Thị trường thép Trung Quốc ngày hôm nay tiếp tục đối mặt với áp lực điều chỉnh khi các chỉ số vĩ mô tháng 7 cho thấy hoạt động kinh tế phi sản xuất và PMI tổng hợp đều giảm xuống dưới ngưỡng 50%, phản ánh sự thu hẹp trong hoạt động kinh tế. Mâu thuẫn cung - cầu trong ngành thép vẫn là yếu tố chi phối khi tồn kho xã hội các sản phẩm xây dựng ghi nhận mức tăng 27,09% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, đợt giảm giá than cốc lần thứ hai đã chính thức được thực hiện với mức giảm 50-55 NDT/tấn, tiếp tục làm xói mòn sàn đỡ chi phí cho thép thành phẩm và tạo kỳ vọng về đợt giảm giá thứ ba. Tâm lý thị trường duy trì trạng thái thận trọng, các thương nhân vận hành theo mô hình tồn kho thấp và giao dịch theo nhu cầu thực tế phát sinh.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa dự báo tiếp tục xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ, giá giao ngay tại các thành phố trọng điểm duy trì biên độ giảm 10-30 NDT/tấn so với cuối tuần trước.
Tại các thị trường trọng điểm: Giá thép thanh vằn HRB400E Φ18-25mm tại Thượng Hải dự kiến duy trì quanh mức 2.960 NDT/tấn, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 3. Khu vực Quảng Châu dự báo điều chỉnh giảm nhẹ về mốc 3.050-3.070 NDT/tấn, trong khi thị trường Bắc Kinh vận động quanh ngưỡng 3.030-3.050 NDT/tấn. Các nhà máy thép lớn tại miền Đông Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh giảm 100 NDT/tấn đối với giá xuất xưởng thép cây cho các lô hàng giao từ ngày 1 đến ngày 10 tháng 8, đưa giá xuất xưởng về phạm vi 3.200-3.300 NDT/tấn.
Về phía cung ứng: Tỷ lệ vận hành lò cao trên toàn quốc tuần này tiếp tục xu hướng giảm, đạt 77,78% (giảm 0,25 điểm phần trăm so với tuần trước), với tổng dung tích lò cao bảo dưỡng đạt 101.370 m³. Một số nhà máy thép tại khu vực Đường Sơn đã lên kế hoạch bảo trì lò cao và dây chuyền cán trong tháng 8, dự kiến sẽ thu hẹp nguồn cung thép dài với mức giảm 2.500-6.000 tấn/ngày. Tồn kho thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm đến ngày 31/7 đạt 5,2564 triệu tấn, tăng 1,07% theo tuần và tăng 27,09% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó khu vực Hoa Đông ghi nhận mức tăng mạnh nhất với 49.400 tấn.
Về phía cầu: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc tuần qua ở mức trung bình thấp, giá trị bình quân đạt 93.000 tấn/ngày, giảm 3.100 tấn so với tuần trước. Hoạt động tiêu thụ chủ yếu tập trung vào các đơn hàng nhỏ đáp ứng nhu cầu thực tế phát sinh, thiếu vắng các giao dịch bù hàng tồn kho tập trung. Ảnh hưởng từ thời tiết nắng nóng và mưa bão tại các khu vực tiếp tục kìm hãm tiến độ thi công các công trình xây dựng hạ nguồn.
Trên thị trường tương lai: Hợp đồng tương lai thép cây giao tháng 10 trên Sàn giao dịch Tương lai Thượng Hải đóng cửa phiên ngày 3/8 tại mức 2.976 NDT/tấn, giảm 1,23% so với mức thanh toán phiên giao dịch trước. Biên độ dao động kỹ thuật trong ngắn hạn được dự báo nằm trong khoảng 2.950-3.020 NDT/tấn, với vùng hỗ trợ kỹ thuật tại 2.950 NDT/tấn đang bị thử thách.
+ Thép công nghiệp
Phân khúc thép dẹt tiếp tục xu hướng điều chỉnh giảm, trong khi thép hình vận hành suy yếu do áp lực từ mùa nhu cầu thấp điểm.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất kho chủ đạo tại Thượng Hải dự báo giữ ở mức 3.240 NDT/tấn, giảm 20 NDT/tấn so với đầu tuần. Giá bình quân toàn quốc thép cuộn cán nóng 5,5×1500×C đạt 3.360 NDT/tấn (giảm 28 NDT/tấn so với cùng kỳ tuần trước). Một nhà máy thép lớn tại miền Đông Trung Quốc đã điều chỉnh giảm giá xuất xưởng HRC thêm 150 NDT/tấn cho các lô hàng giao tháng 8, đưa giá HRC mác Q235 xuống mức 3.550 NDT/tấn sau điều chỉnh. Tổng sản lượng HRC toàn quốc tuần này đạt 4,1019 triệu tấn (giảm 40.500 tấn so với tuần trước), trong khi tồn kho xã hội và nhà máy đạt 5,1843 triệu tấn (tăng 75.100 tấn so với tuần trước). Khối lượng giao dịch xuất hàng ngày của các đại lý lớn tại 18 thành phố trọng điểm phiên ngày 31/7 đạt khoảng 46.210 tấn, giảm 1.820 tấn so với phiên trước.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá bình quân toàn quốc thép cuộn cán nguội 1,0mm duy trì quanh mức 3.726 NDT/tấn, giảm 13 NDT/tấn so với tuần trước. Giá thép tấm cuộn cán nguội 1,0mm tại Thượng Hải ở mức 3.690 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn), Quảng Châu ở mức 3.710 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn), Thiên Tân ở mức 3.610 NDT/tấn (giảm 30 NDT/tấn). Biên lợi nhuận chênh lệch giá cán nguội-cán nóng hiện ở mức 451 NDT/tấn.
Thép tấm trung bình: Thị trường thép tấm trung bình tiếp tục xu hướng dao động tìm đáy. Sản lượng tuần của 44 doanh nghiệp mẫu đạt 2,0814 triệu tấn (giảm 18.000 tấn so với tuần trước). Tồn kho xã hội tại khu vực Vũ An là 573.000 tấn (tăng nhẹ 1.000 tấn so với tuần trước, tăng 68.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái). Khối lượng giao dịch trung bình ngày của 105 đại lý thép tấm trung bình quy mô lớn tại 15 thành phố trọng điểm là 51.500 tấn, giảm 200 tấn so với tuần trước.
Thép hình: Giá thép hình trong nước nhìn chung suy yếu, giá tại hầu hết các thành phố giảm 10-20 NDT/tấn so với tuần trước. Giá bình quân thép chữ I là 3.513 NDT/tấn (giảm 2 NDT), thép chữ U là 3.495 NDT/tấn (giảm 4 NDT), thép chữ L là 3.486 NDT/tấn (giảm 5 NDT), thép hình H là 3.410 NDT/tấn (không đổi). Tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp sản xuất mẫu theo quy trình dài tuần này là 75% (giảm 4,5 điểm phần trăm so với tuần trước). Tồn kho thép hình tại nhà máy đạt 1,90 triệu tấn, giảm 33.000 tấn so với tuần trước nhưng biên độ giảm đã thu hẹp rõ rệt. Khối lượng giao dịch tuần của các nhà máy cán lại Đường Sơn chỉ đạt 130.000 tấn, giảm 30.000 tấn so với tuần trước.
Phôi ống: Giá phôi ống cán nóng 20# điều chỉnh giảm trên diện rộng. Giá phôi ống tại Lâm Nghi Cương Đầu ở mức 3.370 NDT/tấn (giảm 40 NDT trong tuần), Thường Châu Đông Phương ở mức 3.430 NDT/tấn (giảm 60 NDT), Tân Thiên Cương tại Hoa Bắc ở mức 3.280 NDT/tấn (giảm 30 NDT). Tồn kho phôi ống và thành phẩm ống thép liền mạch tại 21 nhà máy mẫu khu vực Sơn Đông ghi nhận mức tăng nhẹ, lần lượt đạt 296.800 tấn và 418.500 tấn.
Thép không gỉ: Giá thép cuộn không gỉ tạm ổn định, giá bình quân thép cuộn không gỉ 304 cán nguội cắt mép tại các thành phố trọng điểm ở mức 16.080 NDT/tấn. Hợp đồng chủ lực Niken Thượng Hải đóng cửa tại 131.680 NDT/tấn (tăng 0,32%), hợp đồng chủ lực thép không gỉ đóng cửa tại 14.635 NDT/tấn (tăng 0,27%). Giá mua theo hợp đồng dài hạn ferro crom hàm lượng cacbon cao tháng 8 của các tập đoàn lớn giảm 200 NDT/tấn so với tháng 7.
+ Nguyên liệu thô
Đợt giảm giá than cốc lần thứ hai đã chính thức được thực hiện, trong khi thị trường quặng sắt và thép phế liệu vận hành suy yếu.
Than cốc: Giá than cốc luyện kim loại một đến nhà máy tại khu vực Đường Sơn ở mức 2.120 NDT/tấn, giảm 55 NDT/tấn so với tuần trước. Than cốc khô chuẩn một tại Hàm Đan ở mức 1.910 NDT/tấn (giảm 55 NDT), tại Lâm Phần, Sơn Tây ở mức 2.100 NDT/tấn (giảm 55 NDT). Thị trường đã hình thành kỳ vọng phổ biến về đợt giảm giá lần thứ ba. Hợp đồng tương lai than cốc 2609 giảm 73,5 điểm (tương đương 3,99%), xuống mức 1.829 NDT/tấn.
Than luyện cốc: Thị trường vận hành yếu ổn định, một số loại than giảm 10-30 NDT/tấn. Công tác giám sát an toàn tại các khu vực sản xuất vẫn nghiêm ngặt, một số mỏ than ngừng sản xuất do giấy phép hết hạn, nguồn cung than luyện cốc vẫn còn căng thẳng. Tồn kho than tinh tại các mỏ tiếp tục tăng do doanh nghiệp hạ nguồn thận trọng mua hàng.
Quặng sắt: Giá thị trường quặng sắt vận hành đi ngang thiên yếu. Giá PB粉 nhập khẩu tại cảng Kinh Đường ở mức 701 NDT/tấn (giảm 13 NDT trong tuần), tại Nhật Chiếu và Thanh Đảo duy trì mốc 692 NDT/tấn. Quặng mịn 62% Fe Úc nhập khẩu duy trì mức giá tham chiếu 98,25 USD/tấn CFR. Tồn kho quặng sắt tại hai cảng Đường Sơn giảm 480.000 tấn xuống còn 27,44 triệu tấn. Tập đoàn Vale vừa điều chỉnh dự báo chi phí tiền mặt C1 cho quặng sắt năm 2026 lên mức 22,5-23,5 USD/tấn, tăng so với dự báo trước đó là 20-21,5 USD/tấn.
Thép phế liệu: Chỉ số giá cơ sở lưu thông thép phế liệu toàn quốc ở mức 2.069 (giảm 3 điểm), trong đó chỉ số phế nặng đạt 2.045 (giảm 4 điểm), chỉ số phế nghiền đạt 2.093 (giảm 2 điểm). Giá phế nặng tại khu vực Giang Âm ở mức 2.080 NDT/tấn (giảm 20 NDT/tấn so với tuần trước), tại Đường Sơn ở mức 2.030 NDT/tấn (không đổi). Các bãi thu mua vận hành thận trọng với tồn kho thấp, chủ yếu giao dịch theo mô hình thu gom đến đâu bán ngay đến đó.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Hoạt động xuất khẩu thép Trung Quốc duy trì trạng thái trầm lắng, giá chào và giá giao dịch tiếp tục xu hướng giảm do áp lực từ thị trường nội địa suy yếu và tâm lý thận trọng của người mua quốc tế.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống còn 478 USD/tấn FOB Trung Quốc, mức thấp nhất kể từ ngày 17/3. Các công ty thương mại chấp nhận mức giá thầu ở khoảng 475-480 USD/tấn FOB Trung Quốc đối với HRC mác Q235, trong khi người mua đường biển hạ mức giá định hướng xuống khoảng 470 USD/tấn FOB Trung Quốc. Nhà máy thép Hòa Phát của Việt Nam đã cắt giảm giá chào hàng tháng cho các lô hàng giao tháng 9 đối với HRC mác SS400 và SAE1006 xuống mức tương đương khoảng 535-536 USD/tấn CIF Việt Nam từ mức 550-551 USD/tấn CIF Việt Nam. Tại thị trường Đông Nam Á, giá HRC chào về Việt Nam được duy trì ở mức 500-510 USD/tấn CFR đối với cuộn SAE1006 từ Ấn Độ và Indonesia.
Thép dài: Chỉ số thép cây FOB Trung Quốc giảm 1 USD/tấn xuống còn 467 USD/tấn theo trọng lượng lý thuyết. Một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc hạ giá chào xuất khẩu thép cây B500B thêm 2 USD/tấn xuống còn 478 USD/tấn FOB, giá chào thép cây cuộn giảm xuống còn 512 USD/tấn FOB. Giá chào từ các công ty thương mại ở mức 475 USD/tấn FOB, nhưng người mua nhìn chung vẫn đứng ngoài quan sát.
Dây cuộn và Phôi thanh: Giá xuất khẩu dây cuộn SAE1008 giảm 1 USD/tấn xuống còn 491 USD/tấn FOB. Một nhà máy Indonesia cắt giảm giá xuất khẩu dây cuộn thêm 5 USD/tấn so với tuần trước xuống còn 475 USD/tấn FOB. Giá xuất khẩu phôi thanh từ các công ty thương mại Trung Quốc giảm xuống còn 450 USD/tấn FOB từ mức 455-460 USD/tấn FOB của tuần trước. Một nhà máy Indonesia cắt giảm giá xuất khẩu phôi thép thêm 4 USD/tấn xuống còn 456 USD/tấn cho lô hàng giao tháng 11.
Phòng vệ thương mại và yếu tố pháp lý: Các biện pháp chống bán phá giá tại nhiều thị trường, đặc biệt là tại khu vực Đông Nam Á và Trung Đông, tiếp tục gây áp lực lên hoạt động xuất khẩu. Người mua tại Việt Nam tỏ ra thận trọng trước các biện pháp bảo hộ thương mại. Thị trường xuất khẩu cũng đang đối mặt với chi phí vận chuyển biển bấp bênh và chi phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh gia tăng tại một số tuyến đường vận tải.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép Trung Quốc trong ngắn hạn dự báo tiếp tục xu hướng vận hành suy yếu với trạng thái dao động tìm đáy. Hợp đồng tương lai thép cây rb2610 trên Sàn giao dịch Tương lai Thượng Hải được dự báo giao dịch trong biên độ 2.930-3.010 NDT/tấn. Phía cung ứng, các nhà máy thép vẫn đang duy trì kế hoạch bảo trì, cắt giảm sản lượng trong bối cảnh thua lỗ, nhưng mức độ thu hẹp nguồn cung hiện tại chưa đủ để bù đắp cho sự suy yếu của nhu cầu mùa thấp điểm. Các yếu tố tiêu cực từ thị trường kỳ hạn và chi phí nguyên vật liệu dự kiến tiếp tục tạo áp lực, trong khi tâm lý thận trọng của thương nhân và hạ nguồn sẽ duy trì. Thị trường cần theo dõi diễn biến tồn kho, các đợt bảo trì, cắt giảm sản lượng của các nhà máy thép cũng như các thông tin về chính sách vĩ mô và tác động của thời tiết đến hoạt động thi công để đánh giá khả năng cân bằng cung - cầu. Trong bối cảnh các yếu tố hỗ trợ chưa rõ ràng, thị trường được dự báo sẽ tiếp tục vận động dưới áp lực với biên độ điều chỉnh giảm hẹp.



















