Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 10/7/2026

Thị trường thép nội địa Trung Quốc ghi nhận trạng thái bế tắc và đi ngang trên diện rộng khi tâm lý lạc quan từ phiên trước nhanh chóng hạ nhiệt. Trên thị trường kỳ hạn, các hợp đồng tương lai biến động trong biên độ hẹp với mức tăng giảm không đáng kể. Áp lực tồn kho tích lũy cao tại cả khối nhà máy và kho thương mại tiếp tục đè nặng lên thị trường, trong khi nguồn cung dồi dào nhưng tốc độ cắt giảm sản lượng diễn ra chậm hơn kỳ vọng. Do đang trong mùa thấp điểm chịu ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai, nắng nóng và mưa kéo dài, sức mua từ các ngành hạ nguồn suy yếu mạnh. Hệ quả là khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm sụt giảm nghiêm trọng, thử thách mạnh mẽ khả năng duy trì biên lợi nhuận của các nhà thương mại.

Thị trường thép trong nước

Thép xây dựng

Giá giao ngay và kỳ hạn: Giá bình quân toàn quốc của thép thanh vằn (rebar) đạt 3.219 NDT/tấn, tăng nhẹ 3 NDT/tấn so với phiên trước. Tuy nhiên, tại thị trường Thượng Hải, giá rebar xuất kho giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.060 NDT/tấn (giá giao dịch lý thuyết tại các thành phố lớn dao động trong khoảng 3.070 - 3.100 NDT/tấn). Tại các khu vực khác, giá rebar HRB400E Φ18mm tại Vũ Hán giữ ổn định ở mức 3.150 - 3.180 NDT/tấn; rebar Φ22mm tại Sơn Đông đi ngang ở ngưỡng 3.230 - 3.260 NDT/tấn; giá thép Shaoxiang tại Quảng Châu phổ biến ở mức 3.170 NDT/tấn. Trên sàn kỳ hạn, hợp đồng tương lai rebar chính (tháng 10) đóng cửa tại mức 3.091 điểm, tăng nhẹ 3 điểm, biến động quanh mốc 3.090 trong suốt cả ngày với mức thấp nhất chạm 3.081 điểm.

Phôi thép (Billet): Giá xuất xưởng phôi thép vuông thông thường từ các nhà máy hàng đầu ở Tiền An và nhà máy Qian'an Songting tại Đường Sơn giữ mức ổn định, không thay đổi ở ngưỡng 2.970 NDT/tấn (đã bao gồm thuế).

Yếu tố chi phí và Cung - Cầu: Khối lượng giao dịch thép toàn quốc sụt giảm mạnh khi tổng lượng giao dịch thép xây dựng tại 20 thành phố trọng điểm của 224 doanh nghiệp thương mại đạt 9,44 vạn tấn (giảm 28,84% so với mức 13,26 vạn tấn của phiên trước). Tại Quảng Châu, lượng giao dịch của 10 thương nhân mẫu giảm 13.700 tấn xuống còn 10.100 tấn; tại Vũ Hán tổng xuất hàng giảm 2.100 tấn xuống còn 6.300 tấn; tại Sơn Đông sức mua cũng giảm mạnh với lượng giao dịch tại Thanh Đảo đạt 5.315 tấn và Tế Nam đạt 1.890 tấn. Nguyên nhân do nhu cầu đã được giải phóng từ phiên trước kết hợp với thời tiết bất lợi làm chậm tiến độ công trường. Về cung và tồn kho, tồn kho rebar toàn quốc tăng 100.000 tấn lên 7 triệu tấn do tiêu thụ giảm 150.000 tấn xuống 1,95 triệu tấn, trong khi sản lượng rebar giảm 110.000 tấn xuống 2,05 triệu tấn nhưng vẫn ở mức cao. Ngược lại, tồn kho tại nhà máy Sơn Đông giảm 1.8000 tấn xuống còn 4,3 vạn tấn nhờ cung co hẹp. Hiện tại, khoảng 50% nhà sản xuất rebar đang hoạt động thua lỗ.

Thép công nghiệp

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá bình quân giao ngay HRC giảm nhẹ 1 NDT/tấn xuống mức 3.300 NDT/tấn, trong khi giá giao tại kho Thượng Hải ổn định ở mức 3.310 NDT/tấn (phổ biến chào bán ở mức 3.310 - 3.320 NDT/tấn). Trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng HRC tháng 10 đóng cửa tại 3.298 điểm, tăng nhẹ 4 điểm (+0,12%). Tồn kho HRC tuần này tăng gần 20.000 tấn, tốc độ tích lũy đã chậm lại nhưng lượng tồn kho cao vẫn tạo áp lực lớn. Các nhà máy thép lập kế hoạch giảm sản lượng trong tháng 7 do biên lợi nhuận bị nén sâu nhưng tiến độ thực tế diễn ra chậm. Sức mua trên thị trường vật chất suy yếu, khối hạ nguồn chỉ mua lượng nhỏ.

Thép cuộn cán nguội (CRC) và Thép mạ: Thị trường CRC và thép mạ rơi vào trạng thái đi ngang ổn định trên diện rộng. Giá trung bình toàn quốc của thép tấm mạ kẽm 1.0mm duy trì ở mức 4.086 NDT/tấn, và thép tấm mạ màu 0.47mm ổn định ở mức 5.416 NDT/tấn. Giá nguyên liệu cán nguội tại Đường Sơn đi ngang mang lại môi trường chi phí ổn định. Các dây chuyền mạ kẽm và mạ màu vận hành orderly theo kế hoạch, nguồn cung dồi dào trên mọi tiêu chuẩn kỹ thuật kìm hãm đà tăng giá, trong khi tồn kho tích lũy chậm. Nhu cầu hạ nguồn tiếp tục suy yếu do thời tiết mưa kéo dài và nhiệt độ cao, các doanh nghiệp chỉ mua hàng từng phần.

Nguyên liệu và phế: Giá nguyên liệu thô bước vào giai đoạn ổn định ngắn hạn. Giá bột PB nhập khẩu tại cảng Jingtang duy trì ở mức 717 NDT/tấn; giá than cốc luyện kim loại gần bằng loại một tại Đường Sơn giữ ở mức 1.885 NDT/tấn. Đối với độc lập cốc, chi phí sản xuất tấn cốc ghi nhận 1.971 NDT, giá bán bình quân 2.060 NDT, lợi nhuận lý thuyết đạt 88 NDT/tấn (tăng 17 NDT). Giá than cốc luyện kim và quặng sắt ổn định hỗ trợ bệ đỡ chi phí cho các nhà máy thép. Trên sàn tương lai, than cốc tháng 9 giảm 1,5 điểm xuống 1.945 điểm, than cốc tháng 9 tăng 1 điểm lên 1290 điểm, và quặng sắt tháng 9 chốt tại 745,5 điểm (+2 điểm).

Thị trường xuất khẩu

Thép dài và Phôi: Giá xuất khẩu thép dài giảm nhẹ dưới áp lực tiêu thụ toàn cầu thấp. Chỉ số giá rebar FOB Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống còn 474 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết); mức giá bán mục tiêu của các nhà máy giảm xuống còn 470 - 475 USD/tấn FOB (hoặc 495 - 500 USD/tấn CFR Singapore). Giá chào xuất khẩu mặt hàng B500B miền Bắc ở mức 485 USD/tấn FOB, mác HRB400 chào ở mức 475 USD/tấn FOB và cuộn gân đạt 519 USD/tấn FOB; trong khi một công ty quốc tế báo chào B500B ở mức 500 USD/tấn FOB Trung Quốc (hoặc 500 USD/tấn CFR Singapore). Giá xuất khẩu thép cuộn trơn giảm 1 USD/tấn xuống còn 499 USD/tấn FOB (nhà máy miền Bắc chào SAE1008 ở mức 507 USD/tấn FOB, nhà máy miền Đông chào SAE1008 ở mức 525 USD/tấn FOB và chào mua thép dây carbon cao ở mức 530 USD/tấn FOB, một công ty quốc tế báo SAE1008 ở mức 505 USD/tấn FOB). Giá phôi Đường Sơn giữ mức 2.970 NDT/tấn giao tại nhà máy.

Thép dẹt (HRC, CRC, HDG): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc ổn định ở mức 485 USD/tấn FOB Trung Quốc (giá tham khảo mác Q235 của công ty thương mại Đông Trung Quốc đạt 485 - 487,50 USD/tấn FOB, giá chào Q235 của công ty khác ở mức 498 - 500 USD/tấn FOB và nhà máy Đông Trung Quốc chào SS400 ở mức 500 USD/tấn FOB). Các nhà máy lớn ngần ngại nhận đơn dưới 490 USD/tấn FOB. Giá chào thép tấm SS400 của công ty Hồng Kông đạt 533 USD/tấn FOB và nhà máy Đông Trung Quốc chào ở mức 560 USD/tấn FOB (công ty quốc tế chào 540 USD/tấn FOB). Tại Đông Nam Á, giá HRC ASEAN ổn định ở mức 530 USD/tấn CFR, giá chào từ Ấn Độ và Indonesia đạt 525 - 540 USD/tấn CFR Việt Nam trong khi người mua Việt Nam chỉ kỳ vọng mức giá 520 USD/tấn CFR hoặc thấp hơn. Đối với thép mạ kẽm (HDG) mác SGCC, giá chào xuất khẩu đạt 561 USD/tấn FOB (một số nguồn báo giá từ 560 - 590 USD/tấn FOB); giá tham khảo CRC mác SPCC dao động từ 547,50 - 550 USD/tấn FOB Trung Quốc.

Triển vọng thị trường

Thép xây dựng: Dự kiến thị trường thép xây dựng sẽ tiếp tục xu hướng đi ngang và biến động trong biên độ hẹp. Mặc dù cấu trúc nguồn cung được kỳ vọng cải thiện nhờ kế hoạch cắt giảm sản lượng và bảo trì của các nhà máy do áp lực thua lỗ, nhưng nhu cầu thực tế suy giảm mạnh trong mùa mưa bão sẽ kìm hãm khả năng phục hồi, thị trường duy trì trạng thái cân bằng yếu.

Thép công nghiệp: Đối với mặt hàng HRC, thị trường ngắn hạn dự kiến duy trì trạng thái rung lắc và tích lũy hẹp. Nền tảng chi phí nguyên liệu ổn định hạn chế rủi ro giảm sâu, nhưng áp lực tồn kho cao và sức cầu thấp theo mùa khiến giá thành phẩm thiếu động lực bứt phá. Đối với mặt hàng thép mạ và CRC, xu hướng đi ngang, biến động trong phạm vi hẹp sẽ tiếp diễn do sự giằng co giữa lực đỡ chi phí và tâm lý thận trọng, chờ đợi hướng đi mới từ thị trường tương lai của các nhà giao dịch.