Thị trường thép Trung Quốc ngày hôm nay tiếp tục duy trì sắc thái rung lắc mài đáy dưới áp lực từ mâu thuẫn cung – cầu mùa thấp điểm kéo dài và đà điều chỉnh chi phí nguyên liệu thô chưa có dấu hiệu dừng lại. Trong khi các thông tin về chính sách cắt giảm sản lượng ngắn hạn tại Đường Sơn và nỗ lực giữ giá của các nhà máy thép có tác dụng kiềm chế đà giảm sâu, tâm lý thận trọng vẫn bao trùm thị trường do áp lực tồn kho xã hội cao hơn 11% so với cùng kỳ năm ngoái và sức mua từ hạ nguồn suy yếu do thời tiết nắng nóng, mưa bão . Bên cạnh đó, thị trường kỳ hạn phiên đêm qua ghi nhận đợt tăng vị thế bán mạnh bất thường, đâm thủng các mốc hỗ trợ kỹ thuật và tạo thêm áp lực điều chỉnh lên thị trường giao ngay .
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa dự báo tiếp tục vận động suy yếu là chủ đạo, trạng thái điều chỉnh giảm nhẹ lan rộng trên các thị trường trọng điểm.
Tại khu vực Bắc Kinh, Hàng Châu và Quảng Châu: Giá cơ sở thép thanh vằn cấp 3 HRB400E Φ18-22mm dự kiến giảm nhẹ 10 NDT/tấn, lần lượt về các mốc 3.050 NDT/tấn, 3.050 NDT/tấn và 3.050 NDT/tấn, dưới tác động từ xu hướng đi xuống của sàn tương lai và sức mua hạ nguồn duy trì ở mức thấp. Giao dịch thực tế phiên trước vẫn ở mức yếu với khối lượng toàn quốc đạt 9,82 vạn tấn.
Tại các thị trường Tây An, Vũ Hán, Thành Đô, giá giao ngay được dự báo tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh giảm 10 NDT/tấn, lần lượt về các mốc 2.980 NDT/tấn, 2.980 NDT/tấn và 3.020 NDT/tấn trong bối cảnh bầu không khí giao dịch trầm lắng và các thương nhân vẫn duy trì tâm lý thận trọng quan sát.
Phôi thép Đường Sơn: Giá xuất xưởng phôi thép vuông carbon phổ thông tại khu vực Xương An - Đường Sơn duy trì mốc 2.940 NDT/tấn. Trong khi đó, chi phí tích lũy bao gồm thuế của phôi thép tại các nhà máy quy trình dài ở mức trung bình 2.999 NDT/tấn, đồng nghĩa với việc các nhà máy vẫn đang chịu mức lỗ lý thuyết khoảng 59 NDT/tấn.
Thị trường tương lai: Hợp đồng chủ lực thép thanh vằn rb2610 phiên đêm ghi nhận mức tăng vị thế bất thường thêm 190.000 lô, đâm thủng mốc hỗ trợ và lập đáy mới kể từ tháng 3, chốt phiên ở mức 3.032 NDT/tấn (giảm 35 điểm/tấn, tương đương giảm 1,14%, với biên độ dao động trong phiên đạt 3.022 - 3.061 NDT/tấn). Tổng vị thế mở hiện đạt 2,224 triệu lô. Biên độ dao động tham khảo cho phiên giao dịch trong ngày dự kiến nằm trong khoảng 3.000 - 3.069 NDT/tấn.
Tồn kho và thanh khoản: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc phiên trước đạt 9,82 vạn tấn, tăng nhẹ so với 8,75 vạn tấn của phiên liền trước nhưng vẫn duy trì ở mức thấp. Tồn kho thép vật liệu xây dựng tại xưởng của các nhà máy mẫu đạt 4,1017 triệu tấn, giảm nhẹ 0,90% so với tuần trước nhưng vẫn ở mức cao hơn 38,34% so với cùng kỳ năm ngoái. Tỷ lệ sử dụng công suất lò cao tại Đường Sơn hiện đạt 84,36% (giảm 0,86% so với tuần trước).
+ Thép công nghiệp
Phân khúc thép dẹt và thép hình tiếp tục vận động phân hóa, xu hướng đi ngang củng cố hoặc điều chỉnh giảm nhẹ là chủ đạo do sức ép từ lực cầu hạ nguồn trong mùa thấp điểm.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao ngay tài nguyên chủ đạo mác 5.5×1500×C giữ nhịp ổn định là chính, đạt giá trung bình toàn quốc 3.286 NDT/tấn. Hợp đồng HRC tương lai 10 chốt phiên đêm ở mức 3.260 NDT/tấn (giảm 0,79%). Khối lượng xuất hàng hằng ngày của các đại lý lớn tại 18 thành phố trọng điểm phiên trước phục hồi nhẹ đạt khoảng 51.250 tấn (tăng 2.660 tấn so với phiên trước).
Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình toàn quốc loại 1.0mm duy trì thế ổn định củng cố, giao động quanh mức 3.737 - 3.738 NDT/tấn (giảm nhẹ 1 NDT/tấn so với phiên trước). Giá cuộn cán nguội 1.0mm tại Thượng Hải (3.700 NDT/tấn), Quảng Châu (3.720 NDT/tấn) và Thiên Tân (3.640 NDT/tấn) chủ yếu đi ngang. Lợi nhuận chênh lệch giá cán nguội - cán nóng hiện ở mức 451 NDT/tấn. Tỷ lệ sử dụng công suất cán nguội tháng 7 đạt 81,76% (giảm 2,52 điểm phần trăm so với tháng trước), với tổng sản lượng mẫu đạt 5,44 triệu tấn. Tồn kho xã hội cán nguội đạt 128,23 vạn tấn, giảm 4,45% so với tháng trước nhưng vẫn ở mức cao hơn 11,00% so với cùng kỳ năm trước.
Thép hình và phôi ống: Báo giá thép hình Đường Sơn được duy trì ở mức 3.240 - 3.270 NDT/tấn; tỷ lệ khởi công dây chuyền cán thép hình Đường Sơn hiện đạt 28,9% (giảm 18,5% so với tuần trước). Giá phôi ống cán nóng 20# tại Lâm Nghi giữ mốc 3.400 NDT/tấn, trong khi Thường Châu ở mức 3.450 NDT/tấn.
+ Nguyên liệu thô
Sự nới lỏng từ đầu chi phí tiếp tục làm xói mòn sàn đỡ giá thành phẩm khi đợt hạ giá thứ hai của than cốc chính thức đi vào thực tế.
Than cốc (Coke): Đợt giảm giá thứ hai đã chính thức hạ cánh với mức giảm từ 50 - 55 NDT/tấn, tạo tiền đề cho kỳ vọng về đợt giảm giá lần thứ ba. Hợp đồng tương lai chủ lực 09 phiên đêm tiếp tục suy yếu về mức 1.829 NDT/tấn (giảm 0,57%).
Than luyện cốc (Coking coal): Hợp đồng tương lai chủ lực 09 đóng cửa phiên đêm biến động hẹp ở mức 1.245 NDT/tấn (tăng nhẹ 0,04%). Mặc dù các sự cố an toàn tại một số mỏ than Thiểm Tây có thể gây gián đoạn nguồn cung ngắn hạn, nhập khẩu than gia tăng đã góp phần làm dịu bớt tâm lý lo ngại trên thị trường.
Quặng sắt: Thị trường vận hành đi ngang thiên yếu. Hợp đồng tương lai quặng sắt 09 phiên đêm chốt ở mức 734 NDT/tấn (giảm 0,74%). Quặng mịn 62% Fe Úc nhập khẩu duy trì mức giá tham chiếu 98,25 USD/tấn CFR. Tại thị trường giao ngay, giá bột PB tại các cảng Nhật Chiếu và Thanh Đảo duy trì ở mốc 692 NDT/tấn; giá tại cảng Kinh Đường giữ ở mức 712 - 713 NDT/tấn. Tồn kho quặng sắt tại hai cảng Đường Sơn giảm 48 vạn tấn xuống còn 27,44 triệu tấn.
Thép phế liệu: Chỉ số giá chuẩn lưu thông phế liệu toàn quốc nhích nhẹ lên mức 2.074 (trong đó chỉ số phế nặng đạt 2.052, chỉ số phế nghiền đạt 2.097). Giá phế nặng tại Đường Sơn giữ mốc 2.030 NDT/tấn, trong khi Trương Gia Cảng giữ mốc 2.080 NDT/tấn. Các bến bãi vẫn duy trì tồn kho thấp và giao dịch thực hiện theo nhu cầu cứng.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Hoạt động xuất khẩu thép Trung Quốc duy trì trạng thái ảm đạm, chịu tác động từ sự suy yếu của giá nội địa và chi phí vận tải biển tăng cao do các yếu tố rủi ro địa chính trị.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC ổn định ở mức 484 USD/tấn FOB Trung Quốc. Báo giá cho mác Q235 đạt khoảng 487 - 490 USD/tấn FOB, trong khi mác SS400 được duy trì quanh mức 490 - 500 USD/tấn FOB. Mức giá giao dịch thực tế cho mác Q235 đạt khoảng 485 USD/tấn FOB. Tại thị trường Đông Nam Á, giá HRC chào về Việt Nam đi ngang ở mức 513 - 514 USD/tấn CFR, trong khi mức trả giá của người mua xoay quanh mức 510 USD/tấn CFR.
Thép dài và phôi thép: Chỉ số thép cây FOB Trung Quốc ở mức 472 USD/tấn; giá chào xuất khẩu cho các mác HRB400 và B500B được giữ ở mức 474 - 485 USD/tấn FOB. Chỉ số dây cuộn trơn giữ ở mức 493 USD/tấn FOB, với giá chào mác SAE1008 ở mức 500 - 515 USD/tấn FOB, cao hơn khoảng 20 - 30 USD/tấn so với hàng từ Indonesia. Giá phôi thanh xuất khẩu của Trung Quốc và Indonesia duy trì mức chào quanh 460 USD/tấn FOB, với giá chốt giao dịch ở mức 455 - 460 USD/tấn FOB.
Phòng vệ thương mại và yếu tố pháp lý: Bộ Thương mại Hoa Kỳ (ITA) vừa ban hành kết luận cuối cùng áp thuế chống trợ cấp (CVD) mức 6,80% đối với thép cây nhập khẩu từ Việt Nam và mức 23,27% đối với Ai Cập trong năm 2024. Căng thẳng hàng hải tại Biển Đen và Biển Đỏ tiếp tục đẩy chi phí vận tải biển và phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh (AWRP) lên cao, gây gián đoạn luồng hàng xuất khẩu từ Trung Quốc.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép Trung Quốc trong ngắn hạn dự báo tiếp tục vận hành trong mô hình dao động mài đáy với trạng thái phân hóa yếu là chủ đạo.
Áp lực cung – cầu: Mặc dù chính sách hạn chế sản xuất ngắn hạn tại Đường Sơn và các đợt bảo dưỡng lò cao giúp thu hẹp nguồn cung gang lỏng, sản lượng thép thành phẩm vẫn duy trì ở mức tương đối cao. Trong khi đó, tồn kho xã hội tích tụ cùng với sức mua hạ nguồn suy yếu do thời tiết mùa hè cực đoan đang gây sức ép buộc các nhà máy thép phải xem xét các biện pháp cắt giảm sản lượng sâu hơn để tái thiết lập cân bằng cung – cầu.
Phản hồi tiêu cực từ chi phí: Việc đợt giảm giá lần thứ hai của than cốc hạ cánh cùng với xu hướng suy yếu của nhóm nguyên liệu đầu vào khiến trục chi phí sản xuất tiếp tục dịch chuyển xuống dưới. Quá trình này vô tình làm xói mòn sàn đỡ giá thành phẩm, khiến thị trường tiếp tục rơi vào vòng lặp phản hồi tiêu cực trong ngắn hạn.
Dự báo xu hướng giá: Giá giao ngay các mặt hàng thép thành phẩm (thép cây, cuộn cán nóng, cán nguội và thép hình) dự kiến tiếp tục điều chỉnh giảm nhẹ hoặc đi ngang giằng co với biên độ dao động 10 - 20 NDT/tấn. Cấu trúc kỹ thuật trên sàn tương lai đã bị tổn hại sau phiên tăng mạnh vị thế phe bán trong phiên đêm qua, ranh giới hỗ trợ trong vùng 3.000 - 3.020 NDT/tấn trên hợp đồng rb2610 sẽ phải chịu thử thách lớn; thị trường cần chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn từ chính sách vĩ mô cũng như các đợt cắt giảm sản lượng mang tính thực chất từ các nhà máy.




