TỔNG HỢP THỊ TRƯỜNG TUẦN 43 (26/10-31/10)
I/MẢNG KẾT CẤU
Giao dịch thép kết cấu tiếp tục chậm, giá tuần này tiếp tục giảm thêm 100-200đ/kg, kéo mặt bằng bình quân về khoảng 15.300-15.400đ/kg. Nhu cầu tháng đầu quý 4 thấp hơn cùng kỳ năm ngoái, và nguyên nhân không nằm ở việc thiếu nhu cầu mà ở khả năng thanh khoản của các dự án.
Dòng tiền giải ngân hiện tập trung mạnh quanh các đại dự án, bên hưởng lợi chủ yếu là các nhà thầu lớn. Báo chí liên tục đưa tin về nhóm dự án này, nhưng nhìn xuống các dự án quy mô nhỏ và trung bình thì bức tranh khác hẳn. Nhu cầu cần hàng vẫn hiện hữu, nhưng hầu như không có dự án nào đủ tiền để giải ngân ngay. Dòng tiền không luân chuyển được trong mảng này, khiến nhu cầu bị kéo giãn ra dài hơn và giao dịch kém đi trong ngắn hạn.
Về chi phí vốn, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay khoảng 0,5-2,0%. Thông tin này được báo đài đăng tải từ hơn 2 tuần trước, nhưng thực tế nhiều đơn vị vẫn chưa được áp dụng và đang chịu mức lãi suất cũ. Khoảng cách giữa chủ trương và thực tế khiến áp lực tài chính của nhóm khách hàng nhỏ và vừa chưa được giải tỏa.
Nhìn chung, thị trường đang ở trạng thái có nhu cầu nhưng thiếu tiền, nên người mua và người bán đều thận trọng, chờ các chính sách hỗ trợ từ phía Chính phủ phát huy tác dụng. Các dự án vẫn đang được triển khai, và giới thương mại kỳ vọng sức mua sẽ cải thiện rõ hơn từ tháng 12.
II/ MẢNG TÔN – ỐNG
Cạnh tranh trên thị trường tôn mạ chuyển sang giai đoạn khốc liệt hơn, khi các nhà máy buộc phải tung ưu đãi để kéo sức mua. Giá tăng liên tục gần 2 tháng qua đã tạo áp lực lên người mua hạ nguồn, nhu cầu thực tế yếu đi và không theo kịp mặt bằng giá mới. Gần đây Tôn Đông Á triển khai chương trình ưu đãi với các phần thưởng giá trị lớn theo lượng mua hàng, bên cạnh các khoản chiết khấu đã áp dụng từ trước.
Kết quả quý 3 của hai doanh nghiệp lớn công bố trong tuần cho thấy hai kết cục trái chiều. Thép Nam Kim đạt doanh thu 5.472 tỷ đồng, tăng 45% so với cùng kỳ, lãi sau thuế 127,66 tỷ đồng, tăng 157,7%, biên lợi nhuận gộp cải thiện từ 4,8% lên 9%. Ngược lại, Tôn Đông Á có doanh thu khoảng 4.500 tỷ đồng, tăng 22%, nhưng lãi ròng giảm 11% còn xấp xỉ 75 tỷ đồng, dù lợi nhuận gộp gấp đôi cùng kỳ ở mức 400 tỷ đồng. Chi phí bán hàng tăng 220% lên 214 tỷ đồng và chi phí tài chính tăng 43% lên 120 tỷ đồng, cùng với xuất khẩu gặp khó do các nước tăng chống bán phá giá.
Hai kết quả khác nhau nhưng cùng chỉ ra một điều: lợi nhuận gộp đang tốt nhờ giá bán đi nhanh hơn giá vốn trong giai đoạn giá tăng, còn phần lợi nhuận bị bào mòn ở khâu bán hàng và chi phí vốn. Khi giá đã đi trước sức mua, cái giá để giữ sản lượng sẽ còn cao. Quý 4 nhiều khả năng là cuộc đua ưu đãi hơn là cuộc đua giá niêm yết.
Về nguyên liệu đầu vào, nguồn HRC nhập khẩu diễn ra đều đặn. Giá chào Indonesia về Việt Nam giữ quanh 532-534 USD/tấn CFR, tuần này ghi nhận khoảng 2 tàu giao tháng 1. Đáng chú ý là chào từ nguồn này hiện đã sang giao tháng 2/2027, cho thấy room bán về Việt Nam cho tháng 1 đã hết. Sang tuần sau, các nhà máy nội địa sẽ chào giá mới nên lượng đặt hàng nội địa dự kiến sẽ tốt hơn.
III/ THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT QUỐC TẾ
Trung Quốc
Giá HRC xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục trượt nhẹ. Metal Expert đánh giá HRC 3-12mm ở 492 USD/tấn FOB ngày 29/10, giảm 5 USD so với 497 USD của tuần trước. Chào SS400 của các nhà máy lớn hạ còn 490-500 USD/tấn FOB (giảm 5-10 USD), nhà máy vừa còn 483-487 USD (giảm 3-5 USD), giao tháng 12-1. Giá giảm nhưng không kéo được cầu: giao dịch lắng xuống sau hai tuần đặt hàng khá sôi động, và một số nhà máy đã phải nhận đơn nội địa giá thấp vì bid nước ngoài còn quá thấp. Việt Nam chốt 10.000-15.000 tấn Q195 giá 495 USD/tấn CFR giao cuối tháng 12 để tái xuất, giá không đổi nhưng khối lượng thu hẹp so với 20.000-30.000 tấn tuần trước. Chào Q195 và Q235 vào Việt Nam giữ 498 và 505 USD/tấn CFR giao giữa tháng 12. Tại Pakistan, chào Q195 còn khoảng 500 USD/tấn CFR, giảm 4-5 USD.
Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE đóng cửa 3.192 NDT/tấn (khoảng 475 USD) ngày 29/10, thấp hơn 52 NDT so với 3.244 NDT ngày 21/10. Nhịp hồi cuối tuần đến từ lệnh hạn chế sản xuất môi trường tại Hàm Đan (Hà Bắc) từ 25-31/10, luân phiên dừng 26 lò cao, riêng đợt đầu ảnh hưởng khoảng 7.000 tấn gang/ngày. Tuy vậy, thương nhân cho biết giá đang gặp kháng cự và mùa thấp điểm đến gần nên đa số chọn đứng ngoài.
Nền cầu chưa có điểm sáng. Lợi nhuận nhóm luyện và cán thép 9 tháng giảm 73,3% so với cùng kỳ (NBS), trong khi lợi nhuận công nghiệp chung tăng 15,5%. Sản lượng thép thô bình quân ngày của các nhà máy CISA trong 11-20/10 giảm 2,3% còn 1,894 triệu tấn, đảo chiều mức tăng 3,1% của kỳ trước. Dù vậy, tồn kho thành phẩm tại nhà máy vẫn tăng 1,5% lên 17,22 triệu tấn, cao nhất hai tháng. Công suất lò cao của 247 nhà máy theo Mysteel còn 87,23%, tuần giảm thứ hai liên tiếp. Nhà máy đã cắt sản lượng mà tồn kho vẫn dày thêm, nên chào xuất khẩu khó tìm được lực đỡ.
Về nguyên liệu, quặng sắt 62% Fe dao động từ 91,5 USD/tấn CFR (27/10) lên 93,25 USD (29/10), bình quân thấp hơn vùng 93,5-93,75 USD tuần trước. Tồn kho quặng tại 47 cảng đạt 172,8 triệu tấn ngày 22/10, giảm 0,5% sau 5 tuần tăng liên tiếp nhưng vẫn cao hơn 13,1% so với cùng kỳ. Fortescue cho biết sản lượng bán 42,9 triệu tấn thấp hơn lượng vận chuyển 46,8 triệu tấn do đàm phán với CMRG chưa xong, và cảnh báo hoạt động có thể bị ảnh hưởng nếu không chốt trước cuối năm. Than cốc Úc giảm 3 USD xuống 267 USD/tấn FOB sau giao dịch Goonyella 75.000 tấn ngày 22/10. Trên DCE, than cốc tháng 1 tăng lên 1.427,5 NDT/tấn ngày 29/10 từ 1.410 NDT ngày 21/10, do lo ngại gián đoạn than Mông Cổ: tuyến Tavan Tolgoi - Manlai - Khangi bị đình chỉ từ 15/10, còn hành lang chính Gashuunsukhait - Ganqimaodu vẫn thông, trung bình hơn 710 xe/ngày.
Hàng đi Việt Nam: Metal Expert đánh giá HRC 2mm CFR Việt Nam ở 555 USD/tấn ngày 29/10, tăng 3 USD so với 552 USD tuần trước (đã chạm 557 USD hồi đầu tuần). Một thương nhân Việt Nam cho biết người mua đang chờ công bố giá của các nhà máy nội địa nên tuần này khó có biến động lớn.
Đài Loan
Hoạt động nhập khẩu phế liệu chậm lại khi thép thành phẩm yếu. Giao dịch 1.000 tấn phế HMS 1&2 (80:20) Mỹ đóng container ở 345 USD/tấn CFR, đi ngang so với tuần trước, chào khoảng 350 USD còn bid thấp hơn 345 USD. Nhà cung cấp không muốn giảm vì thị trường nội địa vững và cước cao, người mua thận trọng vì cầu thép dài yếu. Feng Hsin giữ giá thép cây 13mm ở 562 USD/tấn EXW. Ở mảng phôi, bên mua Đài Loan nâng bid phôi 3sp Trung Quốc lên 480 USD/tấn CFR nhưng chào ở 485-490 USD nên chưa chốt được đơn. Phôi hợp kim vanadi bid 510 USD CFR so với chào 515 USD, có tin chưa xác nhận về giao dịch phôi Nga cùng mức 510 USD.
Hàn Quốc
Hàn Quốc tiếp tục siết phòng vệ thương mại với nhóm thép mạ. Ủy ban Thương mại Hàn Quốc (KTC) đề xuất áp thuế chống bán phá giá chính thức 22,34-33,67% trong 5 năm với thép cán nguội mạ kẽm Trung Quốc, kèm cam kết giá cho 10 nhà xuất khẩu Trung Quốc. Đề xuất đã chuyển Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính ra quyết định cuối cùng, giữ nguyên mức thuế tạm thời áp từ 12/6/2026 và đã gia hạn đến 11/1/2027. Đây là bước kế tiếp sau quyết định thuế 27,91-34,1% với HRC Trung Quốc tuần trước. Trong khi đó, thép Hàn Quốc vẫn tìm được đầu ra: tháng 9 Hàn Quốc là nhà cung cấp lớn nhất vào Mỹ với 519.000 tấn (tăng 21% so với tháng 8), đồng thời là nguồn thép mạ lớn nhất vào Thổ Nhĩ Kỳ với 280.500 tấn trong 8 tháng. Sản lượng thép thô tháng 9 của Hàn Quốc tăng 3,6% lên 5,2 triệu tấn.
Nhật Bản
Xuất khẩu đang là điểm yếu của thép Nhật. Sản lượng thép thô tháng 9 đạt 6,34 triệu tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ, trong đó lò thổi giảm 3,2% còn 4,58 triệu tấn, lò điện tăng 7% lên 1,76 triệu tấn. Xuất khẩu giảm 7% còn 2,3 triệu tấn, giảm ở hầu hết các thị trường châu Á, mạnh nhất ở Trung Đông do chiến sự, trong khi hướng Mỹ và EU tăng. Nội địa vẫn vững nhờ ngành máy móc và xây dựng nhà. METI dự báo sản lượng quý IV tăng 2,3% lên 20,67 triệu tấn, quý tăng thứ ba liên tiếp, cả năm 81,16 triệu tấn, lần tăng đầu tiên từ năm 2021. Tại Việt Nam, hàng Nhật mất dần thị phần, đặc biệt ở phân khúc HRC: lượng nhập 9 tháng giảm 19,2% còn 1,366 triệu tấn, dù chào SAE1006 của Nhật và Ấn Độ đã tăng 5 USD lên 565-570 USD/tấn CFR. Nhật cũng chốt thuế chống bán phá giá chính thức với thép không gỉ cán nguội niken từ Trung Quốc (27,7-42,1%) và Đài Loan (3,6-20,1%), hiệu lực từ 31/10/2026 đến 30/10/2031.
Ấn Độ
Sản lượng tiêu thụ của các nhà máy Ấn Độ bật mạnh trong quý tháng 7-9, nhưng lợi nhuận trên mỗi tấn thì mỏng đi. SAIL bán 5,2 triệu tấn, tăng 27% so với quý trước (nội địa tăng 23%, xuất khẩu tăng 89% lên 89.000 tấn), được hỗ trợ bởi tâm lý mua gấp khi giá nội địa tăng trong tháng 8-9. JSW Steel bán 6,31 triệu tấn, tăng 20%, xuất khẩu tăng 43% lên 945.100 tấn. Jindal Steel nâng tỷ trọng sản phẩm dẹt lên 61% từ 53%, trong khi giá HRC nội địa duy trì xu hướng tăng. Tuy vậy, EBIT/tấn của SAIL giảm 15% còn 60 USD, JSW giảm 5% còn 96 USD và Jindal giảm 28% còn 54 USD. Chào SAE1006 Ấn Độ vào Việt Nam tăng 5 USD lên 565-570 USD/tấn CFR giao tháng 12-1 nhưng lượng chào hạn chế do mùa lễ hội.
Hàng Ấn Độ đang len mạnh vào thị trường Việt Nam. Nhập khẩu thép của Việt Nam 9 tháng đạt 11,58 triệu tấn, tăng 3,3%, trong đó lượng từ Ấn Độ vọt lên 992.841 tấn từ chỉ 12.249 tấn cùng kỳ năm trước. Indonesia và Đài Loan cùng tăng khoảng 27%. Trung Quốc giảm 8,8% còn 5,9 triệu tấn, thị phần tụt xuống 50,9% từ 57,7%, một phần do biện pháp bảo hộ HRC của Việt Nam. Nguyên nhân phía Ấn Độ gồm năng lực thép dẹt trong nước tăng, cùng việc bị cản trở ở thị trường EU (CBAM) và Trung Đông (logistics chiến sự).
Indonesia
Chào HRC SS400/SAE1006 dày 3mm của Indonesia vào Việt Nam giữ quanh 532-536 USD/tấn CFR. Dexin chào 534-536 USD giao tháng 1, một nhà cán lại chào 536 USD giao tháng 12 (giảm 2 USD), phụ phí hàng 2mm khoảng 10 USD. Lô 30.000 tấn Dexin 3mm do thương nhân bán vào Việt Nam giá 532 USD giao tháng 1. Tuần này ghi nhận khoảng 2 tàu giao tháng 1, và chào từ nguồn này hiện đã chuyển sang giao tháng 2/2027, cho thấy room bán về Việt Nam của tháng 1 đã hết. Ở các sản phẩm bán thành phẩm, giá slab xuất khẩu Indonesia giảm khoảng 12 USD trong tháng còn 478 USD/tấn FOB giao tháng 1, một số nhà máy vận hành giảm công suất do thiếu nước. Phôi Dexin giữ chào 470 USD/tấn FOB, với ít nhất 80.000 tấn đã đổi chủ trong hai tuần. Người mua Việt Nam quan tâm phôi Indonesia vì phế liệu nhập đắt (phế Nhật H2 chào khoảng 390 USD/tấn CFR) và nhu cầu thép dài còn tốt.
Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ
Rủi ro vận tải vẫn đè lên khu vực. Lệnh phong tỏa hải quân Mỹ với các cảng Iran và nguy cơ an ninh tại eo Hormuz vẫn còn, các nỗ lực ngoại giao tăng tốc nhưng chưa có thỏa thuận. Người mua thép Iran chuyển sang đặt lô nhỏ, nhiều khi từng xe tải, vì các cửa khẩu bị gián đoạn: Iraq đóng cửa khẩu Al-Sheeb từ 21/10 và đến 29/10 vẫn chưa mở lại. Chào phôi Iran còn 420-430 USD/tấn FCA biên giới (420-440 USD hôm 15/10), chủ yếu mang tính tham khảo. Iran còn bị hạn chế 85% nguồn điện trong tháng 10, giá khí cho nhà máy DRI tăng khoảng 66% từ mùa xuân đến tháng 9. Hệ quả hiện rõ ở sản lượng: thép thô sáu nước GCC tháng 9 giảm 30% so với cùng kỳ còn hơn 1,3 triệu tấn (Ả Rập Xê Út giảm 45,4%, Qatar giảm 59,5%), lũy kế 9 tháng giảm 9,6% còn 14,4 triệu tấn. Sản lượng DRI các nước MENA chính giảm 18,8% còn khoảng 32 triệu tấn. worldsteel dự báo nhu cầu thép Trung Đông năm 2026 giảm 13,9%, năm 2027 hồi 8,8%. Hadeed (Ả Rập Xê Út) giữ nguyên giá thép cây và dây thép tháng 11, giá điện công nghiệp nước này sẽ tăng 15% từ 1/1/2027.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhập khẩu HRC tháng 8 tăng 62,3% so với cùng kỳ lên 516.800 tấn, châu Á chiếm 82%: Trung Quốc 201.100 tấn, Malaysia 127.900 tấn, Nhật 52.400 tấn, Hàn Quốc 42.400 tấn, trong khi hàng Nga giảm 52,8% còn 39.100 tấn. Chào HRC Trung Quốc vào Thổ khoảng 550 USD/tấn CFR nhưng chưa có giao dịch mới. Thị trường nội địa yếu: chào thép cây giảm 5-10 USD còn 595-615 USD/tấn EXW, trong khi phế liệu nhập HMS 1&2 (80:20) bờ Đông Mỹ tăng lên 400 USD/tấn CFR (395 USD hôm 23/10) do nhà cung cấp đẩy giá còn nhà máy chưa muốn mua. OYAK dự báo giá bán tăng từ tháng 12 sau giai đoạn giảm tháng 10-11, nhưng lợi nhuận quý 4 vẫn yếu hơn vì chi phí than cốc có độ trễ 4 tháng (EBITDA cả năm 75-85 USD/tấn so với 100 USD/tấn quý 3). Hãng nhận xét giá HRC Thổ thấp hơn HRC nội địa châu Âu khoảng 200 USD/tấn.
Châu Âu
HRC cơ sở tại Đức đứng yên ở 740 EUR/tấn EXW suốt tuần, chưa có tín hiệu cầu mới. Phía nguồn cung có nhiều biến động. Tòa Phá án Ý giữ nguyên lệnh đình chỉ khu vực nóng của Acciaierie d’Italia tại Taranto ngày 29/10, thời hạn giữ thiết bị ở chế độ chờ theo sắc lệnh 16/10 đã đến điểm kết thúc, đe dọa nguồn cấp cho các cơ sở hạ nguồn tại Genoa và Novi Ligure. Sản lượng thép thô Đức tháng 9 giảm 13% còn 2,6 triệu tấn, riêng lò cao giảm 20%. Ngược lại, kết quả của các nhà sản xuất khá tích cực: Salzgitter nâng dự báo EBITDA điều chỉnh cả năm lên 800-875 triệu EUR (từ 725-825 triệu EUR), còn SSAB cho biết nhập khẩu giảm sau khi biện pháp thương mại mới của EU có hiệu lực từ 1/7 và giá tấm, cuộn tại châu Âu đã tăng, dự báo giá thực hiện quý 4 nhích lên. Về phòng vệ thương mại, Ủy ban châu Âu dự kiến hạ thuế chống bán phá giá thép cán nguội từ Thổ Nhĩ Kỳ (Tatmetal 3%, Borcelik 7,8%), quyết định chính thức ngày 16/11. Vụ việc cũng bao gồm Ấn Độ, Nhật, Đài Loan và Việt Nam, mức tính trước đó với Việt Nam là 16%. Chào slab Trung Quốc và Việt Nam vào Ý giữ 580-590 USD/tấn CFR. Một thương nhân nhận xét xuất thép sang châu Âu hiện thuận lợi cho Việt Nam do giá trị phát thải mặc định theo CBAM tương đối thấp, còn slab Indonesia ít được quan tâm vì lo chi phí CBAM.
IV/ BẢNG GIÁ GIAO DỊCH NỘI ĐỊA – GIÁ CHÀO THAM KHẢO
Nhóm hàng | Chủng loại / mác | Quy cách / nguồn hàng | Đơn vị | Giá tuần này | Xu hướng giá tuần |
HRC nội địa | SS400 | Hàng Hòa Phát qua đại lý phân phối | vnđ/kg | 15.400-15.600 | Giá giảm mạnh 200đ |
HRC nội địa | SS400 /Q235 | Khổ 2m/1m5 nhập khẩu | vnđ/kg | 15.300-16.400 | Giảm 200đ |
HRC nhập khẩu | HRC Trung Quốc | Chào FOB | USD/tấn | 495-502 | - |
HRC nhập khẩu | HRC Indonesia | Chào CFR giao 2 | USD/tấn | 530-532 | Giao dic |
HRC nhập khẩu | HRC India | CIF | USD/tấn | 555-560 | Không có offer chính thức |
V/ BẢNG THEO DÕI GIÁ NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO
Ngày | Quặng sắt 62% Fe CFR China ex-Australia | Than luyện cốc Australia FOB | Phế HMS 80:20 CFR Turkey ex-USA | Phế shredded CFR Turkey ex-USA |
23/10 | 92.75 USD/tấn | 267.00 USD/tấn | 395 USD/tấn | 415 USD/tấn |
26/10 | 92.50 USD/tấn | 267.00 USD/tấn | 397 USD/tấn | 417 USD/tấn |
27/10 | 91.50 USD/tấn | 267.00 USD/tấn | 400 USD/tấn | 420 USD/tấn |
28/10 | 92.25 USD/tấn | 267.00 USD/tấn | 400 USD/tấn | 420 USD/tấn |
29/10 | 93.25 USD/tấn | 267.00 USD/tấn | 400 USD/tấn | 420 USD/tấn |
VI/ DỰ BÁO DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG
Giá HRC của Hòa Phát dự kiến giảm 100-150đ/kg trong tuần sau, Formosa nhiều khả năng điều chỉnh ở mức tương tự. Tuy nhiên, thị trường đã hạ giá từ trước nên đợt giảm này phần lớn chỉ là hợp thức hóa mặt bằng thực tế. Thị trường đánh giá giá chào giảm sẽ chưa đủ để kéo người mua quay lại. Chiều hướng của thị trường vẫn do sức mua và dòng tiền quyết định, giá chào chỉ đóng vai trò thứ yếu.
Nguồn hàng Indonesia nay đã chuyển sang giao tháng 2, nên tuần sau trọng tâm dịch về phía nội địa, với việc người mua chốt lượng cho tháng tới tại Hòa Phát và Formosa. Dù vậy, áp lực cạnh tranh từ hàng nhập chưa hết: trong tháng 11 sẽ có khá nhiều tàu Indonesia chốt từ trước quanh mức 520-525 USD/tấn cập bến. Lượng hàng giá thấp này sẽ hạn chế dư địa tăng của giá nội địa, khiến các nhà máy khó giữ giá cao dù chào mới có giảm.
Ở mảng tôn - ống, các chương trình ưu đãi đẩy hàng cuối năm nhiều khả năng tiếp tục, và có thể có đơn vị giảm giá niêm yết khoảng 200đ/kg, tương ứng mức giảm của nguyên liệu đầu vào. Mình cho rằng mức giảm này là điều chỉnh theo chi phí, chưa phải tín hiệu kích cầu. Người bán vẫn sẽ dựa vào chiết khấu để giữ lượng bán cho đến cuối năm.

