Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thế giới ngày 30/10/2026

Giá HRC châu Á nhìn chung ổn định nhờ tâm lý thị trường khởi sắc

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại châu Á nhìn chung ổn định trong ngày 29/10, khi tâm lý thị trường tại Trung Quốc nhích nhẹ nhờ giá nguyên liệu đầu vào tăng, trong khi hoạt động mua hàng tại Việt Nam vẫn trầm lắng.

Định giá HRC phẩm cấp SS400 độ dày 3mm ở mức 482 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 29/10, tăng 1 USD/tấn so với ngày trước đó. Cùng phẩm cấp này, giá CFR Đông Nam Á được định giá ở mức 530 USD/tấn, không đổi trong cùng kỳ.

Các chào giá xuất khẩu từ các nhà máy tư nhân Trung Quốc được ghi nhận ở mức 484 USD/tấn FOB Trung Quốc trở lên, tăng 4 USD/tấn so với ngày hôm trước, trong khi mức giá chờ mua quanh khoảng 480 USD/tấn FOB.

Trong khi đó, một nhà máy lớn của Trung Quốc vẫn giữ nguyên giá chào bán ở mức 500 USD/tấn FOB Bayuquan, với mức giá có thể giao dịch ghi nhận quanh khoảng 495 USD/tấn FOB, dù nhu cầu HRC vẫn tiếp tục ảm đạm, theo một nguồn tin từ nhà máy này.

Một thương nhân tại Thượng Hải cho biết giá nguyên liệu thô thượng nguồn tăng, đặc biệt là than cốc, đã nâng đỡ giá thép thành phẩm.

"Mặc dù nguồn cung than cốc dự kiến sẽ tăng, nhưng việc có thêm nhiều mỏ hoạt động không đồng nghĩa với việc sản lượng sẽ phục hồi nhanh chóng, vì nguồn cung tổng thể vẫn thắt chặt," thương nhân này cho biết.

"Nguồn cung tàu vận chuyển hiện tương đối hạn chế, trong khi thông tin về việc cắt giảm sản lượng ở miền Bắc Trung Quốc cũng đang hỗ trợ một phần," một thương nhân ở miền Đông Trung Quốc nói thêm rằng tâm lý thị trường đã cải thiện đôi chút.

Hợp đồng HRC giao tháng 1 được giao dịch tích cực nhất trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Tương lai Thượng Hải (SHFE) đóng cửa ở mức 3.192 Nhân dân tệ/tấn vào ngày 29/10, tăng 15 Nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,5% so với ngày hôm trước.

 Định giá giao dịch giao ngay của HRC phẩm cấp Q235B độ dày 5,75mm ở mức 3.240 Nhân dân tệ/tấn (484 USD/tấn) kho Thượng Hải (đã bao gồm VAT) vào ngày 29/10, tăng 10 Nhân dân tệ/tấn so với ngày hôm trước.

Tại Đông Nam Á, các chào giá cho cuộn SS400 và SAE1006 độ dày 3mm từ Indonesia được ghi nhận ở mức 530-535 USD/tấn CFR Việt Nam, với các chào giá phổ biến ở mức 532 USD/tấn trở lên. Cuộn phẩm cấp Q355 được chào bán với mức chênh lệch (premium) cao hơn 10 USD/tấn.

Giá chờ mua được ghi nhận ở mức khoảng 528 USD/tấn CFR Việt Nam cho lô hàng giao tháng 1, mặc dù lượng hỏi mua vẫn rất hạn chế.

"Hiện tại không có nhiều đơn hỏi mua trên thị trường," một nguồn tin tại một nhà máy hàng đầu Indonesia cho biết, đồng thời nói thêm rằng giá kỳ vọng của người mua vẫn thấp hơn mức giá có thể giao dịch của nhà máy.

Hoạt động giao dịch tại thị trường Việt Nam cũng tiếp tục trầm lặng, các bên tham gia thị trường phần lớn đang chờ đợi chào giá nội địa mới của Hòa Phát để có thêm cơ sở rõ ràng hơn về hướng đi của giá.

Định giá HRC SAE1006 ở mức 503 USD/tấn FOB Trung Quốc vào ngày 29/10, không đổi so với ngày trước đó. Cùng phẩm cấp này, giá CFR Đông Nam Á được định giá ở mức 533 USD/tấn, không thay đổi trong cùng kỳ.

Giá HRC nội địa Ấn Độ suy yếu do cầu thấp; thép thanh vằn giữ giá

Giá thép cuộn cán nóng nội địa Ấn Độ giảm nhẹ trong ngày 29/10, khi sức mua hạn chế tiếp tục gây áp lực lên hoạt động thị trường giao ngay (spot).

Định giá giao ngay HRC xẻ tấm (cut-to-length) tiêu chuẩn IS2062, độ dày 2,5-10mm, không bao gồm 18% thuế hàng hóa và dịch vụ (GST), ở mức 63.500 Rupee Ấn Độ/tấn (667 USD/tấn) giá xuất xưởng (ex-works) Mumbai, giảm 100 Rupee/tấn trong ngày.

Giá có thể giao dịch đối với cùng phẩm cấp được ghi nhận ở mức 62.750-64.000 Rupee/tấn ex-works Mumbai, trong khi các chào giá được ghi nhận quanh khoảng 64.000 Rupee/tấn trở xuống.

Một thương nhân ở Mumbai cho biết các giao dịch phần lớn vẫn phát sinh theo nhu cầu sử dụng thực tế với khối lượng thu mua thấp.

Mặc dù các nhà máy dự kiến sẽ tăng giá cho tháng 11, thương nhân này cho biết vẫn chưa có nhiều thông tin rõ ràng về mức độ tăng.

Giá thép thanh vằn (rebar) nội địa Ấn Độ duy trì ổn định vào ngày 29/10, khi các chào giá giữ vững sau đợt giảm của ngày trước đó, trong khi người mua vẫn thận trọng.

Định giá thép thanh vằn đường kính 12-25mm tiêu chuẩn IS1786 Fe500D/Fe550D ở mức 50.400 Rupee Ấn Độ/tấn ex-works Raipur, không đổi so với ngày trước đó.

Chào giá cho thép thanh đường kính 12-25mm thương hiệu GK và Goel được ghi nhận ở mức 50.500 Rupee/tấn, trong khi giá dạm mua cho hàng GK được ghi nhận ở mức 50.200-50.300 Rupee/tấn, cả hai đều không đổi trong ngày.

Một thương nhân ở Raipur cho biết việc thu mua vẫn diễn ra chừng mực, người mua ít có ý định đẩy mạnh mua vào.

"Không có nhiều sự hào hứng trên thị trường," thương nhân này nói.

Giá phôi thép châu Á nhích tăng do giá chào cao hơn; thép thanh vằn đi ngang

Giá phôi thép (billet) châu Á nhích tăng nhẹ trong ngày 29/10 trong bối cảnh các mức chào giá tăng và tâm lý thị trường tương lai nội địa Trung Quốc cải thiện, trong khi giá thép thanh vằn châu Á duy trì ổn định so với ngày trước đó giữa lúc hoạt động thị trường trầm lắng và sức mua yếu.

Tại Đường Sơn (Tangshan), giá có thể giao dịch của phôi Q235 được ghi nhận ở mức 2.980 Nhân dân tệ/tấn, tăng 10 Nhân dân tệ/tấn so với ngày trước đó.

Tại thị trường thép thanh Bắc Kinh, giá có thể giao dịch của thép thanh HRB400 đường kính 18-25mm được ghi nhận ở mức 3.050 Nhân dân tệ/tấn, tăng 10 Nhân dân tệ/tấn so với ngày hôm trước.

Các nguồn tin thị trường cho biết tâm lý giao ngay và tương lai nội địa Trung Quốc nhận được sự hỗ trợ từ chi phí nguyên liệu thô và dữ liệu ngành thép thanh nội địa tuần qua công bố ngày 29/10 tương đối khả quan.

Sản lượng thép thanh vằn toàn quốc của Trung Quốc và nhu cầu tiêu thụ thực tế (apparent demand) đều được ghi nhận tăng so với tuần trước tính đến ngày 29/10, trong khi tổng lượng tồn kho giảm mạnh trong cùng kỳ, theo một thương nhân tại Trung Quốc.

"Theo tôi, các yếu tố hỗ trợ chính là do thị trường tương lai đã giảm mạnh trong vài ngày qua nên khả năng phục hồi là tất yếu; chi phí chủ yếu từ giá nguyên liệu thô vẫn đang tạo bệ đỡ và không khuyến khích giảm thêm, đồng thời dữ liệu ngành công bố gần đây cho thấy các chỉ số ở mức chấp nhận được," một thương nhân Trung Quốc thứ hai cho biết.

Các nguồn tin thị trường cho biết thông tin gần đây về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất điều hành tại cuộc họp ngày 27-28/10 phần lớn nằm trong dự đoán của thị trường và có tác động hạn chế đến tâm lý định giá giao ngay.

Định giá phôi Q235 nội địa Trung Quốc tăng 10 Nhân dân tệ/tấn so với ngày trước đó lên mức 2.980 Nhân dân tệ/tấn trên cơ sở giá giao tại kho Đường Sơn (ex-stock Tangshan).

Định giá giao ngay thép thanh HRB400 18-25mm nội địa Bắc Kinh tăng 10 Nhân dân tệ/tấn lên 3.050 Nhân dân tệ/tấn kho giao ngay (tính theo trọng lượng lý thuyết).

Các chào giá phôi 3SP 150mm của Trung Quốc tăng 3 USD/tấn so với ngày hôm trước lên 465 USD/tấn FOB Trung Quốc, với giá có thể giao dịch ghi nhận ở mức 463-465 USD/tấn FOB Trung Quốc.

Trong khi đó, giá chào phôi 5SP 150mm của Trung Quốc biến động trong biên độ hẹp trong ngày ở mức 487-490 USD/tấn CFR Manila do nhu cầu yếu, còn giá chào phôi 5SP 130mm giữ ổn định ở mức 495-500 USD/tấn CFR Manila. Giá dạm mua tham chiếu cho phôi 5SP 150mm giảm 3 USD/tấn xuống 480 USD/tấn trở xuống CFR Manila.

Hoạt động giao dịch tại Manila rất hạn chế do người mua đường biển tiếp tục đứng ngoài quan sát trong bối cảnh đồng Peso suy yếu gần đây.

Mặc dù không có giao dịch nào được ghi nhận chốt thành công trong tuần tính đến 29/10, các nguồn tin thị trường cho biết một lô phôi 5SP 130mm nguồn gốc Trung Quốc đã chốt trong tuần kết thúc ngày 23/10 ở mức 500 USD/tấn CFR Manila, và một lô phôi 5SP 125mm nguồn gốc Nga quy mô 26.000 tấn đã chốt ở mức 497 USD/tấn CFR Manila trong tuần kết thúc ngày 16/10.

Nhu cầu phôi thép trầm lắng tại Manila do hoạt động xây dựng chậm lại trong mùa mưa, đồng Peso Philippines yếu, bất ổn chính trị và cước vận tải biển duy trì ở mức cao, theo một thương nhân tại Manila.

"Nhìn về phía trước, giá thị trường có khả năng sẽ tiếp tục đi ngang với những rung lắc trong biên độ hẹp; xét đến biên lợi nhuận cao hơn và nhu cầu chậm," thương nhân tại Manila này nhận định.

Một nhà máy Indonesia được ghi nhận giữ nguyên giá chào cho phôi 3SP 150mm ở mức 470 USD/tấn FOB Indonesia cho lô hàng giao tháng 1. Giá chào phôi 3SP 150mm xuất xứ Indonesia ổn định ở mức 490 USD/tấn CFR Việt Nam, trong bối cảnh nhu cầu phôi nhập khẩu gia tăng gần đây tại Việt Nam nhờ lợi thế cạnh tranh về giá so với các phương án thép phế liệu nội địa.

"Nhu cầu phôi thép tại Việt Nam hiện nhiều hơn do một số nhà máy đã dùng hết hạn ngạch nhập khẩu thép phế," một thương nhân tại Việt Nam cho biết.

Định giá phôi 3SP 150mm xuất khẩu của Trung Quốc tăng 2 USD/tấn so với ngày hôm trước lên 463 USD/tấn FOB Trung Quốc.

Định giá phôi 5SP 150mm giữ ổn định ở mức 484 USD/tấn CFR Đông Nam Á.

Trên thị trường thép thanh đường biển, giá di chuyển đi ngang trong bối cảnh mức chào giá ổn định và hoạt động thị trường im đắng, do người mua tiếp tục duy trì tâm lý chờ đợi trong ngắn hạn.

Giá chào thép thanh nguồn gốc Malaysia sang Singapore ghi nhận ở mức 520 USD/tấn CPT Singapore, ổn định so với ngày trước đó, và ở mức 515 USD/tấn CFR Singapore.

Giá chào thép thanh xuất xứ Trung Quốc ghi nhận ở mức 512 USD/tấn CFR Singapore cho lô hàng giao tháng 12, ổn định so với ngày hôm trước. Một chào giá thép thanh Trung Quốc có tính cạnh tranh hơn cũng được ghi nhận ở mức 508 USD/tấn CFR Singapore theo trọng lượng lý thuyết cho lô hàng giao tháng 1, không đổi so với ngày trước đó.

Một chào giá thép thanh nguồn gốc Trung Quốc được ghi nhận ở mức 510 USD/tấn CFR Hồng Kông cho lô hàng giao tháng 1, với giá dạm mua tham chiếu ở mức 500 USD/tấn CFR Hồng Kông do khoảng cách giữa giá chào bán và giá dạm mua vẫn tồn tại. Trong khi đó, giá có thể giao dịch của bên bán được ghi nhận ở mức 510-515 USD/tấn CFR Hồng Kông cho lô hàng giao tháng 12 - tháng 1, với một thương nhân tại Unv2 cho biết vẫn còn dư địa để thương lượng trong bối cảnh nhu cầu khu vực tư nhân chậm.

"[Tại Unv2, thép thanh] nhu cầu chỉ ở mức trung bình; nhu cầu khu vực công tốt hơn, trong khi nhu cầu khu vực tư nhân rất kém," một người mua tại Unv2 cho biết.

Định giá thép thanh BS4449-grade 500 kích thước 16-32mm ổn định ở mức 505 USD/tấn CFR Đông Nam Á.

Định giá thép thanh xuất khẩu của Trung Quốc BS500B-grade đường kính 16-40mm ổn định ở mức 494 USD/tấn FOB.

Giá thép phế đóng container nhập khẩu vào Ấn Độ giảm do nhu cầu yếu

Giá thép phế liệu cắt nhỏ (shredded scrap) đóng container nhập khẩu vào Ấn Độ đã giảm trong ngày 29/10 do bán hàng hạ nguồn yếu làm suy giảm sức mua.

Định giá thép phế đóng container nhập khẩu ở mức 390 USD/tấn CFR Nhava Sheva, giảm 5 USD/tấn so với ngày trước đó.

Thực tế của thị trường phế liệu nhập khẩu Ấn Độ hiện đã rất khác so với đầu tháng, khi thị trường lao dốc khắp nơi trong vài ngày qua và hầu như không có lực mua, nhu cầu thép phế cắt nhỏ rất thấp, một thương nhân cho biết.

Các chào giá và giá dạm mua từ Ấn Độ đối với phế liệu đóng container nhập khẩu lần lượt ghi nhận ở mức 400-406 USD/tấn CFR Nhava Sheva và tối đa 375-380 USD/tấn CFR Nhava Sheva.

"Nhu cầu mua của Ấn Độ có thể cải thiện sau lễ hội Diwali, nhưng [nguồn cung nội địa dồi dào của] sắt xốp (sponge iron) mới là yếu tố triệt hạ nhu cầu nhập khẩu phế liệu," thương nhân này nói.

Định giá gioa ngay cho sắt hoàn nguyên trực tiếp (DRI) sản xuất từ quặng viên nội địa Ấn Độ có hàm lượng 80% Fe — một nguyên liệu phối trộn sản xuất thép rẻ hơn phế liệu nhập khẩu — ở mức 27.600 Rupee/tấn ex-works Raipur, tăng 100 Rupee/tấn so với ngày trước đó.

Mức giá có thể giao dịch cho phế HMS 1/2 (80:20) đóng container chất lượng tốt được ghi nhận ở mức 360-365 USD/tấn CFR Nhava Sheva.

Nhu cầu thép thành phẩm hạ nguồn vẫn ảm đạm, khiến nguồn phế liệu nội địa đủ để đáp ứng sản xuất, một nguồn tin từ nhà máy Ấn Độ cho biết.

Phế HMS nội địa được ghi nhận có thể giao dịch ở mức khoảng 38.000-39.000 Rupee/tấn giao đến nhà máy (delivered) và 33.600 Rupee/tấn ex-works Mandi Gobindgarh.

Ở hạ nguồn, giá thép thanh vằn nội địa tại Ấn Độ ổn định trong bối cảnh mua hàng thận trọng. Định giá thép thanh đường kính 12-25mm IS1786 Fe500D/Fe550D ở mức 50.400 Rupee/tấn ex-works Raipur.

Dữ liệu cho thấy tỷ giá đồng Rupee ở mức 95,24 Rupee/USD vào ngày 29/10, giảm 0,1% so với ngày trước đó, khiến phế liệu nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua Ấn Độ.

Một giao dịch chốt thành công tuần này sang Bangladesh đối với phế cắt nhỏ đóng container nguồn gốc Úc được ghi nhận ở mức 403 USD/tấn CFR Chittagong cho khối lượng 3.000 tấn.

Nhu cầu từ Pakistan vẫn chậm và tôi chưa nghe thấy lực mua nào trong tuần này, một thương nhân thứ hai nói.

Giá phế liệu Thổ Nhĩ Kỳ cũng không đổi so với ngày trước đó. Platts định giá phế HMS 1/2 (80:20) phẩm cấp cao nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 399 USD/tấn CFR.

Giá thép phế nội địa Hàn Quốc giảm so với tuần trước; Thái Lan tăng

Giá thép phế liệu nội địa của Hàn Quốc đã giảm trong tuần kết thúc ngày 28/10 do nhu cầu yếu và các đợt bảo dưỡng đang diễn ra, các bên tham gia thị trường chia sẻ.

Mức giá thấp hơn được ghi nhận có hiệu lực từ ngày 27/10, theo một nguồn tin thương mại tại Hàn Quốc.

Sau đợt giảm giá mới nhất, giá phế Light A tương đương H2 tại Hàn Quốc ghi nhận giảm so với tuần trước xuống còn 430.000 Won/tấn (321 USD/tấn) vào ngày 28/10.

Định giá phế sắt H2 ở mức 52.600 Yên/tấn (334 USD/tấn) FOB vịnh Tokyo vào ngày 28/10, tăng 100 Yên/tấn so với tuần trước.

Tương tự, giá phế Heavy A được ghi nhận giảm so với tuần trước xuống 450.000 Won/tấn (336 USD/tấn) vào ngày 28/10.

Các nguồn tin thị trường cho rằng sự suy yếu kéo dài của giá phế Hàn Quốc là do nhu cầu trầm lắng và các nhà máy duy trì bảo dưỡng, khiến giá hầu như không có cơ hội đi lên.

"Nhu cầu xây dựng [tại Hàn Quốc] vào tháng 11 và tháng 12 rất thấp nên lịch bảo dưỡng đã được ấn định. Nhìn chung, nhu cầu cả năm vẫn ở mức thấp và không có lý do gì để giá tăng," một nguồn tin từ nhà máy ở Indonesia cho biết.

Một nguồn tin từ nhà máy tại Hàn Quốc cũng đồng tình: "Với việc bảo dưỡng và cắt giảm sản lượng hiện tại làm giảm mức tiêu thụ, giá phế liệu địa phương dự kiến sẽ có xu hướng giảm nhẹ thay vì phục hồi."

Lượng phế liệu đi vào nhà máy vẫn duy trì ổn định bất chấp các đợt giảm giá gần đây, theo nguồn tin nhà máy tại Hàn Quốc. "Giá phế nội địa liên tục giảm nên khối lượng phế không tăng nhưng giữ mức đều đặn," nguồn tin nói thêm.

Các nhà máy Hàn Quốc dự kiến sẽ thực hiện thêm một hoặc hai đợt giảm giá nữa, với khả năng giá sẽ chạm đáy vào khoảng giữa tháng 11 trong bối cảnh nhu cầu yếu gần đây, theo nguồn tin thương mại đầu tiên tại Hàn Quốc. Tỷ lệ vận hành của các nhà máy trước đó được ước tính vào khoảng 65%-70% sau khi một số lò hồ quang điện (EAF) đóng cửa, thương nhân này nói thêm.

Thép phế Thái Lan

Tại Thái Lan, giá phế nội địa được ghi nhận tăng trong tuần tính đến 28/10 giữa lúc chi phí năng lượng gia tăng.

Giá dạm mua phế HMS 1/2 80:20 nội địa Thái Lan được ghi nhận tăng so với tuần trước lên mức 10,60-10,90 Baht/kg (314-323 USD/tấn), giao đến nhà máy ở Rayong/Chonburi (chưa bao gồm VAT) vào ngày 28/10.

"Lý do [khiến giá phế nội địa tăng] là do chi phí năng lượng lại tăng," một thương nhân tại Thái Lan cho biết. Mặc dù giá nhích tăng, thương nhân này cho biết hoạt động chốt đơn vẫn rất hạn chế.

Trong ngắn hạn, cần theo dõi thêm các thông báo chính sách chính thức của chính phủ và xu hướng giá năng lượng để đánh giá hướng đi của thị trường phế liệu nội địa Thái Lan, thương nhân này cho biết.

Ghi nhận giá phế nội địa châu Á (28/10/2026)

| Vùng nội địa | Phẩm cấp | Giá ($/tấn) | Incoterm | Giá nội địa |

| --- | --- | --- | --- | --- |

| Nhật Bản (Kanto docks) | H2 | → 320-326 | FAS | 50.500-51.500 Yên/tấn |

| Nhật Bản (Kanto docks) | HS | → 349-358 | FAS | 55.000-56.500 Yên/tấn |

| Nhật Bản (Kanto docks) | Shindachi | → 352-365 | FAS | 55.500-57.500 Yên/tấn |

| Malaysia (Kuantan) | Bonus | → 338 | Delivered to mill, exc. VAT | 1.380 Ringgit/tấn |

| Hàn Quốc (Southern) | Light A | ↓ 321 | Delivered to mill, exc. VAT | 430.000 Won/tấn |

| Hàn Quốc (Southern) | Heavy A | ↓ 336 | Delivered to mill, exc. VAT | 450.000 Won/tấn |

| Unv1 (Central) | 80:20 | → 330 | Delivered to mill, exc. VAT | NT$10.700/tấn |

| Thái Lan (Rayong/Chonburi) | 80:20 | ↑ 314-323 | Delivered to mill, exc. VAT | 10,60-10,90 Baht/kg |

 Giá HRC châu Âu giữ ổn định khi tiêu thụ yếu làm mờ triển vọng tăng giá

Giá thép cuộn cán nóng châu Âu nhìn chung không thay đổi trong ngày 29/10 do những lo ngại dai dẳng về nhu cầu cốt lõi đã triệt tiêu sự hỗ trợ từ chi phí gia tăng và các quy định pháp lý.

"Nhu cầu đang thấp và rủi thay không có điều gì diễn ra trong nền kinh tế châu Âu có thể giúp cải thiện tình hình," một thương nhân tại Trung Âu cho biết. "Tăng giá vào lúc này là không khả thi."

Mặc dù vậy, các nhà máy vẫn đang hướng tới mục tiêu tăng giá cho tháng 1/2027 và quý 1 nói chung, với các chào giá HRC đã được ghi nhận quanh mức €790/tấn trên cơ sở ex-works và delivered.

Các bên tham gia phần lớn cho rằng các mục tiêu tăng giá này xuất phát từ chi phí năng lượng cao hơn, khi giá khí đốt tự nhiên vượt mức €100/MWh lần đầu tiên kể từ tháng 10/2022, cùng với việc sửa đổi hạn ngạch tự vệ của EU và cơ chế CBAM đã làm thắt chặt đáng kể nguồn cung nhập khẩu.

Định giáhợp đồng TTF Hà Lan giao ngày kế tiếp (day-ahead) ở mức €102,35/MWh vào ngày 28/10, tăng €5,250/MWh, tương đương 5,41% so với ngày trước đó.

Mức giá có thể giao dịch cho HRC nội địa tại Bắc Âu được ghi nhận ở mức €740-€760/tấn ex-works Ruhr. Tại Trung Âu, các chỉ số giá được định vị ở mức €730-€740/tấn ex-works, trong khi tại Nam Âu, giá có thể giao dịch ghi nhận ở mức €740/tấn ex-works Ý.

Định giá HRC nội địa tại Bắc Âu ở mức €745/tấn ex-works Ruhr, và tại Nam Âu ở mức €745/tấn ex-works Ý, cả hai đều ổn định so với ngày hôm trước.

"Tất cả về cơ bản chỉ xoay quanh hàng nội địa," một thương nhân tại Tây Ban Nha nói. "Đã có một số đơn đặt hàng thép dẹt Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng thị trường rất thắt chặt."

Một chào giá cho hàng xuất xứ Hàn Quốc được ghi nhận ở mức €740/tấn DDP Tây Ban Nha. Các nguồn tin tại Bắc Âu lưu ý rằng mặt bằng chung giá DDP tiệm cận mức €760/tấn hơn.

Một thương nhân nhấn mạnh tỷ giá hối đoái không thuận lợi đang tiếp tục kìm hãm nhu cầu nhập khẩu, với EUR/USD hiện xoay quanh mức 1,12, theo dữ liệu của Platts.

Định giá HRC nhập khẩu tại Bắc Âu ở mức €600/tấn CIF Antwerp, và tại Nam Âu ở mức €595/tấn CIF Nam Âu, cả hai đều giữ nguyên so với ngày trước đó.

Giá HRC tại Anh chững lại do thị trường giao ngay tiếp tục đóng băng

Thị trường thép cuộn cán nóng tại Anh duy trì ổn định vào ngày 29/10, do các bên tham gia thị trường nêu ra những lo ngại kéo dài về nhu cầu hạn chế và sự không chắc chắn xung quanh cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) sắp tới của Anh.

Các bên tham gia thị trường tiếp tục cho rằng sự thiếu vắng nhu cầu giao ngay diện rộng là do mức tồn kho cao và tiêu thụ hạ nguồn yếu hơn, cùng nhận định xu hướng này sẽ kéo dài đến năm 2027.

Tương tự, các nguồn tin bày tỏ sự thất vọng đối với ngân sách năm 2026 của chính phủ Anh, khi nhiều người kỳ vọng sẽ có thêm các biện pháp hỗ trợ công nghiệp trong bối cảnh ngành thép đang đối mặt với nhu cầu thấp hơn và chi phí vận hành cao hơn.

Một nguồn tin tại châu Âu bán hàng vào Anh cho biết: "Thị trường im vắng đến mức bạn có thể xẻ cuộn ngay ngày mai. Không có nhu cầu, không có chi tiêu phủ, và các biện pháp tự vệ mới thực sự không giúp cải thiện tâm lý." Bất chấp nhu cầu yếu hơn, nguồn tin này cho biết các nhà máy EU vẫn tiếp tục tăng chào giá, gây thêm áp lực lên thị trường Anh do tâm lý tăng giá trên các thị trường nội địa châu Âu. "Anh tương đối kém cạnh tranh," nguồn tin châu Âu này nhận xét.

Nhìn về tương lai, áp lực chi phí gia tăng dự kiến sẽ đến từ luật CBAM sắp tới, các bên tham gia lo ngại sẽ khó chuyển giao các chi phí này sang người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, bất chấp những lo ngại hiện tại về khả năng cạnh tranh, các nguồn tin nhà máy châu Âu dự báo mức phí CBAM đối với sản phẩm của họ sẽ thấp hơn, gợi ý rằng nguồn xuất xứ này có thể trở nên cạnh tranh hơn về chi phí, cộng thêm sự hỗ trợ từ hạn ngạch tự vệ tương đối lớn hơn.

Các chào giá được ghi nhận dưới mức £700-£710/tấn trên cơ sở DDP West Midlands, với mức giá có thể giao dịch ở mức £705/tấn DDP West Midlands.

Định giá HRC tại Anh ở mức £700/tấn DDP West Midlands, ổn định so với tuần trước.

Giá thép thanh xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ giữ ổn định nhờ chi phí phế liệu tăng

Giá thép thanh vằn xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ giữ ổn định trong ngày 29/10, với hoạt động thị trường hạn chế do Thổ Nhĩ Kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, trong khi chi phí phế liệu và phôi thép tăng đã hỗ trợ các nhà máy giữ vững chào giá.

Định giá thép thanh xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 29/10, không đổi so với ngày hôm trước.

Giá có thể giao dịch được ghi nhận ở mức 600-605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ.

Chào giá được ghi nhận ở mức 600-615 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ tùy thuộc vào khu vực sản xuất, với các nhà máy ở khu vực Marmara ghi nhận ở mức 610-615 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ và các nhà máy ở Iskenderun ở mức 600 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ.

Giá dạm mua được ghi nhận ở mức 590 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ.

Một người mua tại EU đánh giá mức 605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ là có thể giao dịch, lưu ý rằng các chào giá hiện có ở mức 600 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ từ các nhà máy ở Iskenderun và 605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ từ các nhà máy ở Marmara.

Một nguồn tin thương nhân khác cũng xếp mức giá có thể giao dịch tối thiểu quanh khoảng 600 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, dẫn chiếu chi phí đầu vào tăng.

"Sẽ rất khó cho các nhà máy nếu bán thép thanh dưới 600 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ xét trên mặt bằng giá mà họ đang mua phế liệu hoặc phôi thép," thương nhân này nói.

Một thương nhân thứ ba đặt giá thép thanh Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nói thêm rằng vẫn chưa có nhu cầu nước ngoài đối với thép thanh.

Trên thị trường phế HMS thượng nguồn, Định giá phế HMS 1/2 (80:20) phẩm cấp cao nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 399 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 29/10, ổn định so với ngày trước đó.

Giá phế nhập khẩu Thổ Nhĩ Kỳ ổn định sau giao dịch mới xuất xứ EU

Giá phế liệu nhập khẩu đường biển xa của Thổ Nhĩ Kỳ giữ ổn định vào ngày 29/10, với nhiều bên tham gia thị trường vắng mặt do kỳ nghỉ lễ Quốc khánh tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Định giá phế HMS 1/2 (80:20) phẩm cấp cao nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 399 USD/tấn CFR ngày 29/10, không đổi so với ngày trước đó.

Một lô hàng phế HMS 1/2 (80:20) nguồn gốc EU đã được nhà máy ở Izmir đặt mua ở mức 391 USD/tấn CFR vào ngày 28/10, và được báo cáo cho Platts vào ngày 29/10. Platts đã quy chuẩn (normalized) giao dịch này về mức tương đương phế HMS 1/2 (80:20) phẩm cấp cao ở mức 398-401 USD/tấn CFR dựa trên phản hồi thị trường hiện hành về chênh lệch chất lượng.

Các bên tham gia cũng báo cáo vào ngày 29/10 rằng một lô hàng nguồn gốc EU gồm phế HMS 1/2 (80:20) ở mức 388,50 USD/tấn CFR và phế bonus ở mức 408,50 USD/tấn CFR đã được một nhà máy ở Marmara đặt mua vào ngày 26/10.

Tâm lý thị trường vẫn vững chắc vào ngày 29/10, với các bên tham gia tiếp tục báo cáo rằng người bán Mỹ đang hướng tới mức trên 400 USD/tấn CFR.

Các bên tham gia cũng báo cáo rằng khoảng cách giá giữa hàng Mỹ và EU đã mở rộng trong tháng 10.

Giá có thể giao dịch đối với phế HMS 1/2 (80:20) xuất xứ Mỹ hoặc phẩm cấp cao được ghi nhận trong khoảng 398-401 USD/tấn CFR, trong khi giá có thể giao dịch đối với hàng xuất xứ EU được định vị ở mức 388,50-390 USD/tấn CFR.

"[Giá EU] sẽ đuổi kịp thôi, tuy nhiên tôi nghĩ mức tồn kho của châu Âu đang cao vì họ chưa xếp hàng lên tàu do thiếu tàu," một nguồn tin nhà máy nhận định.

Trong khi đó, cước tàu hàng rời khô từ châu Âu giảm nhẹ trong ngày và Platts định giá cước Supramax từ Rotterdam đến Aliaga ở mức 39,50 USD/tấn vào ngày 29/10, giảm 25 cent/tấn so với ngày trước đó. Chặng từ New Jersey đến Aliaga được định giá ở mức 37 USD/tấn ngày 29/10, đi ngang trong ngày.

Ở thị trường thép thanh hạ nguồn, hoạt động thị trường vẫn trầm lắng trong ngày lễ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà máy ở Marmara được ghi nhận chào bán ở mức 610-615 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi các nhà máy ở Iskenderun chào bán ở mức 600 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ.

"Vẫn chưa có nhu cầu đối với thép thanh ở nước ngoài," một nguồn tin thương nhân cho biết.

Định giá thép thanh xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 605 USD/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, không đổi so với ngày trước đó.

Trên thị trường tương lai kỳ hạn ngắn, các hợp đồng phế liệu trên Sàn Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) đã tăng trong ngày. Định giá hợp đồng phế tháng 11 ở mức 401,25 USD/tấn ngày 29/10, tăng 3,25 USD/tấn trong ngày. Platts định giá hợp đồng phế tháng 12 ở mức 402,50 USD/tấn và hợp đồng phế tháng 1 ở mức 403,50 USD/tấn vào ngày 29/10, cả hai đều tăng 3,50 USD/tấn trong ngày.

Thị trường HRC Mỹ tăng do các mức chào giá spot cao hơn

Giá thép cuộn cán nóng tại Mỹ đã nhích tăng trong ngày 29/10 khi các chào giá và giao dịch có xu hướng nằm ở dải cao hơn từ các nhà máy trong nước.

Định giá chỉ số TSI HRC Trung Tây Mỹ hàng ngày ở mức 1.340 USD/tấn ngắn (short ton) trên cơ sở giá xuất xưởng, tăng 20 USD/tấn ngắn so với kỳ định giá trước.

HRC Miền Nam Mỹ hàng ngày được định giá ở mức 1.340 USD/tấn ngắn trên cơ sở giá xuất xưởng, tăng 20 USD/tấn ngắn so với kỳ định giá trước.

Một thương nhân báo cáo nhận được các chào giá ở mức 1.350 USD/tấn ngắn EXW các nhà máy Trung Tây với thời gian giao hàng (lead time) tháng 12 - tháng 1. Họ cũng cho biết giá có thể giao dịch tối thiểu ở mức 1.330 USD/tấn ngắn EXW các nhà máy Trung Tây với thời gian giao hàng tháng 12.

"Không có nhiều thay đổi so với tuần trước," thương nhân này nhận định về mặt giá cả và điều kiện nguồn cung. "Vấn đề vẫn là ai có hàng spot và có bao nhiêu."

Các nguồn tin thị trường tương tự tiếp tục nhận thấy nguồn cung giao ngay hạn chế từ các nhà máy Trung Tây và Miền Nam, khi các nhà sản xuất đã đóng sổ đơn hàng giao ngay tháng 12 hoặc hạn chế báo giá spot cho một số khách hàng nhất định.

Một nguồn tin trung tâm dịch vụ thép (service center) tại Trung Tây báo cáo ghi nhận một giao dịch ở mức 1.350 USD/tấn ngắn EXW nhà máy Trung Tây cho khối lượng 100-200 tấn ngắn.

Một nhà máy phức hợp (integrated mill) tại Trung Tây báo cáo các giao dịch ở mức 1.320 USD/tấn ngắn EXW với thời gian giao hàng tháng 12. Đại diện nhà máy cho biết các mức chào giá lên tới 1.400 USD/tấn ngắn EXW, tùy thuộc vào sản lượng, kích thước cuộn và phẩm cấp sản phẩm HRC.

"Chúng tôi đã có một đợt bùng nổ giao dịch lớn khi mở sổ đơn hàng spot tháng 12 khoảng hai tuần trước, vì vậy hiện tại chúng tôi chuyển sang chế độ nhận báo giá theo yêu cầu (inquire basis) cho các yêu cầu thời gian giao hàng tiêu chuẩn," nguồn tin này cho biết.

Thị trường thép mạ Mỹ tăng nhẹ trong tuần

Giá thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) tại Mỹ đã tăng trong tuần kết thúc ngày 29/10 khi các nhà máy đẩy tăng mức chào giá trong điều kiện nguồn cung thắt chặt.

Định giá chỉ số TSI HDG Mỹ cán nóng cơ sở (hot-rolled substrate) ở mức 1.500 USD/tấn ngắn, tăng 10 USD/tấn ngắn trong ngày và so với tuần trước. Platts định giá TSI HDG Mỹ cán nguội cơ sở (cold-rolled substrate) ở mức 1.520 USD/tấn ngắn, cũng tăng 10 USD/tấn ngắn trong ngày và so với tuần trước.

Định giá chỉ số TSI CRC Mỹ ở mức 1.520 USD/tấn ngắn, không đổi trong ngày và so với tuần trước.

Một nguồn tin từ trung tâm dịch vụ thép Trung Tây cho biết giá có thể giao dịch cho các sản phẩm HDG ở mức 1.510 USD/tấn ngắn EXW các nhà máy Trung Tây với thời gian giao hàng tháng 12 - tháng 1.

"Tôi không chắc liệu có ai rút lui khỏi việc đặt hàng hợp đồng hay không khi nguồn cung bị hạn chế như vậy và giá hợp đồng sẽ thiết lập lại ở mức cao hơn vào năm tới," nguồn tin cho biết khi được hỏi về điều kiện nguồn cung.

Người này cũng cho biết thời gian giao hàng từ các nhà máy nội địa vẫn bị kéo dài. "Tôi dự đoán tiến độ giao hàng kém sẽ tiếp tục kéo dài sang hết quý đầu tiên," người này nói.

Một nhà máy phức hợp Trung Tây cho biết các giao dịch CRC ở mức 1.520 USD/tấn ngắn EXW, với thời gian giao hàng trong tháng 12. Tuy nhiên, nguồn tin bên bán cho biết nguồn cung cho tháng 12 bị hạn chế, khiến họ phải báo giá các đơn hàng mới trên cơ sở nhận báo giá theo yêu cầu.

Một thương nhân báo cáo ghi nhận các giao dịch trong khoảng 1.500-1.550 USD/tấn ngắn EXW nhà máy phức hợp Trung Tây, tùy thuộc vào sản lượng và phẩm cấp, cho cả sản phẩm HDG và CRC.

Thời gian giao hàng trung bình của các nhà máy Mỹ đối với sản phẩm HDG ổn định ở mức 10 tuần, trong khi thời gian giao hàng trung bình đối với CRC cũng đi ngang ở mức 9,8 tuần, theo dữ liệu của Platts ngày 28/10.

 Thị trường CRC không gỉ Mỹ đi ngang trong tuần

Giá thép cuộn cán nguội không gỉ (stainless CRC) tại Mỹ không thay đổi trong tuần kết thúc ngày 29/10 do giá có thể giao dịch và mức chào giá ổn định trên khắp các phẩm cấp inox.

Định giá chỉ số thép không gỉ TSI US 304 hàng ngày ở mức 3.540 USD/tấn ngắn ex-works, không đổi trong ngày và trong tuần.

Định giá chỉ số thép không gỉ TSI US 316 hàng ngày ở mức 5.760 USD/tấn ngắn EXW, cũng ổn định trong ngày và so với tuần trước.

Các chào giá lặp lại gần đây cho vật liệu CRC inox 304 được ghi nhận ở mức 3.540 USD/tấn ngắn EXW các nhà máy Trung Tây.

Đối với CRC inox 316, các chào giá lặp lại gần đây được ghi nhận ở mức 5.760 USD/tấn ngắn EXW các nhà máy Trung Tây.

Các nguồn tin bên mua cho biết các nhà máy đang giữ giá rất đàm phán đối với cả hai phẩm cấp, hầu như không có dư địa để thương lượng giảm giá.

Một nguồn tin từ đại lý phân phối chính cho biết ông dự kiến phụ phí inox sẽ giảm trong tháng này, nhưng kỳ vọng giá cơ sở từ các nhà máy nội địa sẽ phần lớn giữ ổn định.

Phụ phí nhà máy tháng 11 giảm 3-4% so với mức tháng 10, tùy thuộc vào nhà máy đối với cả hai phẩm cấp inox 304 và 316, theo dữ liệu ngày 29/10.

Khi được hỏi về thời gian giao hàng, nguồn tin phân phối cho biết thời gian giao hàng dao động trong biên độ rộng, tùy thuộc vào nhà máy. Theo ông, một số nhà máy có thời gian giao hàng 5-6 tuần, trong khi một nhà máy đã kín lịch đặt hàng cho đến hết năm.

Ngành thép Trung Quốc tái lỗ trong tháng 9 do nhu cầu yếu, cắt giảm sản lượng hạn chế

Ngành thép Trung Quốc đã rơi trở lại trạng thái thua lỗ trong tháng 9 sau khi có lãi trở lại vào tháng 8, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) công bố ngày 27/10 cho thấy, với các bên tham gia thị trường cho biết nhu cầu nội địa yếu và việc cắt giảm sản lượng chưa đủ tiếp tục gây áp lực lên giá thép.

Ngành này đã ghi nhận tổng lợi nhuận là 24,34 tỷ Nhân dân tệ (3,65 tỷ USD) trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 9, giảm 50,9% so với cùng kỳ năm ngoái, theo dữ liệu của NBS.

Sau khi ghi nhận lợi nhuận lũy kế 29,43 tỷ Nhân dân tệ trong giai đoạn tháng 1 - tháng 8, ngành thép đã chịu khoản lỗ tổng cộng khoảng 5,09 tỷ Nhân dân tệ trong tháng 9, sau khi vừa mới tìm lại lợi nhuận vào tháng 8, dữ liệu cho thấy.

Nhiều nguồn tin từ nhà máy cho biết tình trạng tái thua lỗ phần lớn đã được dự báo trước trong bối cảnh nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng trong nước liên tục yếu và giá nguyên liệu thô ở mức cao.

Mặc dù giá nguyên liệu thô đã hạ nhiệt trong tháng 10, nhu cầu yếu và việc cắt giảm sản lượng chưa đủ vẫn tiếp tục đè nặng lên giá thép, dẫn đến việc biên lợi nhuận của nhà máy không có sự cải thiện đáng kể nào, các nguồn tin nhà máy nói thêm.

Chỉ số IODEX được định giá đạt trung bình 90,68 USD/dmt CFR Bắc Trung Quốc từ ngày 1-28/10, giảm 6,1% so với mức trung bình tháng 9, trong khi HRC nội địa được định giá đạt trung bình 3.268 Nhân dân tệ/tấn (490 USD/tấn), giảm 2,2% trong cùng kỳ.

"Vấn đề lớn nhất vẫn là nhu cầu thép nội địa quá yếu," một nguồn tin nhà máy cho biết. "Mặc dù sản lượng thép đã giảm, nhưng mức giảm không đủ để bù đắp cho sự suy yếu của nhu cầu, khiến giá thép khó tăng."

"Vì vậy, ngay cả khi giá nguyên liệu thô đã giảm trong tháng 10, đối với hầu hết các nhà máy, điều này có thể chỉ có nghĩa là các khoản lỗ nhỏ hơn chứ không phải là sự trở lại mức có lãi," nguồn tin nói thêm.

Một nguồn tin nhà máy khác cho biết nhu cầu thép nội địa yếu vẫn là lực cản chính đối với lợi nhuận, và giá nguyên liệu thô thấp hơn khó có thể tự mình mang lại sự cải thiện ý nghĩa cho biên lợi nhuận. Nguồn tin cho biết nhu cầu thép nội địa có thể sẽ khó tránh khỏi mức giảm so với cùng kỳ năm ngoái trong quý 4 nếu không có các biện pháp kích thích kinh tế mạnh mẽ.

Một chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô tại Trung Quốc cho biết xuất khẩu ngành chế tạo của nước này vẫn mạnh mẽ và tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, khiến các biện pháp kích thích kinh tế dồn dập ít có khả năng xuất hiện trong năm nay.

Cắt giảm sản lượng vẫn chưa đủ

Bất chấp áp lực liên tục lên nhu cầu và biên lợi nhuận của nhà máy, việc cắt giảm sản lượng thép vẫn ở mức hạn chế.

Sản lượng gang và thép thô hàng ngày tại các nhà máy thành viên của Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc (CISA) đạt trung bình lần lượt 1,728 triệu tấn và 1,894 triệu tấn trong giai đoạn 11-20/10, giảm 2,8% và 2,3% so với đầu tháng 10, dữ liệu mới nhất từ CISA cho thấy.

Tuy nhiên, sản lượng thép thô hàng ngày từ ngày 1-20/10 đạt trung bình 1,917 triệu tấn, cao hơn 0,4% so với mức trung bình tháng 9.

Các nhà sản xuất thép tại thành phố Hàm Đan (Handan), tỉnh Hà Bắc đã được lệnh ủ lò (bank blast furnaces) theo 5 đợt từ ngày 25-31/10 để cải thiện chất lượng không khí địa phương, nhưng một thương nhân tại Trung Quốc và một nguồn tin nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc dự báo các biện pháp này chỉ có tác động hạn chế đến tổng sản lượng thép của Trung Quốc.

Các hạn chế có thể được kéo dài nếu chất lượng không khí không cải thiện trong tháng 11, các nguồn tin cho biết.

"Các hạn chế sản lượng ngắn hạn tương tự đều được triển khai trong giai đoạn thu đông hàng năm," nguồn tin nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc cho biết. Nhu cầu thép cũng thường suy yếu trong những tháng này, nghĩa là các hạn chế sản lượng tạm thời như vậy sẽ không đủ để tạo động lực đi lên cho giá thép, nguồn tin nói thêm.

Dưới đây là bản dịch báo chí tin tức thị trường nguyên liệu và thép (phù hợp với văn phong chuyên mục năng lượng - công nghiệp - hàng hóa):

Hợp đồng tương lai kim loại đen Trung Quốc nới rộng đà tăng

Giá các hợp đồng tương lai kim loại đen (ferrous futures) tại Trung Quốc tiếp tục đà phục hồi vào thứ Năm, nhờ sự hỗ trợ từ các biện pháp hạn chế sản xuất bảo vệ môi trường tại một số nhà máy thép, nhu cầu tiêu thụ thép cải thiện nhẹ và tâm lý kinh tế vĩ mô ổn định hơn.

Trong phiên giao dịch ngày 29/10, hợp đồng tương lai thép thanh vằn (rebar) và thép cuộn cán nóng (HRC) trên Sàn giao dịch Thượng Hải (SHFE) lần lượt tăng 13 Nhân dân tệ/tấn (1,94 USD/tấn) và 15 Nhân dân tệ/tấn (2,23 USD/tấn). Hợp đồng tương lai quặng sắt và than cốc trên Sàn Đại Liên (DCE) nhích tăng tương ứng 10 Nhân dân tệ/tấn (1,49 USD/tấn) và 3,5 Nhân dân tệ/tấn (0,52 USD/tấn).

Sự phục hồi của giá thép được kích hoạt đặc biệt bởi lệnh hạn chế sản lượng nhằm bảo vệ môi trường tại Hàm Đan, thủ phủ sản xuất thép chính thuộc tỉnh Hà Bắc, có hiệu lực từ ngày 25 đến 31/10. Theo các nguồn tin thị trường và truyền thông Trung Quốc, các biện pháp này bao gồm việc dừng vận hành luân phiên 26 lò cao chia làm 5 đợt đối với các nhà sản xuất thép. Tổng tác động ước tính đến sản lượng gang đúc (pig iron) ở đợt nhà máy đầu tiên rơi vào khoảng 7.000 tấn/ngày.

Bên cạnh đó, giá quặng sắt và than cốc đi lên đã đẩy chi phí nguyên liệu đầu vào của các nhà sản xuất thép tăng theo, qua đó kéo giá thép thành phẩm tương lai lên. Việc hạn chế vận tải và thông quan đối với than cốc Mông Cổ trên một số tuyến đường đã làm dấy lên lo ngại về nguồn cung, tạo bệ đỡ cho giá than. Trong khi đó, nhu cầu quặng sắt vẫn được củng cố nhờ hoạt động sản xuất tương đối dẻo dai tại các nhà máy thép Trung Quốc bất chấp các lệnh hạn chế vận hành.

Tâm lý thị trường cũng nhận được động lực từ quyết định ngày 28/10 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) về việc giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 3,75‑4%, giúp giải tỏa bớt tâm lý lo ngại trên các thị trường quốc tế.

Dù có sự phục hồi, các bên tham gia thị trường vẫn duy trì sự thận trọng khi giá tương lai tiến gần các vùng kháng cự, làm gia tăng sự giằng co giữa bên mua và bên bán. "Khi mùa thấp điểm tiêu thụ thép truyền thống đang đến gần, phần lớn giới thương nhân ưu tiên phương án đứng ngoài quan sát," một thương nhân Trung Quốc chia sẻ.

 CÁC HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI THÉP VÀ NGUYÊN LIỆU CHÍNH TẠI TRUNG QUỐC

Tỷ giá quy đổi: 1 USD = 6,7147 RMB

| Mặt hàng | Sàn giao dịch | Tháng giao hàng | Tiền tệ | Mức giá | Biến động (so với ngày trước) |

| --- | --- | --- | --- | --- | --- |

| Thép thanh vằn, 16-25 mm | SHFE | Tháng 1 | RMB/tấn | 3.056 | +13 |

| Thép thanh vằn, 16-25 mm | SHFE | Tháng 1 | USD/tấn | 455,12 | +1,94 |

| Thép HRC, 3,5-9,75 mm | SHFE | Tháng 1 | RMB/tấn | 3,192 | +15 |

| Thép HRC, 3,5-9,75 mm | SHFE | Tháng 1 | USD/tấn | 475,37 | +2,23 |

| Quặng sắt, 62% Fe | DCE | Tháng 1 | RMB/tấn | 682 | +10 |

| Quặng sắt, 62% Fe | DCE | Tháng 1 | USD/tấn | 101,57 | +1,49 |

| Than cốc (Coking coal) | DCE | Tháng 1 | RMB/tấn | 1.427,5 | +3,5 |

| Than cốc (Coking coal) | DCE | Tháng 1 | USD/tấn | 212,59 | +0,52 |

Thị trường Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận các giao dịch phế liệu châu Âu nhưng nhà máy vẫn thận trọng

Trong nửa cuối tuần làm việc, thêm nhiều thông tin chi tiết về các đơn hàng phế liệu nhập khẩu đường biển xa xuất hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ, bao gồm hai giao dịch liên quan đến các nhà cung cấp châu Âu. Tuy nhiên, các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì sự thận trọng trong bối cảnh nhu cầu thép thành phẩm yếu và áp lực giảm giá tiếp tục đè nặng lên thép thanh vằn.

Một nhà sản xuất thép tại khu vực Marmara đã chốt mua lô phế liệu HMS 1&2 (80:20) ở mức 388,5 USD/tấn CFR và phế liệu bonus ở mức 408,5 USD/tấn CFR từ một nhà xuất khẩu Hà Lan. Mức giá đối với HMS 1&2 (80:20) này cao hơn 3,5 USD/tấn so với giao dịch từ cùng nhà cung cấp vào ngày 13/10.

Một nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ khác ở khu vực Karadeniz đã thu mua phế HMS 1&2 (80:20) từ Đức với giá 391 USD/tấn CFR.

Các cuộc đàm phán ở phân khúc phế liệu đường biển xa vẫn trầm lắng trong ngày thứ Năm do trùng vào ngày lễ quốc gia tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tâm lý của các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ phần lớn là bi quan, phản ánh sức mua thép thành phẩm yếu trong tuần và việc giá thép thanh vằn bị cắt giảm thêm.

Trong khi đó, các nhà cung cấp phế liệu vẫn giữ vững kỳ vọng giá cao với lý do chi phí thu gom và cước vận tải biển tăng. Các nhà xuất khẩu châu Âu vẫn đang tìm kiếm mức giá trên 390 USD/tấn CFR cho phế HMS 1&2 (80:20), trong khi các nhà cung cấp Mỹ đặt mục tiêu lên tới 410 USD/tấn CFR. Đồng thời, các bên tham gia thị trường vẫn hoài nghi về khả năng giá phế liệu tăng đột biến, do nhu cầu thép thành phẩm yếu tại Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục hạn chế sức mua của các nhà máy cũng như khả năng hấp thụ chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao.

Đánh giá giá hàng ngày của phế HMS 1&2 (80:20) từ bờ Đông Hoa Kỳ giữ nguyên ở mức 400 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ trong ngày 29/10.

Khách hàng thép Iran ưu tiên các đơn hàng nhỏ do ngại rủi ro giao hàng

Tình trạng bất ổn tại các cửa khẩu biên giới tiếp tục đè nặng lên tâm lý thị trường xuất khẩu thép của Iran. Mặc dù hoạt động giao dịch vẫn diễn ra, người mua ngày càng e ngại chốt các đơn hàng lớn, gây khó khăn cho việc đánh giá mặt bằng giá cũng như lập kế hoạch thị trường ngắn hạn.

Những gián đoạn gần đây dọc theo các đường biên giới đường bộ của Iran đã làm gia tăng rủi ro cho các giao dịch xuất khẩu. "Những khách hàng có nhu cầu mua khối lượng lớn để vận chuyển bằng tàu biển qua cảng Iskenderun hiện đang cẩn trọng hơn," Venus Najafi, cố vấn độc lập về thu mua thép và tư vấn thị trường thép chia sẻ. "Trước tình trạng bất ổn tại các điểm qua biên giới và yêu cầu phải thanh toán trả trước 100% trước khi bốc hàng lên xe, họ rất ngại chốt các hợp đồng lớn khi rủi ro chưa được làm rõ," bà nói thêm.

Tình trạng này diễn ra sau các hạn chế mới đối với lưu thông thương mại tại một số cửa khẩu với các nước láng giềng. Iraq đã đình chỉ hoạt động tại cửa khẩu Al-Sheeb (phía Iran gọi là Chazabeh) vào ngày 21/10. Cửa khẩu này vẫn đóng cửa tính đến ngày 29/10, mặc dù cơ quan hải quan Iraq phát đi tín hiệu có thể sớm khôi phục hoạt động. Trong khi đó, Pakistan đã mở cửa trở lại một phần cửa khẩu Gabd-Rimdan vào ngày 24/10 sau một tuần tạm ngừng, dù các thủ tục hải quan vẫn đang hạn chế sự di chuyển của một số lô hàng. Tình trạng ùn tắc nghiêm trọng cũng được ghi nhận dọc biên giới Iran với Afghanistan và Thổ Nhĩ Kỳ, làm phức tạp thêm lịch trình giao hàng và gia tăng áp lực lên các tuyến vận tải đường bộ.

Mặc dù vậy, các gián đoạn trên không làm gián đoạn hoàn toàn hoạt động xuất khẩu thép đường bộ của Iran, khi các giao dịch nhỏ hơn vẫn tiếp tục qua các cửa khẩu thay thế. "Một số người mua phục vụ thị trường Iraq, Armenia và các thị trường lân cận khác vẫn đang mua các khối lượng nhỏ hơn, đôi khi chỉ một xe tải cho mỗi lần chốt," bà Venus Najafi lưu ý. "Các khoản thu mua này giúp người mua quản trị mức độ rủi ro trước các gián đoạn tiềm ẩn và linh hoạt hơn trước các điều kiện thay đổi." Việc sử dụng các tuyến đường thay thế có thể kéo theo thời gian giao hàng dài hơn và cước phí vận chuyển cao hơn, dù mức độ tăng cụ thể vẫn khó định lượng.

Trong bối cảnh đó, lực mua trầm lắng cùng các điều kiện logistics biến động tiếp tục làm phức tạp việc xác định mức giá xuất khẩu khả thi, Metal Expert ghi nhận. Chào giá phôi thép xuất khẩu của Iran được ghi nhận ở mức 420‑430 USD/tấn FCA tại biên giới trong tuần này, so với mức 420‑440 USD/tấn FCA ghi nhận ngày 15/10. Tuy nhiên, các mức giá này phần lớn chỉ mang tính tham khảo trong bối cảnh giao dịch hạn chế và sự mơ hồ kéo dài.

Các nhà xuất khẩu phôi thép châu Á ghi nhận lực cầu từ người mua trong khu vực

Các bên bán phôi thép châu Á đối mặt với cơ hội xuất khẩu hạn chế, dù một số hoạt động mua hàng vẫn được ghi nhận tại các thị trường khu vực, đặc biệt là Đài Loan và Việt Nam. Giá nhích giảm nhẹ so với tuần trước, trong khi các nhà cung cấp ngày càng e ngại chấp nhận các điều kiện từ phía người mua.

Các nhà sản xuất Trung Quốc chào bán phôi 3sp ở mức 464 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12 - tháng 1, giảm nhẹ so với mức 465 USD/tấn FOB ghi nhận vào thứ Tư tuần trước. Mức giá có thể giao dịch đạt 460‑462 USD/tấn FOB so với 463‑465 USD/tấn FOB của tuần trước. Các nhà xuất khẩu phôi Trung Quốc ghi nhận doanh số bán hàng ra nước ngoài rất hạn chế, do chi phí nguyên liệu thô cao khiến các nhà máy không thể hạ giá chào bán sâu, các nguồn tin cho hay. Hoạt động xuất khẩu cũng gặp khó do cước vận tải biển đắt đỏ, kìm hãm các giao dịch, đặc biệt là sang Trung Đông và Châu Phi. Do đó, hoạt động mua bán diễn ra sôi động hơn ở các thị trường trong khu vực. "Chúng tôi không ghi nhận nhiều đơn hàng chốt từ các nhà máy. Chi phí nguyên liệu đầu vào vẫn ở mức cao và tỷ giá hối đoái không có lợi cho nhà xuất khẩu. Thị trường hải ngoại rất ảm đạm, thương mại nội vùng hiện có nhiều chuyển động hơn," một thương nhân tại Trung Quốc bình luận.

Người mua Đài Loan thể hiện sự quan tâm đến phôi thép hợp kim, dạm mua phôi Trung Quốc có chứa vanadi ở mức 510 USD/tấn CFR Đài Loan, so với mức chào bán 515 USD/tấn CFR. Một giao dịch chưa xác nhận đối với phôi hợp kim vanadi xuất xứ từ Nga gần đây đã được chốt ở mức 510 USD/tấn CFR.

Ở phân khúc phôi tiêu chuẩn (base grade), người mua Đài Loan đã tăng nhẹ giá dạm mua đối với phôi 3sp Trung Quốc lên 480 USD/tấn CFR từ mức 475‑480 USD/tấn CFR một tuần trước đó. Giá chào bán đứng ở mức 485 USD/tấn CFR.

Nhà sản xuất Dexin Steel của Indonesia giữ nguyên giá chào phôi tiêu chuẩn cho lô hàng giao tháng 1 ở mức 470 USD/tấn FOB. Giá dạm mua được ghi nhận ở mức 465 USD/tấn FOB, nhưng nhà sản xuất chưa sẵn sàng chốt giao dịch ở mức này. Người mua Việt Nam tỏ ra quan tâm đến việc mua phôi thép Indonesia trong bối cảnh giá phế liệu nhập khẩu cao và nhu cầu thép dài nội địa duy trì tích cực. Trong hai tuần trước đó, nhà cung cấp này đã bán phôi thép ở mức 470 USD/tấn FOB, với ít nhất 80.000 tấn đã sang tay.

Tại Indonesia, phôi 3sp nội địa được chào bán ở mức 490 USD/tấn CFR, tạo cho các nhà cung cấp Trung Quốc lợi thế về giá khoảng 10 USD/tấn. Một lô phôi 3sp Trung Quốc dung lượng 10.000 tấn báo cáo đã được bán với giá 474 USD/tấn CFR Indonesia tuần trước, dù giao dịch này chưa được xác minh độc lập.

Giá HRC xuất khẩu của Trung Quốc giảm do thương mại và thị trường nội địa suy yếu

Giá HRC xuất khẩu của Trung Quốc giảm trong tuần này giữa lúc nhu cầu hải ngoại suy yếu và thị trường nội địa tiếp tục đà giảm điểm. Chi phí nguyên liệu thô hạ nhiệt cũng thúc đẩy các nhà máy Trung Quốc hạ giá chào. Tuy nhiên, việc giảm giá báo không kích thích được sức mua từ nước ngoài, và hoạt động giao dịch trầm xuống sau hai tuần chốt đơn tương đối sôi động trước đó.

Vào ngày 29/10, chào giá HRC phẩm cấp SS400 từ các nhà sản xuất thép lớn của Trung Quốc được ghi nhận ở mức 490‑500 USD/tấn FOB, giảm 5‑10 USD/tấn so với tuần trước, trong khi các nhà máy quy mô trung bình giảm chào giá 3‑5 USD/tấn xuống 483‑487 USD/tấn FOB cho các lô hàng giao tháng 12 - tháng 1.

Giá chào xuất khẩu bị ảnh hưởng bởi thị trường nội địa Trung Quốc, nơi nhu cầu thép thành phẩm vẫn chậm chạp, trong khi tồn kho ở mức cao và các biện pháp kích thích từ chính quyền chưa đủ liều lượng tiếp tục đè nặng lên tâm lý chung. Hợp đồng tương lai HRC trên sàn SHFE giảm 17 Nhân dân tệ/tấn (2,5 USD/tấn) kể từ thứ Sáu tuần trước. "Tình hình kinh tế vĩ mô tổng thể tại Trung Quốc vẫn yếu, cả thị trường hàng hóa và chứng khoán đều chịu áp lực. Tồn kho thép cũng ở mức tương đối cao," một thương nhân Trung Quốc chia sẻ. Trong khi đó, một số nhà máy đã chấp nhận lượng đơn hàng nội địa hạn chế ở mức giá thấp do giá dạm mua của khách quốc tế quá thấp, giới trong nghề cho biết.

Thương mại quốc tế chậm lại cũng tạo ra ít bệ đỡ cho giá cả. Đáng chú ý, khách hàng Việt Nam đã đặt mua 10.000‑15.000 tấn HRC Q195 của Trung Quốc ở mức 495 USD/tấn CFR giao cuối tháng 12 để phục vụ tái xuất khẩu. Mặc dù giá giao dịch ổn định so với hợp đồng chốt tuần trước cho cùng mặt hàng, khối lượng đã giảm từ mức 20.000‑30.000 tấn, theo thông tin từ các bên tham gia. Nhìn chung, nhu cầu tại Việt Nam được hỗ trợ nhờ nguồn cung giảm từ các nhà sản xuất trong nước trong tháng này. Trong bối cảnh đó, giá chào của Trung Quốc đối với HRC Q195 và Q235 giữ ổn định lần lượt ở mức 498 USD/tấn CFR và 505 USD/tấn CFR, đều cho lô hàng giao giữa tháng 12, bất chấp việc các nhà máy Trung Quốc hạ giá chào xuất khẩu.

Tại Pakistan, chào giá HRC Q195 của Trung Quốc được ghi nhận quanh mức 500 USD/tấn CFR tuần này, giảm 4‑5 USD/tấn so với tuần trước. Hoạt động giao dịch tương đối chậm với ít giao dịch được ghi nhận.

Các bên tham gia thị trường tiếp tục thận trọng về triển vọng ngắn hạn. "Người mua đã chốt được khối lượng lớn trong hai tuần qua, trong khi tâm lý thị trường kể từ đó đã chuyển sang hướng tương đối bi quan," một thương nhân Trung Quốc nhận định.

 Giá phế liệu suy yếu tại Pakistan, ổn định tại Ấn Độ do cầu thấp

Giá phế liệu tại Pakistan giảm do người mua phản đối các mức chào giá cao trong bối cảnh lo ngại về chính sách thuế, trong khi giá tại Ấn Độ phần lớn ổn định nhờ hoạt động mua hàng trầm lắng, nguồn cung nội địa dồi dào và các gián đoạn do mùa lễ hội.

Tại Pakistan, chào giá phế liệu cắt nhỏ (shredded scrap) châu Âu được ghi nhận ở mức 415‑420 USD/tấn CFR tuần này, so với 415‑425 USD/tấn CFR tuần trước. "Hoạt động kinh doanh phế liệu kim loại đen và kim loại màu hiện rơi vào tình cảnh rất tồi tệ tại Pakistan do các vấn đề thuế địa phương, biến động giá và bất ổn thương mại quốc tế," một thương nhân Pakistan nhận xét.

Trước đó, giá phế liệu tại Pakistan từng nhận được sự hỗ trợ sau sự cố chìm tàu chở phế liệu tại eo biển Hormuz và việc áp dụng thêm thuế điện. Các nhà nhập khẩu phế liệu từng hưởng lợi từ mức thuế điện thấp hơn so với các nhà sản xuất thép dùng phế liệu nội địa, qua đó tác động đến động lực thị trường.

Tuy nhiên, hoạt động nhập khẩu gặp nhiều thách thức khi các nhà cung cấp chuyển hướng sang các thị trường khác do cước vận tải biển sang Pakistan quá cao. Để ứng phó với điều kiện thị trường hiện tại, các nhà cung cấp địa phương đang điều chỉnh giảm sản lượng. Đại diện ngành công nghiệp cũng đang kêu gọi chính phủ điều chỉnh lại mức thuế áp dụng đối với người sử dụng phế liệu thu hồi từ tàu tháo dỡ.

Tại Ấn Độ, chào giá phế liệu cắt nhỏ châu Âu được ghi nhận ở mức 405‑410 USD/tấn CFR, không đổi so với mức giá hai tuần trước đó. Chào giá cho phế HMS 1&2 (80:20) từ Nam Mỹ, Anh và Far East được ghi nhận ở mức 365‑380 USD/tấn CFR. Hai tuần trước đó, phế HMS 1&2 (80:20) từ Châu Phi và Châu Âu có giá 370‑380 USD/tấn CFR. Mức giá có thể giao dịch đối với phế liệu nguồn gốc từ Anh được định vị quanh mức 360 USD/tấn CFR, dù chưa có giao dịch nào được xác nhận.

Không có giao dịch phế liệu nào được tiết lộ tại Ấn Độ trong tuần, trong khi các cuộc đàm phán liên quan đến PSIC vẫn đang diễn ra. Các hoạt động trong mùa lễ hội cùng nguồn cung vật liệu nội địa sẵn có tiếp tục kìm hãm sức mua đối với phế liệu nhập khẩu.

Giá quặng sắt tăng nhờ tâm lý thị trường khởi sắc dù sức mua thực tế yếu

Giá quặng sắt tăng vào thứ Năm, nhờ hoạt động luyện thép duy trì sự dẻo dai và tâm lý thị trường khởi sắc hơn, mặc dù sức mua hàng giao ngay yếu cùng những lo ngại về các lệnh hạn chế sản xuất đã kìm hãm đà phục hồi.

Quặng sắt mịn 62% Fe của Úc tăng 1 USD/tấn lên 93,25 USD/tấn CFR, trong khi giá hợp đồng tương lai tăng 1,5 USD/tấn trên sàn DCE và tăng 1,3 USD/tấn trên sàn SGX trong ngày.

Sự phục hồi một phần nhờ nhu cầu quặng sắt duy trì từ các nhà sản xuất thép Trung Quốc, khi sản lượng gang thỏi giữ ở mức tương đối cao bất chấp những biến động gần đây.

Các biến chuyển kinh tế vĩ mô cũng đóng góp vào tâm lý thị trường tích cực hơn. Quyết định ngày 28/10 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ về việc giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 3,75‑4% đã giúp xoa dịu những lo ngại trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, đà tăng giá không đi kèm với sức mua thực tế mạnh mẽ hơn. Tổng hoạt động giao dịch quặng sắt sụt giảm mạnh so với ngày 28/10, phản ánh khối lượng giao dịch thấp hơn tại các cảng Trung Quốc và lực mua yếu trên thị trường đường biển.

Áp lực gia tăng lên triển vọng nhu cầu còn đến từ các lệnh hạn chế sản xuất bảo vệ môi trường tại thành phố Hàm Đan, tỉnh Hà Bắc, có hiệu lực từ 25 đến 31/10. Các biện pháp này bao gồm việc dừng vận hành luân phiên 26 lò cao chia làm 5 đợt đối với các nhà sản xuất thép. Tổng tác động ước tính đến sản lượng gang đúc ở đợt nhà máy đầu tiên rơi vào khoảng 7.000 tấn/ngày. Mặc dù các lệnh hạn chế hỗ trợ giá thép thành phẩm do kỳ vọng nguồn cung thắt chặt, chúng cũng đe dọa làm giảm mức tiêu thụ quặng sắt.

Với việc mùa thấp điểm tiêu thụ thép truyền thống đang đến gần và tồn kho thép thành phẩm vẫn ở mức cao, khả năng phục hồi bền vững của giá quặng sắt vẫn còn là một dấu hỏi.

Thép dẹt Châu Á - Thái Bình Dương: Giá tại Trung Quốc tăng

Thị trường thép dẹt nội địa Trung Quốc khởi sắc nhờ tốc độ giảm tồn kho nhanh hơn, trong khi thị trường đường biển ổn định do thiếu lực cầu mua.

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) thương phẩm giao tại kho ở Thượng Hải tăng 10 Nhân dân tệ/tấn ($1,50/tấn) lên 3.230 NDT/tấn vào ngày 29/10.

Tâm lý thị trường cải thiện khi tốc độ xả hàng tồn kho đẩy nhanh trong tuần này. Tồn kho HRC tại các công ty thương mại và nhà máy thép đã giảm 70.000 tấn trong tuần này, so với mức giảm 30.000 tấn của tuần trước; đồng thời các nhà máy đã tăng sản lượng HRC thêm gần 20.000 tấn so với tuần trước, theo các bên tham gia thị trường.

Các công ty thương mại cho biết bên bán đã nâng giá thêm 10 NDT/tấn lên 3.230 NDT/tấn và giao dịch thực tế đã khởi sắc hơn so với ngày hôm trước. Tuy nhiên, một số thành viên thị trường cho hay các nhà máy vẫn đang chịu khoản lỗ hơn 100 NDT/tấn đối với HRC, và họ có thể sẽ không tiếp tục tăng sản lượng trong tháng 11. Các nguồn tin cho biết thêm rằng sản lượng cũng có thể bị hạn chế bởi các biện pháp kiểm soát ô nhiễm mùa thu - đông thường niên tại tỉnh Hà Bắc (miền bắc Trung Quốc), mặc dù tác động có thể nhỏ do hầu hết các nhà máy đã đạt chứng nhận xếp hạng A.

Hợp đồng HRC tương lai tháng 1 trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Tương lai Thượng Hải tăng 0,63%, tương đương 20 NDT/tấn so với giá chốt phiên trước đó, lên mức 3.192 NDT/tấn vào ngày 29/10.

Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc đi ngang ở mức $482/tấn FOB do các mức chào giá ổn định.

Các nhà xuất khẩu lớn của Trung Quốc vẫn giữ giá chào ở mức $495-500/tấn FOB Trung Quốc cho HRC mác SS400 và $480-490/tấn FOB cho HRC mác Q235. Giá chào HRC mác Q195 từ các công ty thương mại ở mức $490/tấn CFR Việt Nam, giảm nhẹ so với mức $490-495/tấn CFR tuần trước, và giá cho mác Q235 cao hơn khoảng $10/tấn. Tuy nhiên, các công ty thương mại cho biết sự quan tâm của người mua đã hạ nhiệt sau đợt thu mua trong hai tuần qua. Hầu hết bên bán đều thận trọng trong việc nhận đơn hàng dưới mức giá có thể chấp nhận của nhà máy, trong bối cảnh đồng Nhân dân tệ mạnh lên và dư địa giảm giá trên thị trường nội địa Trung Quốc có thể không còn nhiều.

Giá HRC tại ASEAN không đổi ở mức $529/tấn CFR Việt Nam.

Giá chào cho HRC Indonesia giữ ở mức $532/tấn CFR Việt Nam, trong khi thị trường Việt Nam khá trầm lắng do người mua đang chờ các nhà sản xuất thép trong nước công bố giá chào mới hàng tháng vào đầu tháng 11. Dự kiến các mức giá này sẽ ổn định hoặc giảm nhẹ do xu hướng suy yếu trong khu vực những tuần gần đây. Giá HRC ASEAN do Argus đánh giá đã giảm $12/tấn so với mức $541/tấn ngày 8/10, xuống còn $529/tấn.

Tóm tắt hoạt động thị trường

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào cho HRC mác Q195 ở mức $490/tấn CFR Việt Nam

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào cho HRC mác Q235 ở mức $500/tấn CFR Việt Nam

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào cho HRC mác Q235 ở mức $482/tấn FOB Trung Quốc

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào cho HRC mác SS400 ở mức $500/tấn FOB Trung Quốc

HRC - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Nam Trung Quốc báo giá chào cho HRC mác Q235 ở mức $490/tấn FOB Trung Quốc

HRC - ASEAN: Nhà máy tại Việt Nam báo giá chào cho mác SAE1006 nguồn gốc Indonesia ở mức $532/tấn CFR Việt Nam

Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo mức giá tham chiếu cho HDG mác SGCC ở mức $600/tấn FOB Trung Quốc

HDG - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Nam Trung Quốc báo giá chào cho HDG mác SGCC ở mức $554/tấn FOB Trung Quốc

Thép cuộn cán nguội (CRC) - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kông báo mức giá tham chiếu cho CRC mác SPCC ở mức $550/tấn FOB Trung Quốc

Thép dài Châu Á - Thái Bình Dương: Giá nội địa và xuất khẩu của Trung Quốc đi ngược chiều

Giá thép dài nội địa Trung Quốc phục hồi nhẹ do tồn kho giảm, nhưng giá xuất khẩu lại giảm do nhu cầu nước ngoài yếu và triển vọng thị trường tiêu cực.

Thép thanh vằn (Rebar)

Giá thép thanh vằn giao tại kho ở Thượng Hải tăng 10 NDT/tấn ($1,50/tấn) lên 3.080 NDT/tấn hôm nay, trong khi giá thép thanh vằn tương lai giao tháng 1 tăng 15 NDT/tấn lên 3.056 NDT/tấn.

Các bên tham gia thị trường cho biết tồn kho thép thanh vằn của thương nhân và nhà máy Trung Quốc tuần này đã giảm 250.000 tấn so với tuần trước xuống còn 4,97 triệu tấn. Mức tồn kho này thấp hơn 15-20% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu tiêu thụ thép thanh vằn cũng tăng 50.000 tấn so với tuần trước lên 2,06 triệu tấn. Tâm lý thị trường cải thiện nhẹ, các thương nhân đã tăng giá chào thép xây dựng thêm 10-20 NDT/tấn trong ngày hôm nay.

Tuy nhiên, triển vọng thị trường vẫn tiêu cực khi mùa thấp điểm mùa đông đang đến gần. Các nhà máy Trung Quốc đã cắt giảm giá chào xuất khẩu cho các lô hàng giao tháng 11 và tháng 12.

Đánh giá giá thép thanh vằn FOB Trung Quốc đã giảm $1/tấn xuống $474/tấn trên cơ sở trọng lượng lý thuyết. Các thương nhân Trung Quốc đã hạ giá chào xuất khẩu thép thanh vằn xuống $505-510/tấn CFR Singapore (trọng lượng lý thuyết) vào cuối tuần này, so với mức $510-515/tấn hồi đầu tuần. Hầu hết các nhà máy đang chào bán thép thanh vằn giao hàng tháng 12, thời điểm tiêu thụ nội địa thường bước vào mùa thấp điểm. Giá than cốc và than mỡ dự kiến sẽ giảm trong hai tháng tới khi nhiều mỏ ở Sơn Tây khôi phục sản xuất. Các thành viên thị trường nhận định các nhà máy có thể cân nhắc bán ở mức giá thấp hơn cho các đơn hàng giao xa, do khả năng cao chi phí nguyên liệu đầu vào sẽ giảm trong mùa đông.

Thép cuộn dây (Wire rod) và Phôi thép (Billet)

Đánh giá giá thép cuộn dây FOB Trung Quốc giảm $1/tấn xuống $493/tấn.

Một nhà máy lớn ở miền bắc Trung Quốc chào bán thép cuộn dây SAE1008 ở mức $504/tấn FOB. Tuy nhiên, nhà máy này đã giảm giá chào cho thép cuộn dây mác Q195 chất lượng lưới kéo (mesh-quality) xuống $6/tấn so với đầu tuần, còn $488/tấn FOB cho kỳ hạn giao tháng 11 và tháng 12. Giá thép cuộn dây nội địa Trung Quốc duy trì vững trong hôm nay, nhưng áp lực giảm giá có thể sẽ tăng lên trong những tháng tới khi tiêu dùng nội địa chậm lại.

Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn không đổi ở mức 2.900 NDT/tấn. Một nhà máy miền bắc Trung Quốc hôm nay chào bán phôi thép Q235 kích thước 150mm ở mức $457/tấn FOB cho đợt giao hàng tháng 12. Một nhà máy khác ở đông bắc Trung Quốc chào bán phôi thép 5sp 150mm ở mức $499/tấn CFR Philippines, đã bao gồm $30/tấn cước vận tải và mức chênh lệch $5-10/tấn so với mác 3sp.

Tóm tắt hoạt động thị trường

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào phôi thép Q195 ở mức $457/tấn FOB Miền Bắc Trung Quốc

Phôi thép - ASEAN: Công ty thương mại Miền Bắc Trung Quốc báo giá chào phôi thép 5sp ở mức $499/tấn CFR Philippines

Thép thanh vằn - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào thép thanh vằn B500B ở mức $474/tấn FOB Miền Bắc Trung Quốc (trọng lượng lý thuyết)

Thép thanh vằn  - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào thép thanh vằn HRB400 ở mức $471/tấn FOB Miền Bắc Trung Quốc (trọng lượng lý thuyết)

Thép thanh vằn - Trung Quốc: Công ty thương mại Miền Đông Trung Quốc báo giá chào thép xây dựng HRB400 ở mức $517/tấn FOB Miền Bắc Trung Quốc (trọng lượng lý thuyết)

Thép thanh vằn - Trung Quốc: Công ty thương mại Hồng Kông báo giá chào thép thanh vằn B500B ở mức $502/tấn CFR Hồng Kông (trọng lượng thực tế)

Thép thanh vằn - Trung Quốc: Công ty thương mại Singapore báo giá chào thép thanh vằn B500B ở mức $510/tấn CFR Singapore (trọng lượng lý thuyết)

Thép thanh vằn - Trung Quốc: Công ty thương mại Singapore báo mức giá tham chiếu cho thép thanh vằn B500B ở mức $505/tấn CFR Singapore (trọng lượng lý thuyết)

Thép dẹt Iran: Xuất khẩu đình trệ, giá nội địa tăng

Hoạt động xuất khẩu thép dẹt của Iran tiếp tục bị ngưng trệ trong tuần này do lệnh phong tỏa của Mỹ và các hạn chế mới tại biên giới đường bộ. Các nhà sản xuất hiện tập trung vào bán hàng nội địa, nơi có biên lợi nhuận cao hơn.

Phôi dẹt (Slab)

Không có lô hàng phôi dẹt mới nào được chào bán xuất khẩu trong tuần này. Các người mua Châu Á vắng bóng do các gián đoạn logistics mới phát sinh, cước phí vận tải tăng cao và rủi ro an ninh.

Các nhà sản xuất đã bán 61.500 tấn phôi dẹt tại thị trường nội địa với giá 1.031.837 IR/kg xuất xưởng (khoảng $413/tấn xuất xưởng), tăng từ mức 948.888 IR/kg một tuần trước đó. Bên cung cấp đã từ chối các mức giá hỏi mua (bids) dưới $430-435/tấn FOB/FCA và tiếp tục tập trung vào thị trường trong nước.

Thép dẹt

Giá nội địa tăng do kỳ vọng chi phí nguyên liệu đầu vào tăng và sản lượng giảm trong mùa đông.

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa tăng, được hỗ trợ bởi nguồn cung thắt chặt và không có nguồn hàng nhập khẩu. Các nhà sản xuất không đưa ra giá chào xuất khẩu mới bằng đồng USD. Các lô hàng HRC gần đây nhất sang Iraq được đàm phán ở mức $545-560/tấn FCA tại các điểm biên giới, nhưng việc đóng cửa biên giới đã khiến các giao dịch tiếp theo gặp khó khăn.

Thép cuộn cán nguội (CRC) ổn định ở mức $805-840/tấn xuất xưởng, tùy thuộc vào độ dày. Thép cuộn mạ kẽm bán trong nước ở mức $809-986/tấn, cao hơn các lô hàng nhập khẩu vốn được chào ở mức $720/tấn FOB Trung Quốc.

Các mức giá chào xuất khẩu ống thép không khả thi do giá nội địa tăng. Ống thép có độ dày từ 2mm trở lên có giá 1.770.000-1.800.000 triệu IR/kg đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT), tăng từ mức 1.700.000 triệu IR/kg tuần trước.

Thép hình (Profiles) được chào ở mức $630-640/tấn FCA, tăng từ $610-620/tấn một tuần trước, nhưng mức giá này không khả thi đối với người mua.

Tại thị trường xuất khẩu, các sự cố gián đoạn mới đã được ghi nhận tại đường biên giới với Pakistan và Iraq. Việc lưu thông sang Pakistan diễn ra ngắt quãng, trong đó ưu tiên được cho là dành cho khí hóa lỏng (LPG) và lương thực. Các bên tham gia thị trường cũng nhận được thông báo từ Oman rằng hoạt động chuyển tải đã ngừng trệ.

HRC Vương quốc Anh: Thị trường trầm lặng

Hoạt động giao dịch trên thị trường thép cuộn cán nóng (HRC) Vương quốc Anh vẫn trầm lắng trong tuần này, do người mua chưa cảm nhận được áp lực thắt chặt nguồn cung.

Đánh giá giá HRC hàng tuần tại Anh không đổi ở mức £705/tấn DDP West Midlands.

Một thương nhân cho biết người mua hiểu rằng nguồn hàng vẫn luôn sẵn có nên họ không vội vàng đặt hàng. Các lô hàng đã được bán ở mức khoảng £700/tấn giao tận nơi (delivered), nhưng nhu cầu vẫn chậm do mức tồn kho cao. Một nguồn tin cho biết họ không thu mua hàng từ Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Ấn Độ do sự không chắc chắn xung quanh hạn ngạch thuế quan.

Mặc dù nhu cầu yếu, các thành viên thị trường vẫn kỳ vọng giá HRC sẽ tăng đáng kể vào năm tới. Một nguồn tin nhận định giá có thể tăng vào cuối quý 1 hoặc trong quý 2 năm 2027 do nguồn cung thắt chặt hơn.

Hạn ngạch tự vệ nghiêm ngặt hơn của EU được áp dụng từ ngày 1/7 dự kiến sẽ làm tăng doanh số bán hàng nội địa của các nhà máy EU, làm giảm khả năng xuất khẩu sang Anh và hỗ trợ giá HRC tại Anh đi lên.

Số dư hạn ngạch hiện tại sẵn có cho nhập khẩu HRC vào Anh từ EU là 96.293 tấn. Mức này cao hơn số dư đầu kỳ 93.750 tấn vì bao gồm 35.154 tấn được chuyển sang vào ngày 28/10 từ kỳ hạn ngạch trước đó.

Ngân sách Vương quốc Anh công bố ngày 28/10 không bao gồm kiến nghị của Hiệp hội Thép Anh (UK Steel) về cơ chế điều chỉnh giá điện bán buôn nhằm đưa giá điện công nghiệp của Anh tiệm cận hơn với các thị trường cạnh tranh ở Châu Âu.

HRC Châu Âu: Giới doanh nghiệp Ý thảo luận về lo ngại nguồn cung

Giá thép Châu Âu tiếp tục tăng trong ngày nhờ nguồn cung thắt chặt. Các nhà máy hiện đang chọn lọc đơn hàng và không vội bán ra vì sản lượng tháng 12 thực tế đã bán hết đối với hầu hết các đơn vị.

Tại Ý, các cuộc thảo luận tập trung vào phán quyết của Tòa Phá án Ý khi bác bỏ nỗ lực mới nhất của nhà sản xuất thép Acciaierie d'Italia (ADI) nhằm giữ cho công đoạn luyện kim nóng (hot-end) hoạt động. Người mua bày tỏ lo ngại về nguy cơ độc quyền thị trường bởi một vài nhà cung cấp, khiến các lựa chọn mua hàng ngày càng hạn chế và đắt đỏ, trong khi nhu cầu của người tiêu dùng cuối chưa có dấu hiệu khởi sắc.

Nhà sản xuất tích hợp một thời này giờ đây có thể chuyển thành một cơ sở cán thép, với một vài đơn vị trên thị trường đã sẵn sàng ký hợp đồng gia công để sử dụng các dây chuyền cán của ADI. Phôi dẹt đã được đặt mua cho mục đích này, nhưng tại thời điểm viết bài, chưa có thỏa thuận chính thức nào được ký kết giữa các bên.

Chỉ số HRC Tây Bắc Châu Âu tăng €1/tấn lên €753,5/tấn xuất xưởng, trong khi chỉ số HRC nội địa Ý tăng €0,75/tấn lên €743,5/tấn xuất xưởng.

Tại Ý, một nhà sản xuất trước đó vắng bóng đã bắt đầu phát giá tham chiếu €780-790/tấn giá cơ sở giao tận nơi cho sản lượng tháng 1.

"Họ thực sự không vội bán. Mức giá cơ sở €760/tấn giao tận nơi từ các nhà máy đã được củng cố, và giờ nhà sản xuất này đang thử nghiệm các mức giá mới cao hơn," cùng người tham gia thị trường này cho biết. Một nguồn tin từ nhà máy không đồng tình với đánh giá này, cho rằng các mức chào giá €760/tấn giá cơ sở giao tận nơi hiện ít nhận được sự quan tâm, vì các đợt bán hàng gần đây đại diện cho nhà máy này gần hơn với mức €740-750/tấn giá cơ sở giao tận nơi cho phần sản lượng còn lại của tháng 12. Các giao dịch khác được chốt trong 10 ngày qua đã hoàn tất ở mức khoảng €750/tấn giá cơ sở giao tận nơi.

Các cuộc đàm phán giá giao ngay cho quý 1 diễn ra với tốc độ chậm do các nhà cung cấp ưu tiên hoạt động hợp đồng dài hạn.

Trên cơ sở DDP, giá được ghi nhận ở mức €730-750/tấn DDP, ổn định trong tuần và hiện ít thay đổi. "Không còn nhiều hàng ở cảng, điều này ngày càng trở nên không quá quan trọng, bạn có thể mua các lô 300-400 tấn nhưng với bất kỳ lô hàng nào lớn hơn, bạn phải tìm ở nơi khác," một người mua bình luận.

Ở phía Bắc, mức giá cơ sở €770-800/tấn giao tận nơi đã được đưa ra cho người mua, một nhà máy khác cũng vừa quay lại thị trường gần đây sau một thời gian gián đoạn ngắn với mức giá €780/tấn giá cơ sở giao tận nơi. Một thương nhân giao dịch với nhà máy này cho biết họ nhận được mức giá €770/tấn giá cơ sở xuất xưởng. Các giao dịch gần đây được báo cáo chốt ở mức €760/tấn giá cơ sở giao tận nơi cho sản lượng tháng 1 với khối lượng 1.000-3.000 tấn.

Về nhập khẩu, hàng Đài Loan đã bán ở mức €790/tấn DDP, với giá từ Nhật Bản và Hàn Quốc ở mức tương đương. Trong quý 1, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ cạnh tranh cho phần hạn ngạch còn lại, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ đưa vào khoảng 300.000 tấn và Ấn Độ chỉ dưới 200.000 tấn.

Phôi dẹt thương mại: Nguồn cung hạn chế nâng đỡ mặt bằng giá

Giá phôi dẹt thương mại (merchant slab) nhìn chung ổn định trong tuần này do nguồn cung hạn chế từ các nhà cung cấp chính đã bù đắp cho sự sụt giảm giá nguyên liệu thô ngành thép và tâm lý thận trọng tại một số thị trường sản phẩm thép dẹt thành phẩm.

Đánh giá giá phôi dẹt thương mại hàng tuần CFR Ý và FOB Biển Đen đều đi ngang, lần lượt ở mức $580/tấn và $470/tấn.

Các nhà cung cấp Châu Á cho thấy ít thiện chí giảm giá. Một nhà sản xuất lớn của Indonesia giữ giá chào ở mức $478/tấn FOB, không đổi so với tuần trước, trong khi một nhà sản xuất Đài Loan đưa ra mức giá $545-550/tấn FOB, đều cho kỳ hạn giao hàng tháng 1, với lý do nguồn cung hạn chế và lượng hàng còn lại để bán không nhiều.

Người mua Châu Âu thừa nhận rằng các mức giá chào phôi dẹt từ Châu Á phần lớn không đổi, với hàng Trung Quốc và Việt Nam được nghe ngóng chào bán ở mức khoảng $590/tấn CFR Ý cho kỳ hạn giao hàng quý 1, mặc dù các bên tham gia thị trường cho rằng mức giao dịch thực tế khoảng $580/tấn CFR có thể đạt được thông qua thương lượng. Phôi dẹt Algérie được báo cáo sẵn có ở mức khoảng $610/tấn CFR. Không có phôi dẹt Thổ Nhĩ Kỳ nào được chào bán sang Châu Âu trong tuần qua.

Các bên tham gia tiếp tục chỉ ra sự khác biệt đáng kể về chi phí CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) giữa các nhà cung cấp, góp phần tạo ra dải giá chào bán rộng trên thị trường.

Việc khôi phục hạn ngạch nhập khẩu phôi dẹt Nga của EU vào đầu tháng này không có nhiều tác động đến các yếu tố cơ bản của thị trường chung. Các bên tham gia thị trường cho biết nguồn hàng của Nga vẫn sẵn có nhưng không kích hoạt bất kỳ sự điều chỉnh thị trường đáng kể nào, vì hầu hết được cung cấp cho nhu cầu nội bộ giữa các công ty chứ không bán ra thị trường thương mại. Bên cạnh đó, khi hoạt động vận tải Biển Đen vẫn ngưng trệ, lượng hàng được vận chuyển ít hơn nhiều. Điều tương tự cũng được ghi nhận trong doanh số bán phôi dẹt của Nga sang Thổ Nhĩ Kỳ: mặc dù giá vẫn được nghe ở mức khoảng $510-515/tấn CFR, nhu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn trầm lắng trong bối cảnh thị trường thép dẹt yếu ớt và hành vi mua hàng thận trọng, dù không có sự suy giảm tâm lý quá lớn so với các tuần trước.

Xuất khẩu phôi dẹt của Iran tiếp tục bị hạn chế bởi những gián đoạn logistics và lợi nhuận tốt hơn từ thị trường nội địa.

Tại Ý, phôi dẹt dùng cán thép tấm được chào ở mức $590/tấn CFR cho kỳ hạn giao tháng 1, một nhà máy lưu ý rằng mức chiết khấu khoảng $10/tấn có thể đạt được khi đàm phán. Trong khi giá phôi dẹt nhìn chung ổn định, đồng euro suy yếu đã làm tăng đáng kể chi phí thực tế của các lô hàng nhập khẩu định giá bằng USD đối với người mua Châu Âu. Các nhà cán lại cho biết biên lợi nhuận ngày càng chịu nhiều áp lực do giá thép thành phẩm không tăng đủ để bù đắp chi phí thay thế phôi dẹt cao hơn, buộc người mua phải đàm phán gay gắt cho các đơn hàng mua trong quý 1.

Giá chào từ Việt Nam ở mức khoảng $590/tấn CFR Ý, trong khi từ Indonesia mức giá khởi điểm thấp hơn một chút. Phôi dẹt Algérie được ghi nhận ở mức trên $600/tấn CIF. Các nhà máy và thương nhân không thấy thiếu các yêu cầu báo giá, trong đó người mua đặc biệt thiết tha chốt các đơn hàng cập cảng vào quý 1. "Nhiều người tham gia thị trường hơn để nắm bắt giá cả và tình hình, nhưng hãy chờ xem liệu họ có thực sự nghiêm túc mua hay không," một thương nhân cho biết.

Giá thép tấm nặng nội địa Ý được ghi nhận ở mức €740-750/tấn giá cơ sở xuất xưởng cho mác S275.

Một nhà cung cấp lớn của Brazil đã hoàn tất các hợp đồng bán hàng ở mức $575-585/tấn FOB trong tuần trước và được hiểu là đã gần như cạn kệt nguồn hàng cho kỳ hạn giao tháng 12. Các mức giá chào được duy trì ở mức $580-590/tấn FOB với khối lượng còn lại rất hạn chế.

Thép dẹt Brazil: Tâm lý yếu ớt triệt tiêu các yếu tố hỗ trợ

Giá nhập khẩu thép dẹt tại Brazil diễn biến trái chiều trong tuần này, khi lượng tồn kho cao và tâm lý thị trường yếu hơn đã triệt tiêu các yếu tố thị trường cơ bản vốn mang tính hỗ trợ tăng giá.

Đánh giá giá HRC xuất xưởng tại Brazil đã tăng lên 3.600-3.800 Real/tấn (tấn mét) từ mức 3.600-3.700 Real/tấn trước đó, do các nhà phân phối báo cáo không có đợt chiết khấu lớn nào vào cuối tháng như các tháng trước. Việc thiếu nguồn hàng giảm giá đã hỗ trợ các tín hiệu thị trường vững chắc hơn mặc dù nhu cầu còn yếu.

Các nhà máy cũng thông báo kế hoạch tăng giá 5-10% trong tháng 11, với lý do đồng USD tăng giá so với đồng Real Brazil và chi phí vận tải nội địa tăng cao. Tuy nhiên, người mua vẫn hoài nghi về khả năng đợt tăng giá này được chấp nhận, vì nhu cầu hạ nguồn ảm đạm và sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu tiếp tục gây áp lực lên thị trường.

Đồng Real của Brazil suy yếu so với đồng USD sau khi ông Luiz Inácio Lula da Silva tái cử, làm tăng chi phí thay thế cho thép nhập khẩu và củng cố thêm lý do tăng giá của các nhà máy.

Các bên tham gia thị trường cho biết kết quả bầu cử đã làm suy yếu tâm lý chung vì phần lớn khối công nghiệp đã kỳ vọng vào một chính quyền thân thiện với thị trường hơn, sẵn sàng cắt giảm chi tiêu công. Nợ công ở mức cao đã giữ lãi suất ở mức cao, làm nhụt chí đầu tư vào các ngành tiêu thụ thép.

Giá thép cuộn cán nguội (CRC) nội địa giảm xuống R$4.300-4.550/tấn từ mức R$4.400-4.550/tấn một tuần trước đó. Mặc dù các nhà máy đang tìm cách tăng giá, hoạt động thị trường giao ngay trầm lắng tiếp tục tạo đà cho các mức giá giao dịch thấp hơn, các nguồn tin cho biết.

Đánh giá thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) xuất xưởng tại Brazil không đổi ở mức R$4.450-4.750/tấn, do các nhà máy giữ giá chào ổn định, theo các trung tâm dịch vụ và nhà phân phối. Một người mua báo cáo có các lô hàng chiết khấu ở mức thấp hơn, nhưng những lô này bao gồm hỗn hợp các quy cách tiêu chuẩn và không tiêu chuẩn nên đã bị loại khỏi đánh giá giá.

Nhập khẩu

Đánh giá giá HRC nhập khẩu CFR Brazil không đổi ở mức $610-620/tấn mét, do đồng Real suy yếu đã làm giảm sức cạnh tranh của các chào giá đường biển, hạn chế sự quan tâm mua hàng. Các mức giá chào cao hơn từ Ai Cập ở mức $660-670/tấn CFR đã bị loại khỏi đánh giá vì là mức giá ngoại lệ .

Đánh giá giá CRC nhập khẩu tăng tuần thứ hai liên tiếp lên $730-750/tấn CFR Brazil, từ mức $700-730/tấn một tuần trước. Các nhà nhập khẩu đã phải nâng giá hỏi mua lên tới $735/tấn để đàm phán các mức giá chào $750/tấn CFR từ Việt Nam.

Mức tăng giá xuất khẩu mạnh tại Việt Nam đã hỗ trợ các mức giá CFR cao hơn tại Brazil trong những tuần gần đây, bất chấp nhu cầu chậm chạp. Quốc gia Đông Nam Á này đã trở thành nhà cung cấp CRC chính cho Brazil sau khi các mức thuế chống bán phá giá đẩy hàng Trung Quốc ra khỏi thị trường.

Giá HDG nhập khẩu giảm xuống $790-820/tấn CFR từ mức $800-830/tấn một tuần trước, do các mức giá chào dưới $800/tấn xuất hiện trở lại sau hai tuần trầm lắng đối với loại mạ z100. Người mua không cho thấy sự gấp giáp trong việc chốt đơn hàng mới, khiến các nhà cung cấp phải tạm thời hạ giá để hoàn tất các lô hàng ghép chung với các sản phẩm thép khác.

Thép dài Iran: Giá chào vững do nguồn cung thắt chặt

Các mức giá chào xuất khẩu phôi thép của Iran vẫn vững trong tuần này do nguồn cung thắt chặt, giá nội địa cao hơn và chi phí tăng khiến các nhà sản xuất không chấp nhận bán dưới mức $420/tấn FOB/FCA. Khối lượng xuất khẩu vẫn bị hạn chế do sản lượng thấp, nhu cầu nội địa mạnh và các quy định về hồi thu ngoại tệ đã giữ hầu hết các thương nhân đứng ngoài thị trường.

Phôi thép (Billet)

Giá phôi thép nội địa trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Iran (IME) đã tăng lên 1.033.000-1.055.000 IR/kg ($413-422/tấn) xuất xưởng, từ mức 1.004.550-1.015.000 IR/kg một tuần trước đó. Cầu vượt cung, và hầu hết các nhà sản xuất đã giảm hoặc ngừng chào bán phôi thép, chủ yếu sử dụng nguyên liệu cho các hoạt động cán lại của chính mình. Chỉ có một vài nhà máy là tích cực bán ra.

Sự sẵn có của phôi thép bị hạn chế do khả năng tiếp cận nguyên liệu thô khó khăn, bao gồm điện cực than chì và vật liệu chịu lửa. Giá quặng viên (pellet) và sắt xốp (DRI) cũng tăng, và các nhà máy đã được thông báo rằng nguồn cung điện và khí đốt sẽ bị thắt chặt trong mùa đông này. Các nhà sản xuất dự kiến giá phôi thép và các sản phẩm thép dài sẽ tăng trong những tuần tới.

Một vài giao dịch ít ỏi đã được hoàn tất cho phôi thép 130-150mm ở mức $417-420/tấn FOB để giao đến Oman và UAE. Các bên tham gia thị trường cũng nghe ngóng về các hạn chế có thể áp dụng đối với việc chuyển tải từ các cảng Oman trong tháng 11 tuần này.

Một vài lô hàng phôi thép đã bán ở mức $420-430/tấn FCA tại biên giới Iraq, trong khi một lô khác chào bán phôi thép 3SP Mn60+ ở mức $430-435/tấn FCA tại biên giới Mahirod (Afghanistan). Các nhà xuất khẩu đã giao các lô hàng đến Iraq để tái xuất sang Jordan và Syria, và đến Afghanistan để bán tiếp sang các nước CIS.

Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể thực hiện thông qua tờ khai quan của các nhà sản xuất thép, trong khi các thương nhân vẫn đứng ngoài cuộc, một nguồn tin thị trường cho biết. Các nhà sản xuất đã từ chối bán dưới mức $417-420/tấn FOB/FCA, do biên lợi nhuận nội địa cao hơn.

Xuất khẩu sang các thị trường Châu Á và Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục đình trệ trong những tuần qua, do các đơn vị trên thị trường gặp phải rủi ro cao hơn và chỉ báo cước phí vận tải từ các chủ tàu không khả thi.

Thép dài (Longs)

Các mức giá chào xuất khẩu thép xây dựng (rebar) vẫn hạn chế. Một vài nhà cung cấp đã chào bán các lô thép xây dựng ở mức $435-450/tấn xuất xưởng, tăng từ mức $425-450/tấn một tuần trước. Thép xây dựng B500B được chào ở mức $440-460/tấn xuất xưởng. Hoạt động xuất khẩu sang Uzbekistan, Afghanistan, Iraq và Armenia diễn ra tích cực, nhưng các bên tham gia lo ngại biên giới Iraq có thể sớm đóng cửa và đang tất bật bốc xếp các cam kết trước đó. Việc lưu thông sang Pakistan diễn ra ngắt quãng, trong đó ưu tiên dành cho các chuyến giao khí hóa lỏng (LPG) và thực phẩm.

Giá thép xây dựng nội địa tăng theo giá phôi thép. Các nhà cung cấp đã bán thép xây dựng ở mức 1.140.000-1.190.000 IR/kg (khoảng $455-460/tấn) xuất xưởng trong tuần này.

Giá chào xuất khẩu thép cuộn dây (wire rod) mỏng ở mức $485-490/tấn FCA tại các điểm biên giới, tăng từ khoảng $485/tấn một tuần trước.

Giá thép Brazil khó có khả năng tăng: Nhận định từ Inda

Các nhà máy ở Brazil có thể sẽ thất bại trong việc tăng giá thép dẹt trong ba tháng tới do nhu cầu hạ nguồn chậm chạp và mức tồn kho cao tại kho của các trung tâm dịch vụ và thương nhân, Hiệp hội các nhà phân phối thép (Inda) cho biết.

Các thành viên của Inda đã nắm giữ 1,18 triệu tấn mét (t) tồn kho thép dẹt trong tháng 9, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Vòng quay tồn kho chốt ở mức 3,5 tháng doanh số, cao hơn mức 2,9 tháng thường được coi là lành mạnh. Các số liệu này không bao gồm tồn kho do các nhà nhập khẩu và nhà phân phối lớn không phải là thành viên của Inda nắm giữ.

Các nhà máy lớn của Brazil đã bắt đầu thảo luận về việc tăng giá tháng 11 với khách hàng. Mức tăng đề xuất dao động từ 5-10%, tùy thuộc vào nhà sản xuất và dòng sản phẩm. Tuy nhiên, Chủ tịch điều hành Inda, ông Carlos Jorge Loureiro, cho biết các nhà phân phối khó có khả năng chấp nhận toàn bộ mức tăng này vì tồn kho vẫn ở mức cao và nhu cầu dự kiến sẽ yếu hơn nữa trước đợt giảm tốc mang tính mùa vụ vào cuối năm.

Các trung tâm dịch vụ tiếp tục ưu tiên giảm tồn kho và khó có khả năng đặt các đơn hàng mới lớn khi mùa mưa và kỳ nghỉ lễ làm hạn chế mức tiêu thụ thép. Ông Loureiro cho biết các nhà máy có thể sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện tăng giá ngay cả trong tháng 1, thời điểm họ theo truyền thống thường thông báo tăng giá trên khắp các dòng sản phẩm thép dẹt.

Nếu thị trường không cải thiện vào tháng 10, ông cho biết, các nhà phân phối sẽ có rất ít động lực để bổ sung tồn kho trong những tháng cuối năm vốn thường chậm hơn.

Các thành viên của Inda đã bán được 335.800 tấn thép dẹt trong tháng 9, giảm 7,2% so với mức 361.700 tấn của một năm trước, trong khi lượng thu mua giảm 7,3% xuống 333.700 tấn từ mức 360.000 tấn.

Doanh số thép cuộn cán nóng (HRC) giảm 2,3% xuống 205.600 tấn trong tháng 9 từ mức 210.300 tấn một năm trước đó, trong khi lượng thu mua giảm 2,5% xuống 198.900 tấn từ mức 204.000 tấn. Doanh số thép cuộn cán nguội (CRC) giảm 5,9% xuống 39,600 tấn trong tháng 9 từ mức 42.100 tấn một năm trước, mặc dù lượng thu mua tăng 3,1% lên 41.000 tấn.

Doanh số thép mạ kẽm giảm 17,2% xuống 70.400 tấn trong tháng 9 từ mức 85.000 tấn, trong khi lượng thu mua giảm 17,8% xuống 72.900 tấn từ mức 88.700 tấn. Doanh số thép tấm nặng giảm 17% xuống 20.200 tấn từ mức 24.400 tấn, trong khi lượng thu mua giảm 23,8% xuống 20.900 tấn trong tháng 9 từ mức 27.500 tấn của một năm trước đó.

Inda dự kiến doanh số tháng 10 sẽ giảm 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái, củng cố thêm định hướng của các nhà phân phối là tập trung vào việc giảm tồn kho thay vì tích trữ lại kho trong phần còn lại của năm.

Tồn kho cao tiếp tục phản ánh sự lệch pha giữa nguồn cung thép và nhu cầu thực tế. Tồn kho HRC tăng 10,1% lên 741.100 tấn trong tháng 9 so với một năm trước đó, tồn kho thép mạ kẽm tăng 15,4% lên 206.800 tấn, và tồn kho thép cán nguội cùng thép mạ phủ tăng 3,6% lên 56.200 tấn. Tồn kho thép tấm nặng giảm 1% xuống 175.800 tấn so với cùng kỳ năm trước.

CSC của Đài Loan tăng giá thép tấm AP tháng 12 trong khi ngừng chào giá dự án SN

Tập đoàn Thép Trung Quốc (CSC) — hôm nay (29/10) đã thông báo tới khách hàng về việc tăng giá 500 NTD/tấn cho các sản phẩm thép tấm AP tháng 12. Sau đợt điều chỉnh, giá niêm yết mới cho thép tấm AP đạt 27.400 NTD/tấn.

Đối với thép dự án SN490B, CSC đã không đưa ra giá chào hoặc hạn ngạch phân bổ cho tháng 12. Để so sánh, công ty đã ấn định giá thép dự án SN tháng 11 ở mức 28.800 NTD/tấn.

Yusco của Đài Loan tăng giá thép không gỉ dòng 304 cho tháng 11

Tập đoàn Thép Yieh United (Yusco) — nhà sản xuất thép không gỉ hàng đầu tại Đài Loan — hôm 29/10 đã công bố biểu giá thép không gỉ nội địa cho tháng 11. Nhà sản xuất này đã tăng giá thép cuộn cán nóng và cán nguội dòng 304 thêm 1.000 NTD/tấn, trong khi phụ phí cho dòng 316L và các sản phẩm dòng 430 vẫn giữ nguyên.

Quyết định này đánh dấu đợt tăng giá tháng thứ tư liên tiếp đối với các sản phẩm dòng 304, sau các đợt điều chỉnh tăng 1.500 NTD/tấn trong tháng 8 và tháng 9, và 1.000 NTD/tấn trong tháng 10.

Hỗ trợ nhu cầu đến từ việc mở rộng chi tiêu vốn trong ngành bán dẫn và hoạt động bổ sung tồn kho ở các ngành chế tạo truyền thống. Ngoài ra, chi phí vận tải cao hơn do giá dầu tăng và chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng vì đồng Tân Đài tệ mất giá đã làm gia tăng chi phí sản xuất, thúc đẩy việc điều chỉnh giá thép không gỉ.

 

Các nhà máy HRC Châu Âu đẩy giá lên cao bất chấp nhu cầu yếu và tồn kho cao – Nhận định từ WSD

Các nhà máy Châu Âu ngày càng trở nên tự tin hơn về khả năng tăng giá, mặc dù các mục tiêu cao hơn của họ vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. Trước thềm triển lãm EuroBLECH tại Hannover, một nhà sản xuất lớn đã cố gắng tăng giá chào HRC thêm khoảng €60/tấn. Tuy nhiên, động thái này không được các nhà máy khác hưởng ứng và gặp phải sự hoài nghi đáng kể từ người mua, những người đặt câu hỏi liệu thị trường có thể hấp thụ mức tăng như vậy trong điều kiện nhu cầu hiện tại hay không.

Bất chấp sự thành công hạn chế của đợt thử nghiệm này, các nhà sản xuất vẫn quyết tâm bảo vệ vị thế giá của mình. Các nhà máy đang dần nâng giá chào và không sẵn lòng chiết khấu, đặc biệt khi các cuộc đàm phán bắt đầu cho các hợp đồng nửa năm và hàng năm với các khách hàng lớn. Một số nhà sản xuất được cho là đã bán hết suất sản lượng  của quý 1 năm 2027, trong khi những nhà máy khác vẫn còn dư công suất cán hạn chế cho tháng 12.

Các nhà phân phối và trung tâm dịch vụ vẫn đang nắm giữ lượng tồn kho tích lũy đáng kể từ đầu năm, đặc biệt sau khi khối lượng lớn thép dẹt nhập khẩu được thông quan vào tháng 6 trước khi các hạn ngạch tự vệ nghiêm ngặt hơn được áp dụng vào tháng 7. Do mức tiêu thụ thực tế chưa phục hồi, việc giải phóng tồn kho đang mất nhiều thời gian hơn dự kiến.

Người mua đang hạn chế thu mua ở mức nhu cầu cấp thiết hoặc chỉ bù đắp các khoảng trống cụ thể trong danh mục sản phẩm của họ. Có rất ít hoạt động tích trữ mang tính đầu cơ trên thị trường, và các nhà phân phối vẫn ngần ngại tích lũy thêm nguyên liệu ở mức giá cao hơn trong khi tồn kho hiện tại của họ vẫn đủ dùng.

Sự kết hợp giữa hạn ngạch thuế quan (TRQ) và cơ chế CBAM đã khiến việc thu mua từ nước ngoài trở nên đắt đỏ và phức tạp hơn, trong khi chi phí vận tải cao hơn càng làm giảm sự hấp dẫn của chúng. Kết quả là, các nhà máy Châu Âu có vị thế đàm phán tốt hơn. "Tôi kỳ vọng họ sẽ đạt được mục tiêu. Người mua sẽ có ít lựa chọn ngoài việc quay lại thị trường nội địa. Đó chỉ là vấn đề thời gian, và tôi không nghĩ sẽ mất nhiều thời gian," một nhà phân phối Đức cho biết.

WSD dự báo giá HRC ở mức €760/tấn EXW Bắc Âu trong tháng 10 - tháng 11, với mức tăng tiếp theo lên €780–800/tấn vào cuối năm (mốc thời gian muộn hơn so với dự báo trước đó), do nhu cầu yếu làm trì hoãn đợt tăng giá tiếp theo. Giá tại EU hiện đang diễn biến như thể thị trường dư thừa nguồn cung, bất chấp khoảng trống nguồn cung cơ bản hàng triệu tấn mỗi quý do các quy định TRQ thắt chặt hơn. Việc tái khởi động các cơ sở sản xuất thép (với công suất ròng khoảng 8 triệu tấn) đã gặp phải nhu cầu hiển nhiên yếu, làm giảm hiệu suất sử dụng công suất và giữ giá không tăng nổi.

Tuy nhiên, sức mua yếu trong quý 3 đang kéo giảm tồn kho rất nhanh. Theo các ước tính sơ bộ, nhu cầu hiển nhiên đã giảm 11% so với cùng kỳ trong quý 3. Với việc hoạt động của người tiêu dùng cuối dự kiến chỉ giảm nhẹ (khoảng 1,0% so với cùng kỳ), điều này ngụ ý khoảng trống nguồn cung là 3,5 triệu tấn trong quý 3. Thời gian giao hàng kéo dài và rủi ro cao khiến việc nhập khẩu trở thành một lựa chọn không khả thi. Hơn nữa, khối lượng nhập khẩu đã trở nên có thể dự báo được do bị cố định chặt chẽ bởi các hạn ngạch.

Trong điều kiện này, nguồn cung nội địa là động lực chính của thị trường. Để thị trường cân bằng, cả nhu cầu hiển nhiên và sản lượng nội địa đều phải tăng trưởng. Sự tăng trưởng đó sẽ hỗ trợ giá cả và biên lợi nhuận nội địa vốn đã giảm xuống €157/tấn — mức thấp nhất kể từ tháng 1. Việc phục hồi mức biên lợi nhuận bình thường đòi hỏi mức tăng giá €30–40/tấn.

Giá quặng sắt tiếp tục chịu áp lực trong nửa cuối tháng 10

Trong nửa cuối tháng 10, giá quặng sắt tiếp tục chịu áp lực và kể từ giữa tháng, giá đã giảm xuống dưới ngưỡng $90/tấn.

Cụ thể, vào ngày 15 tháng 10, giá quặng sắt tương lai trên Sàn giao dịch Singapore đã giảm xuống $89,75/tấn (lần đầu tiên kể từ tháng 9 năm 2024), và vào ngày 27 tháng 10, giá có thời điểm rơi xuống $89,25/tấn trong ngày.

Giá quặng sắt (KORE 62% Fe/Qingdao) đứng ở mức $90,3/tấn CFR tính đến ngày 27 tháng 10. Trong vòng một tháng (so với ngày 25 tháng 8), giá đã giảm 6,1%.

Các chuyên gia phân tích lưu ý rằng thị trường quặng sắt hiện đang chịu áp lực bởi nhu cầu yếu tại Trung Quốc và sự gia tăng dự kiến về nguồn cung nguyên liệu thô này. Sự sụt giảm mang tính mùa vụ trong mức tiêu thụ thép vào hai tháng cuối năm (thời điểm quốc gia này đang tiến gần đến), biên lợi nhuận thấp của các nhà sản xuất thép và lượng tồn kho đáng kể tại các cảng đang kìm hãm hoạt động thu mua. Một yếu tố tiêu cực bổ sung là sự suy giảm kỳ vọng đối với nền kinh tế toàn cầu giữa lúc giá dầu ở mức cao.

Cùng lúc đó, các nhà sản xuất hàng đầu thế giới vẫn duy trì sản lượng khai thác và khối lượng giao hàng quặng sắt, trong khi việc nâng công suất sản xuất tại dự án Simandou ở Guinea đang làm gia tăng nguồn cung trong tương lai.

Sự hạ nhiệt rủi ro gián đoạn nguồn cung quặng sau khi đạt được các thỏa thuận giữa Tập đoàn Khoáng sản Trung Quốc (CMRG) và một số công ty khai khoáng lớn cũng làm giảm sự hỗ trợ đối với giá cả. Cụ thể, gần đây có thông tin cho biết Rio Tinto và CMRG cuối cùng đã ký kết một thỏa thuận cung cấp dài hạn. Hợp đồng bao gồm giai đoạn từ tháng 11 năm nay đến tháng 5 năm 2028.

Về phần mình, các bên tham gia thị trường cũng tính đến khả năng giá quặng sắt tương lai tiếp tục giảm trong tháng 11. Theo quan điểm của họ, nhu cầu yếu và chính sách hạn chế sản lượng thép của Trung Quốc sẽ cản trở sự phục hồi trong mức tiêu thụ nguyên liệu thô này.

Vào đầu tháng 10, thị trường quặng sắt tại Trung Quốc đặc trưng bởi nhu cầu vừa phải sau kỳ nghỉ lễ. Nhìn chung, sự gia tăng nguồn cung nguyên liệu thô này dự kiến sẽ diễn ra trong quý IV, gây áp lực lên giá cả.