Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thép xây dựng tuần 20/2015


 

 

 

THỊ TRƯỜNG THÉP XÂY DỰNG VIỆT NAM TUẦN 20

 

Từ ngày 15 đến ngày 21-05-2015

 

1.      Thị trường thép xây dựng trong nước

Thị trường tiêu thụ thép xây dựng đang có những tiến triển mạnh mẽ về lượng bán ra trong tuần từ ngày 11/5 đến ngày 15/5; giá thép tiếp tục nhích thêm chừng 100.000 đ/tấn so với tuần trước đó. Theo các chủ cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng thì nguyên nhân là do phí chuyên chở tăng theo giá xăng (tăng thêm bình quân 20.000 đ/chuyến tùy cự ly), ngoài ra còn do các nhà sản xuất sắt thép mạnh tay cắt giảm khuyến mãi. So với mùa vụ xây dựng cùng kỳ năm ngoái, sức mua được các cửa hàng ghi nhận tăng khoảng 15%, mức tăng không cao lắm mặc dù năm nay thị trường được đánh giá là có khởi sắc.

Tính tổng 4 tháng đầu năm nay, lượng thép xuất khẩu chỉ đạt 779.133 tấn, thấp hơn 14% so với cùng kỳ 2014. Trong 4 tháng qua, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Campuchia, Indonesia, Thái Lan...Theo thông tin từ các doanh nghiệp xuất khẩu cho biết, nhu cầu vẫn còn cao nên đa số các công ty đền chuẩn bị sẵn đơn hàng để xuất khẩu.

 

Thông tin từ Bộ Công thương, nhập khẩu thép về Việt Nam trong 4 tháng đầu năm tăng 30% về lượng, đặc biệt giá trị kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm từ sắt thép tăng hơn 63%. Trưởng phòng Vật tư kinh doanh của Công ty cổ phần thép Biên Hòa (Vicasa) ở Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (TP.Biên Hòa), cho hay: Từ đầu năm đến nay, sắt thép ngoại tràn vào Việt Nam nhiều, đặc biệt thép giá rẻ Trung Quốc, đã gây khó khăn cho các nhà sản xuất thép nội địa, trong đó có Vicasa. Tuy thép Trung Quốc chất lượng kém so với sắt thép sản xuất trong nước, nhưng vì giá rẻ hơn 1-2 triệu đồng/tấn nên vẫn được thị trường tiêu thụ ưa chuộng. Cuộc chạy đua tranh giành thị trường giữa sắt thép nội và ngoại diễn ra khá gay gắt.

 

Việc dừng xuất khẩu quặng sắt đã đẩy giá quặng trong nước xuống chỉ còn một nửa so với giá trên thế giới. Các mỏ khai thác quặng bị thiệt hại nặng trong khi chỉ duy nhất Hòa Phát được hưởng lợi vì đầu tư vào công nghệ lò cao. Không chỉ vậy, do giá nguyên liệu của Hòa Phát rẻ bằng một nửa so với các nhà sản xuất thép xây dựng khác, nên đẩy nhiều nghiệp tới nguy cơ phá sản hàng loạt vì không thể cạnh tranh với thép Hòa Phát.

Một thương nhân thép cây tại Bà Rịa- Vũng Tàu cho JIS SD390 Φ12-32mm là 11.3 triệu VND/tấn (518 USD/tấn) chưa tính VAT, không đổi so với tuần trước đó. Giá bán này áp dụng giao tại nhà máy, xếp hàng lên xe vận chuyển của bên mua tức là không bao gồm chi phí vận chuyển.

 

2.      Thông tin thị trường giá thép xây dựng các khu vực, nhà máy

Theo số liệu được công bố từ Cục Hải quan hôm thứ Năm, trong tháng 04, Việt Nam đã nhập khẩu 1,124 triệu tấn thép, tăng 31,6% so với năm ngoái. Đáng chú ý là kim ngạch nhập khẩu chỉ cao hơn 4% so với năm ngoái đạt 599 triệu USD. Theo một báo cáo từ Hiệp hội thép Việt Nam cho thấy cũng trong tháng trước, cả nước đã sản xuất được 1,145 triệu tấn thép, cao hơn 17,4% so với năm 2014, doanh số bán trong nước đạt 1,05 triệu tấn, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm của Công ty Thép Hòa Phát. Giá bán chưa bao gồm thuế VAT.

Giá bán được tính khi giao hàng tại kho, không bao gồm chi phí vận chuyển của bên mua.

Bảng giá bán thép xây dựng Hòa Phát

 

STT

 

Chủng loại

 

   Tiêu chuẩn

 

Đvt

 

Giá

1

Thép cuộn Ø6

CB240T

đ/kg

14.200

2

Thép cuộn Ø8

14.200

3

Thép cuộn Ø10

14.200

4

Thanh vằn D8

CB300-V

14.250

5

Thanh vằn D10

CB300-V

14.300

6

Thanh vằn D10

CB400-V

14.300

7

Thanh vằn D12

CB300-V

CB400-V

SD295

SD390

14.200

8

Thanh vằn D14

14.200

9

Thanh vằn D16

14.200

10

Thanh vằn D18

14.200

11

Thanh vằn D20

14.200

12

Thanh vằn ~D32

14.200

13

Thanh vằn D36

14.500

14

Thanh vằn D40

14.800

15

Thanh vằn D14

TCVN 1651 2:2008

14.250

16

Thanh vằn D16

14.250

17

Thanh vằn D18

14.250

18

Thanh vằn D20

14.250

19

Thanh vằn D10

GR60

14.600

20

Thanh vằn D12

14.500

21

Thanh vằn D14

14.500

22

Thanh vằn D16

14.500

23

Thanh vằn D18

14.500

24

Thanh vằn D20

14.500

25

Thanh vằn ~D32

14.500

Giá bán thép cuộn tròn trơn xây dựng một số thị trường được tổng hợp theo các ngày trong tuần qua:

 

Bảng giá thép xây dựng

 

Ngày

 

Sản phẩm

 

Khu vực

 

Đvt

 

Giá

20-05-2015

Thép cuộn Ø6 Pomina

Bình Dương

đ/kg

15.000

Thép cuộn Ø8 Pomina

15.000

Thép cuộn Ø6

Đồng Tháp

15.200

Thép cuộn Ø8

15.200

Thép cuộn Ø6 LD

Đồng Nai

17.000

Thép cuộn Ø8 LD

17.000

Thép cuộn Ø6 LD

Trà Vinh

13.800

Thép cuộn Ø8 LD

13.800

Thép cuộn Ø6

Long An

13.650

Thép cuộn Ø8

13.650

Thép cuộn Ø6

Bạc Liêu

13.600

Thép cuộn Ø8

13.500

Thép cuộn Ø6

An Giang

14.550

Thép cuộn Ø8

14.500

Thép cuộn Ø6

Hậu Giang

15.000

Thép cuộn Ø8

15.000

Thép cuộn Ø6 Hòa Phát

Hà Nội

11.800

Thép cuộn Ø8 Hòa Phát

11.800

Thép cây D12

12.000

Thép cây D22

11.950

 

Thị trường Bình Dương, giá bán sản phẩm thép cuộn Pomina khá ổn định trong tuần qua, lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ ở mức khiêm tốn do nhu cầu từ thị trường vẫn ở mức thấp. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép cuộn Ø6 và Ø8 có giá là 15 ngàn đồng/kg.

Thị trường Đồng Nai, lượng tiêu thụ không có chuyển biến đáng kể nào trong tuần này, giá bán luôn được duy trì ở mức cao qua nhiều tuần. Giá bán thép xây dựng được công bố trong đầu tuần này là 17 ngàn đồng/kg đối với thép cuộn Ø6 và Ø8, giá bán khá cao ở thời điểm hiện tại.

Thị trường Trà Vinh, giá bán lẻ thép cuộn tròn trơn xây dựng LD duy trì mức giá bán thấp hơn các tuần trước đó. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép xây dựng Ø6 là 13.8  ngàn đồng/kg và Ø8 là 13.8 ngàn đồng/kg. Lượng sản phầm bán ra đều đặn, có chiều hướng tăng dần.

3.      Dự báo thị trường thép xây dựng

Dự báo, dù đã bước vào mùa cao điểm nhưng thị trường tiêu thụ thép xây dựng vẫn có nhiều khó khăn và áp lực cạnh tranh. Trong khi đó, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Hải quan Nga, Belarus và Kazakhstan (VCUFTA) hiện đã kết thúc đàm phán và chỉ chờ ngày ký kết, với cam kết giảm thuế nhập khẩu về 0% đối với các mặt hàng thép từ 3 nước trên, được cho là điều khủng khiếp với ngành thép trong nước.

Hiện nay, chi phí đầu vào tăng thời gian qua do giá điện, công vận chuyển tăng, nhưng các công ty cũng như nhà sản xuất thép trong nước vẫn phải giữ nguyên giá bán để cạnh tranh với thép nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Theo Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Nhật Bản đã được ký kết, thuế nhiều mặt hàng nhập khẩu đã và đang về 0% khiến cho ngành sắt thép nội địa cùng lúc phải chịu sự cạnh tranh với nhiều đối thủ nặng ký. Dự báo giá thép trong nước sẽ phải giảm nhẹ để đảm bảo mức tiêu thụ và tăng tính cạnh tranh.

Lĩnh vực xây dựng dân dụng vẫn được đa số các đại lý quan tâm nhiều hơn và bằng nhiều cách khác nhau để có thể bán được sản phẩm. Tuy nhiên, khó khăn gặp phải là các đơn hàng khá nhỏ lẻ, không đồng  bộ về chủng loại, kích thước khiến chi phí vận chuyển tăng cao do phải vận chuyển nhiều lần theo tiến độ công trình. Đây cũng là khó khăn chung của các đại lý bán lẻ sản phẩm thép xây dựng.

Lưu ý: Bảng giá trên đây được tham khảo tại các công ty, đại lý chuyên cung cấp thép xây dựng. Vì vậy bảng giá bán này chỉ để tham khảo không phải là giá cố định mà được điều chỉnh dựa trên số lượng lô hàng, khách hàng khi mua tại các công ty hay đại lý, phương tiện vận chuyển và hình thức thanh toán tùy thuộc vào vùng miền.

 

4.      Giá các mặt hàng thép cơ bản Việt Nam



 

 

 

Chào giá (đ/kg)

Xuất xứ

Giá

Tăng /giảm

Cuộn trơn Ø6, Ø8

Trung Quốc

  9.700

Giảm 100

Thép tấm 3,4,5 mm

Trung Quốc

  9.600

Không đổi

Thép tấm 6 mm

Trung Quốc

  9.800

Tăng 100

Thép tấm 8 mm

Trung Quốc

  9.800

Giảm 100

Thép tấm 10,12 mm

Trung Quốc

  9.800

Không đổi

HRC 2mm

Trung Quốc

10.000

Không đổi

 
 

Tổng quan thị trường thép thế giới tuần 20

 Mỹ

Nhu cầu tiêu thụ thép tại Mỹ trong tuần này vẫn trì trệ do tâm lý thị trường bất ổn trước các đồn đoán chống bán phá giá. Người mua chưa muốn lập đơn hàng vào thời điểm này để hạn chế rủi ro.

Gía thép cây Midwest Mỹ hầu như bình ổn tại mức 605-610 USD/tấn xuất xưởng. Hàng nhập khẩu hiện vẫn cập bến đều đặn nhưng không phải là vấn đề lớn. Gía nhập khẩu cũng bình ổn dù thép cây 30 foot và 60 foot cao hơn một ít.

Thị trường HRC triển vọng tốt hơn CRC trước lần tăng giá thêm 20 USD/tấn gần đây của các nhà máy nội địa. Gía HRC trên thị trường dao động quanh mức 460 USD/tấn.

Đà tăng gía CRC không bắt kịp thị trường HRC do nguồn cung trong và ngoài nước cao.Gía đơn hàng CRC tuần này đạt mức 575 USD/tấn. Vài nhà máy có thể sẵn sàng chấp nhận giá thấp từ khách hàng để thu được đơn hàng nhiều nhất có thể. Vài người mua đang nghĩ về việc bổ sung nguyên liệu trước các đàm phán lao động của các nhà máy có thể dẫn tới ngưng sản xuất và nhiều hệ lụy.

CIS

Các nhà máy phôi thanh CIS tiếp tục thử nghiệm thị trường với giá chào bán cao hơn trong tuần này nhưng do tình hình thu mua chậm chạp nên chưa được chấp nhận. Gía chào phôi thanh từ CIS đạt mức 390-400 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ giữa tháng 5 tùy thuộc vào cảng nhập nhưng giá dự thầu chỉ ở mức thấp 380 USD/tấn CFR.

Thổ Nhĩ Kỳ

Thị trường Thổ Nhĩ Kỳ sang tuần này cũng vẫn diễn ra chậm chạp do sắp tới lễ bầu cử và vấn nạn thiếu tiền mặt nghiêm trọng.

Sự phục hồi nhẹ trong tiêu thụ đã giúp các nhà máy nội địa bán thép với giá cao hơn 5-10 USD/tấn trong các tuần đầu tháng 5. Tuy nhiên, giá xuất xưởng không thể vượt mốc 450 USD/tấn.

Gía chào HRC trong nước Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất tháng 7 hiện được chào bán tại mức 435-450 USD/tấn xuất xưởng trong khi tiếp tục chào bán HRC xuất khẩu tại mức 400-415 USD/tấn FOB trong bối cảnh tiêu thụ thấp và cạnh tranh gay gắt.

Trong khi đó, giá chào HRC từ CIS tới Thổ Nhĩ Kỳ tuần này tăng thêm 5-10 USD/tấn. Các nhà máy Ukraina đang chào bán HRC tại mức 375-385 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ trong khi giá chào mới nhất từ Nga đạt mức 385-395 USD/tấn CFR.

Thị trường xuất khâu thép cây cũng bình ổn nhờ tiêu thụ nội địa mạnh trước lo sợ giá thép Trung Quốc giảm và tiêu thụ ngoài nước chậm. Sự suy yếu của đồng Lira so với dolla cũng như bầu cử ngày 7/6 sắp tới đã làm suy yếu thị trường phần nào.

Một nhà máy EAF đang cố gắng tăng giá chào từ mức 460-465 USD/tấn FOB (trọng lượng thực tế) nhưng sẽ không trụ lâu do tiêu thụ suy yếu. Mỹ là thị trường xuất khẩu mạnh nhất với giá là 475-480 USD/tấn CFR.

Gía chào HDG Thổ Nhĩ Kỳ tới thị trường trong và ngoài nước vẫn gặp áp lực từ nhu cầu tiêu thụ tương đối thấp do người mua tiếp tục hoãn đơn hàng trước cuộc bầu cử Tổng thống vào ngày 7/6 trong khi xuất khẩu cũng tương đối thấp.

Gía niêm yết HDG 0.5mm vẫn bình ổn tại mức 620-650 USD/tấn xuất xưởng kể từ tuần qua trong khi giá chào PPGI 9002 0.5mm cũng bình ổn tại mức 720-750 USD/tấn xuất xưởng.

Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ từ khu vực MENA, một trong những thị trường chính của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn thấp và còn trì trệ hơn trong Lễ Ramadan tháng 6 và 7. Gía chào xuất khẩu HDG 0.5mm vẫn tương đối thấp tại mức 600-630 USD/tấn FOB trong khi giá chào xuất khẩu PPGI 9002 0.5mm đạt mức 700-730 USD/tấn FOB trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và tiêu thụ thấp.

Châu Âu

Thị trường thép cây Tây Bắc Âu vẫn bình ổn sau 2 kỳ lễ vào cuối tuần trước kìm hãm giao dịch. Gía phế Châu Âu tăng nhẹ 2-5 Euro/tấn trong tháng 5 giúp các nhà máy có động lực tăng giá chào bán. Gía mua vẫn quanh mức 185-190 Euro/tấn đã tính phí giao hàng cơ sở (435-440 Euro/tấn đã tính phí thực tế).

Trong khi đó, tại Nam Âu, giá phế và thép cây Ý bình ổn với tâm lý thị trường sắp tới không đổi.

Gía thép cây nội địa đã tăng 15 Euro/tấn lên mức 175-180 Euro/tấn xuất xưởng và giá xuất khẩu thép cây đạt mức 420 Euro/tấn FOB trong khi giá trung bình phế vụn (E40) Ý đạt mức 260-265 Euro/tấn.

Nhật Bản

Tokyo Steel Manufacturing đã quyết định sẽ duy trì giá niêm yết trong nước cho những hợp đồng tháng 06, đánh dấu tháng thứ 7 liên tục không có sự thay đổi trong giá của nhà máy.

Theo đó, giá niêm yết tháng 06 của Tokyo Steel cho thép dầm hình H cỡ lớn SS400 vẫn duy trì ở mức 77.000 Yên/tấn (644 USD/tấn), trong khi HRC SPHC 1.7-22mm có giá 63.000 Yên/tấn (527 USD/tấn).

Đối với xuất khẩu, Tokyo Steel hiện đang nhận được giá mua cho thép dầm hình H là 510-540 USD/tấn FOB và 410-460 USD/tấn FOB cho HRC, cả hai mức này đều không đổi so với một tháng trước.

Giá thép cây quanh khu vực Osaka, phía tây Nhật Bản đã giảm khoảng 1.000 Yên/tấn (8,3 USD/tấn) so với 1 tháng trước, hiện tại mức giá trung bình còn 54.000–55.000 Yên/tấn (446-455 USD/tấn) cho thép thanh cỡ thường.

Lý do sự sụt giảm này là vì trong khi các nhà sản xuất thép cây đã và đang duy trì giá của họ thì các khách hàng lại đang nài nỉ giảm giá và một số nhà phân phối đã chấp nhận mức giá này để bán được hàng.

Kyoei khôngbao giờ tiết lộ giá niêm yết của mình nhưng ông này cho biết giá bình quân trong tháng 5 cho hợp đồng thép cây cỡ thường tại nhà máy Hirakata, nằm ở Osaka khoảng 54.000 Yên/tấn, giảm 1.000 Yên/tấn so với tháng trước.

Châu Á

Giá HRC nhập khẩu vào Châu Á giảm trong tuần thứ hai liên tiếp, chủ yếu là do sức mua suy yếu cộng thêm sự cạnh tranh giữa các nhà máy ở Trung Quốc, Nga và Nhật Bản ngày càng gay gắt. Giá có thể sẽ giảm sâu hơn nữa trong tháng 6 nếu như các nhà máy và nhà xuất khẩu bắt đầu tranh giành đơn đặt hàng.

Chào giá phổ biến từ các nhà máy Trung Quốc vẫn duy trì không đổi so với tuần trước và giữ ở mức 360-365 USD/tấn, trong khi vài nhà máy đã hạ chào giá xuống 355 USD/tấn trong tuần này để thu hút đơn đặt hàng. Trong khi đó các hợp đồng riêng lẻ chỉ có 348 USD/tấn.

Đại diện một nhà máy ở miền đông chào bán HRC SS400 với giá 365-367 USD/tấn CFR Việt Nam và 365 USD/tấn CFR Hàn Quốc do sức mua yếu.

Giá thép cây nhập khẩu vào Châu Á cũng đi xuống sau khi duy trì không đổi trong hai tuần trước, do bị sức ép bởi giá đang giảm từ Trung Quốc.

Chào giá tới Hong Kong nhìn chung vẫn duy trì ổn định, tầm 350-355 USD/tấn CFR.

Chào giá tới Singapore cũng vẫn không thay đổi và giữ ở mức 345-355 USD/tấn CFR trong lượng lý thuyết, mặc dù giá giao dịch cho thấy sức ép đi xuống.

Giá cuộn trơn nhập khẩu giao ngay ở Châu Á giảm sau khi phục hồi ngắn ngủi vào tuần trước do phôi thanh và thép dây ở Trung Quốc tiếp tục suy yếu trong bối cảnh sức mua trì trệ. Các hợp đồng được ký kết hồi đầu tuần trong đó có thép dây chứa cr có giá  365-367 USD/tấn CFR Việt Nam (phí vận chuyển khoảng 13 USD/tấn), giảm từ 370-371 USD/tấn tuần trước.

Ấn Độ

Giá HRC ở Ấn Độ có thể được cắt giảm vào cuối tháng này do các nhà máy trong nước phải vật lộn với thép nhập khẩu giá rẻ từ Nga, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hồi đầu tháng này, các nhà máy đã giảm giá HRC IS 2062 loại A/B dày trên 3mm xuống 2.000 rupees/tấn còn 28.500-30.500  rupees/tấn (447-478 USD/tấn).

Tuy giá vẫn duy trì không đổi trong tuần này do nhu cầu tiếp tục ổn định, nhưng thép nhập khẩu giá rẻ là một lo lắng đối với các nhà máy trong nước và có thể dẫn đến giá trong nước xuống thấp hơn nữa.

Chào giá mới cho thép của Nhật Bản và Hàn Quốc phổ biến khoảng 400-410 USD/tấn CFR.

Đài Loan

Feng Hsin Iron & Steel giữ giá thép cây trong nước không đổi sau khi nhu cầu cải thiện vào tuần trước.

Giá niêm yết trong nước của nhà máy này cho thép cây đường kính chuẩn 13mm vẫn duy trì ở mức 13.600 Đài tệ/tấn (447 USD/tấn) xuất xưởng Taichung, áp dụng từ ngày 18/05.

Tổng quan thị trường thép Trung Quốc tuần 20

Thị trường liên tục phải chứng kiến các ngày nối tiếp nhau lao dốc. Giá càng dao động tiêu cực thì càng gây bất lợi cho các nhà máy và chủ đại lý, do tâm lý khách hàng lo ngại rủi ro, đã vậy giá các nguyên liệu chủ lực cũng liên tục giảm. Vì vậy tạo thành một vòng lẩn quẩn khiến thị trường lại rơi vào bế tắc là ảm đạm trong tuần qua. Thị trường xuất khẩu vốn được xem là một thế mạnh để giải quyết vấn nạn nguồn cung dư thừa trong nước nhưng nay có vẻ cũng đang gặp không ít khó khăn vì phải cạnh tranh với các nước như Nga, Nhật, và số vụ kiện thương mại cũng gia tăng trong thời gian qua.

 

Thị trường trong nước

 

Thép xây dựng

Sau ba ngày cầm cự ở mức giá 2.250-2.270 NDT/tấn, sang đến hai ngày tiếp theo giá thép cây HRB400 đường kính 18-25mm đã giảm lần lượt 15 NDT/tấn và 10 NDT/tấn còn 2.230-2.250 NDT/tấn (360-363 USD/tấn) xuất xưởng trọng lượng thực tế và gồm 17% VAT. Mức giá này đang tiến gần hơn tới mức thấp kỷ lục 2.190-2.200 NDT/tấn của ngày 9-10/3. Nguyên nhân chính vẫn là do sức mua trì trệ, trong khi giá nguyên liệu mà cụ thể là quặng sắt và phôi thanh đang giảm khiến người mua càng thêm hờ hững với thị trường.

 

Tương tự, cuộn trơn Q195 đường kính 6.5mm ở Thượng Hải cũng giảm 45 NDT/tấn (7 USD/tấn) so với tuần trước xuống 2.260 NDT/tấn xuất xưởng gồm 17% VAT.

 

Thép công nghiệp

Duy chỉ có CRC SPCC dày 1.0mm là vẫn tiếp tục duy trì với mức giá từ 2.920-3.10 NDT/tấn (470-485 USD/tấn). Tuy không có sự thay đổi đáng kể nào trong nhu cầu hay nguồn cung gần đây, nhưng các đại lý đang cảm thấy sự kìm hãm của dòng tiền mặt hạn chế vì sắp hết tháng, điều này có lẽ sẽ gây thêm sức ép lên giá giao ngay vào cuối tháng này.

 

Trong khi đó, giá HRC Q235 5.5mm giao ngay ở Thượng Hải đã trải qua 5 ngày tuột dốc liên tiếp do sức mua eo sèo, và “bốc hơi” tổng cộng khoảng 40 NDT/tấn còn 2.380-2.400 NDT/tấn xuất xưởng gồm VAT. Hơn thế nữa, một viễn cảnh thậm chí còn u ám hơn cho nhu cầu thép ở Lecong, tỉnh Quảng Đông khiến giá chạm đến mốc thấp kỷ lục kể từ khi Platts bắt đầu theo dõi hồi tháng 05/2010 với 2.490-2.500 NDT/tấn xuất xưởng. Tình hình hiện nay được nhiều thương nhân ví von như là “chưa thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm”.

 

Thị trường xuất khẩu

Giá thép cây nhập khẩu vào Châu Á giảm sau khi duy trì không đổi trong hai tuần trước, do bị sức ép từ sự rớt giá của thị trường Trung Quốc. Hôm thứ Năm, Platts định giá thép cây BS460/HRB400 đường kính trên 16mm còn 332-335 USD/tấn FOB trọng lượng thực tế. Chào giá tới Hong Kong nhìn chung vẫn duy trì ổn định tầm 350-355 USD/tấn CFR, nhưng giá ký kết chỉ có 348 USD/tấn CFR. Chào giá tới Singapore cũng giữ ở mức 345-355 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết, trong khi giá giao dịch chỉ tầm 333 USD/tấn FOB (phí vận chuyển 17 USD/tấn và dung sai khối lượng 3%).

Giá cuộn trơn nhập khẩu vào khu vực Châu Á giảm sau tuần phục hồi ngắn ngủi do phôi thanh và thép dây ở Trung Quốc tiếp tục suy yếu trong bối cảnh sức mua trì trệ. Khách hàng đã chuyển sang tư thế chờ đợi và theo dõi diễn biến giá trong nước và họ suy đoán giá sẽ giảm sâu hơn. Platts định giá cuộn trơn SAE1008 đường kính 6.5mm hôm thứ Tư giảm 5 USD/tấn so với tuần trước còn 350-360 USD/tấn FOB.

Đơn đặt hàng từ nước ngoài cho CRC không có sự cải thiện trong tuần này, nhưng giá xuất khẩu vẫn ổn định, nguyên nhân được cho là do giá CRC trong nước không dao động trong hai tuần qua. Platts định giá CRC SPCC dày 1.0mm ở mức 410-415 USD/tấn FOB, và chấm dứt 6 tuần giảm liên tiếp.

Ngược lại, giá HRC nhập khẩu vào Châu Á liên tiếp giảm trong tuần thứ hai, chủ yếu là do sức mua suy yếu từ khu vực này cộng thêm sự cạnh tranh giữa các nhà máy ở Trung Quốc, Nga và Nhật Bản ngày càng gay gắt. Giá có thể sẽ giảm sâu hơn nữa trong tháng 6 nếu như các nhà máy và nhà xuất khẩu bắt đầu tranh giành đơn đặt hàng. Platts định giá HRC SS400 dày trên 3mm là 355-360 USD/tấn FOB hôm thứ Năm, giảm 2 USD/tấn so với tuần trước.