Thị trường sắt thép ngày hôm nay phản ánh một bức tranh phân hóa sâu sắc giữa các khu vực trọng điểm. Trong khi thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ ghi nhận nỗ lực đẩy giá lên từ phía các nhà máy dựa trên cơ sở nguồn cung thắt chặt và chi phí đầu vào tăng, thì áp lực từ lực cầu hạ nguồn yếu kém vẫn tiếp tục đè nặng lên các quyết định giao dịch thực tế. Tại Châu Á, thị trường Trung Quốc cho thấy tín hiệu khởi sắc nhẹ ở phân khúc nội địa nhờ tốc độ giảm tồn kho và các biện pháp hạn chế sản lượng cục bộ, song triển vọng xuất khẩu lại chững lại. Nhìn chung, mặt bằng giá nguyên liệu thô như phế liệu và quặng sắt đang đóng vai trò thiết lập mức giá sàn vững chắc, buộc các nhà sản xuất thép phải bảo vệ biên lợi nhuận dù sức mua thành phẩm chưa có sự cải thiện rõ rệt.
KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ
Châu Âu: Hoạt động thị trường thép dẹt tiếp tục chịu chi phối bởi yếu tố nguồn cung thắt chặt thay vì sự phục hồi của lực cầu. Các nhà máy Châu Âu đang hướng tới mục tiêu tăng giá HRC cho tháng 1/2027 và quý 1 lên ngưỡng €790/tấn xuất xưởng (EXW) do chi phí năng lượng tăng cao, với giá khí đốt tự nhiên TTF Hà Lan đã vượt mốc €100/MWh. Tuy nhiên, mức giá giao dịch thực tế cho HRC nội địa tại Bắc Âu và Nam Âu hiện chỉ giữ ở mức €745/tấn EXW. Tại Ý, thị trường ghi nhận lo ngại về nguồn cung khi Tòa Phá án Ý bác bỏ nỗ lực duy trì công đoạn luyện kim nóng của Acciaierie d'Italia (ADI), buộc đơn vị này có khả năng phải chuyển thành cơ sở gia công cán thép. Tại Anh, thị trường HRC đóng băng với mức giá ổn định £700/tấn DDP West Midlands, giữa lúc người tiêu dùng cuối chưa có dấu hiệu khởi sắc và ngân sách mới của chính phủ không đem lại các biện pháp hỗ trợ chi phí năng lượng công nghiệp như kỳ vọng.
Thổ Nhĩ Kỳ: Thị trường trầm lắng do kỳ nghỉ lễ Quốc khánh. Giá thép thanh vằn xuất khẩu giữ ổn định ở mức 605 USD/tấn FOB, được nâng đỡ bởi chi phí phế liệu và phôi thép đầu vào tăng cao, khiến các nhà máy không thể hạ giá bán dưới ngưỡng 600 USD/tấn FOB. Giá phế liệu HMS 1/2 (80:20) phẩm cấp cao nhập khẩu đứng giá ở mức 399 USD/tấn CFR, với các giao dịch mới từ EU được chốt quanh mức 388,50-391 USD/tấn CFR.
KHU VỰC CHÂU MỸ
Hoa Kỳ: Giá HRC giao ngay nhích tăng lên mức 1.340 USD/tấn ngắn EXW, tăng 20 USD/tấn ngắn so với kỳ định giá trước đó. Mức tăng này chủ yếu do các nhà máy Trung Tây và Miền Nam đã đóng sổ đơn hàng giao ngay tháng 12, tạo ra tình trạng khan hiếm nguồn cung. Các mặt hàng thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) cũng tăng 10 USD/tấn ngắn lên 1.500 USD/tấn ngắn, trong khi thời gian giao hàng trung bình bị kéo dài lên 10 tuần.
Brazil: Hiệp hội các nhà phân phối thép (Inda) nhận định các nhà máy nội địa sẽ khó hiện thực hóa kế hoạch tăng giá 5-10% trong tháng 11. Nguyên nhân cốt lõi là lượng tồn kho tại các trung tâm dịch vụ vẫn ở mức rất cao, đạt 1,18 triệu tấn trong tháng 9 (tăng 8,8% so với cùng kỳ), tương đương 3,5 tháng doanh số bán hàng. Giá HRC nội địa tăng nhẹ lên 3.600-3.800 Real/tấn do không còn các đợt chiết khấu cuối tháng, nhưng nhu cầu hạ nguồn ảm đạm và sự suy yếu của đồng Real sau bầu cử tiếp tục là lực cản lớn cho thị trường. Giá HRC nhập khẩu đứng ở mức 610-620 USD/tấn CFR Brazil.
KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Trung Quốc
Giá HRC nội địa tại Thượng Hải tăng nhẹ 10 NDT/tấn lên 3.230 NDT/tấn, được hỗ trợ bởi tốc độ xả hàng tồn kho nhanh hơn (giảm 70.000 tấn trong tuần) và chi phí nguyên liệu đầu vào tăng. Tuy nhiên, giá xuất khẩu HRC đi ngang ở mức 482 USD/tấn FOB đối với mác SS400 do lực cầu quốc tế hạ nhiệt.
Thị trường thép dài nội địa phục hồi nhờ tồn kho thép thanh vằn giảm 250.000 tấn, đẩy giá thép thanh tại Thượng Hải lên 3.080 NDT/tấn. Ngược lại, giá thép thanh xuất khẩu giảm 1 USD/tấn xuống 474 USD/tấn FOB do triển vọng mùa thấp điểm mùa đông.
Ngành thép Trung Quốc đã rơi trở lại trạng thái thua lỗ khoảng 5,09 tỷ NDT trong tháng 9 do nhu cầu tiêu thụ trong nước yếu và mức cắt giảm sản lượng chưa đủ để cân bằng thị trường. Đáng chú ý, các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại Hàm Đan (Hà Bắc) yêu cầu ủ lò 26 lò cao từ ngày 25-31/10 đang giúp củng cố tâm lý thị trường, dù tác động đến tổng sản lượng quốc gia được đánh giá là hạn chế.
Việt Nam
Thị trường thép dẹt giao dịch trầm lắng do giới thu mua đang chờ đợi các nhà sản xuất nội địa (Hòa Phát) công bố giá chào bán mới vào đầu tháng 11.
Giá chào HRC mác SAE1006 từ Indonesia giữ ở mức 532 USD/tấn CFR, trong khi HRC mác Q195 từ Trung Quốc được giao dịch ở mức 495 USD/tấn CFR (khối lượng 10.000-15.000 tấn) phục vụ mục đích tái xuất. Giá HRC ASEAN chung được đánh giá ở mức 529 USD/tấn CFR.
Ở phân khúc phôi thép, nhu cầu đối với phôi nhập khẩu gia tăng do một số nhà máy nội địa đã sử dụng hết hạn ngạch nhập khẩu thép phế liệu, với giá phôi 3SP 150mm từ Indonesia chào ở mức 490 USD/tấn CFR.
Các thị trường khác
Đài Loan: Tập đoàn Thép Trung Quốc (CSC) tăng giá thép tấm AP tháng 12 thêm 500 NTD/tấn lên mức 27.400 NTD/tấn và ngừng cấp hạn ngạch cho thép dự án SN. Tập đoàn Yusco tăng giá thép không gỉ dòng 304 thêm 1.000 NTD/tấn cho tháng 11.
Ấn Độ: Nhu cầu tiêu thụ chậm chạp đè nặng lên giá HRC nội địa, giảm 100 INR/tấn xuống 63.500 INR/tấn EXW Mumbai. Giá thép phế liệu cắt nhỏ nhập khẩu cũng giảm xuống 390 USD/tấn CFR Nhava Sheva do nguồn cung sắt xốp (sponge iron) nội địa dồi dào và rẻ hơn.
Iran: Xuất khẩu phôi thép duy trì mức giá vững ở 420-430 USD/tấn FOB/FCA biên giới do nguồn cung thắt chặt và biên lợi nhuận nội địa cao. Tuy nhiên, các gián đoạn logistics tại cửa khẩu với Iraq và Pakistan khiến người mua nước ngoài e ngại chốt các đơn hàng lớn.
BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH
Sản phẩm | Thị trường/Khu vực | Mức giá | Điều kiện giao hàng | Xu hướng |
HRC SS400 | Trung Quốc | 482 USD/tấn | FOB | Đi ngang |
HRC SAE1006 | Indonesia xuất sang Việt Nam | 532 USD/tấn | CFR | Ổn định |
HRC Cơ sở | Hoa Kỳ (Trung Tây) | 1.340 USD/tấn ngắn | EXW | Tăng |
Thép thanh vằn | Thổ Nhĩ Kỳ | 605 USD/tấn | FOB | Ổn định |
Phôi thép 3SP 150mm | Trung Quốc | 463-465 USD/tấn | FOB | Tăng nhẹ |
Phế liệu HMS 1/2 (80:20) | EU xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ | 388,50-391 USD/tấn | CFR | Ổn định |
Phế liệu cắt nhỏ | Nhập khẩu vào Ấn Độ | 390 USD/tấn | CFR | Giảm |
Quặng sắt mịn 62% Fe | Úc xuất sang Trung Quốc | 93,25 USD/tấn | CFR | Tăng nhẹ |
Phôi dẹt thương mại | Biển Đen | 470 USD/tấn | FOB |
|
TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG
Thị trường sắt thép toàn cầu đang trong giai đoạn giằng co mạnh mẽ giữa lực đẩy từ chi phí sản xuất và lực kéo từ sức hấp thụ của thị trường.
Tại Châu Âu và Mỹ, chiến lược kiểm soát nguồn cung và từ chối chiết khấu của các nhà máy đang giữ cho mặt bằng giá HRC không bị sụt giảm, bất chấp lượng tồn kho hạ nguồn lớn và sức tiêu thụ thực tế đình trệ.
Trong khi đó, tại Châu Á, động lực thị trường phụ thuộc nhiều vào các diễn biến điều tiết vĩ mô và môi trường tại Trung Quốc. Việc hạn chế vận hành các lò cao trong mùa thu đông đang tạo ra đòn bẩy ngắn hạn cho giá tương lai và giá giao ngay nội địa.
Tuy nhiên, để duy trì được đà phục hồi bền vững, thị trường đòi hỏi sự thu hẹp thực chất của khoảng trống cung - cầu, đặc biệt khi các quốc gia xuất khẩu lớn đang phải đối mặt với rào cản từ cước vận tải biển tăng cao và chủ nghĩa bảo hộ thương mại qua các công cụ như hạn ngạch (TRQ) hay cơ chế CBAM. Cơ sở định giá trong tháng 11 sẽ phụ thuộc rất lớn vào kỷ luật kiểm soát sản lượng của các nhà máy nhằm bảo vệ biên lợi nhuận trước sự cứng rắn của thị trường nguyên liệu thô.


