn chỉ duy trì mua theo nhu cầu cơ bản. Quặng nội địa cũng vận hành yếu, nhưng nguồn cung tại một số khu vực khan hiếm.
Thép phế liệu
Chỉ số giá cơ sở lưu thông toàn quốc ngày 4/8 ở mức 2.060 điểm (giảm 6 điểm), trong đó chỉ số phế nặng 2.035 điểm (giảm 7 điểm), chỉ số phế nghiền 2.085 điểm (giảm 5 điểm). Giá phế nặng tại Đường Sơn duy trì 2.030 NDT/tấn, Trương Gia Cảng 2.060 NDT/tấn. Thị trường tiếp tục trạng thái dao động yếu, cả cung và cầu đều yếu, các nhà máy thép siết chặt ngưỡng thu mua do lợi nhuận thành phẩm kém.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục trầm lắng, giá chào xuất khẩu và tâm lý giao dịch chịu áp lực giảm do giá nội địa yếu và nhu cầu quốc tế ảm đạm.
Thép cuộn cán nóng (HRC)
Giá xuất khẩu HRC duy trì ở mức 480-484 USD/tấn FOB (mác Q235/SS400). Chào bán từ các công ty thương mại ở mức 475-485 USD/tấn FOB đối với hàng từ nhà máy nhỏ phía Bắc, trong khi các nhà máy lớn giữ mức 490-500 USD/tấn FOB cho SS400. Tại thị trường Đông Nam Á (Việt Nam), HRC Q195 được chào ở 495 USD/tấn CFR và một số lô hàng nhỏ chốt ở 490 USD/tấn CFR nhằm tái xuất miễn thuế chống bán phá giá.
Thép mạ kẽm (HDG) xuất khẩu
Giá chào xuất khẩu thép mạ kẽm HDG (mác SGCC) dao động trong khoảng 546-585 USD/tấn FOB tùy theo uy tín nhà máy và điều kiện giao hàng. Thị trường xuất khẩu thép mạ gặp thêm trở ngại khi Nhật Bản chính thức tuyên bố kéo dài thời hạn điều tra chống bán phá giá đối với các sản phẩm thép mạ kẽm nhúng nóng nhập khẩu từ Trung Quốc đến tháng 12/2026. Điều này càng làm suy yếu tâm lý mua hàng của khách hàng quốc tế, đặc biệt tại thị trường Đông Bắc Á.
Thép dài
Giá FOB thép cây giảm xuống 467-468 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết), với chào bán của các nhà máy phía Bắc ở mức 478-486 USD/tấn FOB cho B500B và HRB400. Chào bán dây cuộn SAE1008 giảm xuống 491-493 USD/tấn FOB, nhưng hàng Indonesia rẻ hơn 20-30 USD/tấn gây áp lực cạnh tranh. Giá xuất khẩu phôi thép 3SP/4SP hạ xuống 450-455 USD/tấn FOB.
Phôi phiến (Slab)
Giá tham chiếu Slab FOB châu Á giảm xuống 463 USD/tấn FOB, với chào bán từ Trung Quốc ước tính khoảng 470 USD/tấn FOB.
Yếu tố phòng vệ thương mại và hành chính
Các vụ điều tra chống bán phá giá (đặc biệt tại Nhật Bản đối với thép mạ kẽm nhúng nóng) và thuế carbon tại các thị trường nhập khẩu tiếp tục cản trở hoạt động xuất khẩu. Người mua tại Đông Nam Á, Trung Đông và Nam Mỹ duy trì thái độ quan sát, trì hoãn đặt hàng mới.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Ngày 5/8, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục trạng thái dao động trong biên độ hẹp với tâm lý thận trọng bao trùm. Hợp đồng tương lai thép thanh vằn chủ lực (rb2610) có khả năng giao dịch quanh vùng 2.970-3.010 điểm, trong khi hợp đồng HRC chủ lực (hc2610) dự kiến vận động trong khoảng 3.190-3.240 điểm.
Các yếu tố hỗ trợ từ phía chi phí đang suy yếu dần, với kỳ vọng đợt giảm giá than cốc lần thứ ba vào ngày 7/8 và giá quặng sắt tiếp tục vận hành ở mức thấp. Phía cung ứng, các nhà máy thép duy trì bảo dưỡng và cắt giảm sản lượng nhưng quy mô chưa đủ để tạo ra sự cân bằng thực sự trên thị trường, khi tồn kho xã hội vẫn ở mức cao và tốc độ luân chuyển chậm. Phía cầu, nhu cầu mùa thấp điểm với đặc điểm thời tiết nắng nóng và mưa lớn tiếp tục kìm hãm hoạt động thi công và sản xuất, đơn hàng chủ yếu là các lô nhỏ đáp ứng nhu cầu tối thiểu.
Trong ngắn hạn, rất khó để xuất hiện sự đảo chiều xu hướng, thị trường sẽ tiếp tục vận động dưới áp lực và tìm kiếm vùng cân bằng mới. Các yếu tố cần theo dõi bao gồm: mức độ cắt giảm sản lượng của các nhà máy thép, tiến độ giải ngân vốn và nhu cầu thực tế cuối cùng, diễn biến chính sách vĩ mô và tác động của thời tiết đến các khu vực trọng điểm. Trong bối cảnh thiếu vắng các chất xúc tác tích cực, chiến lược vận hành thận trọng, duy trì tồn kho thấp và giao dịch theo nhu cầu thực tế phát sinh được khuyến nghị.



