I. Tổng quan thị trường thép xây dựng tháng này
Tháng 8, thị trường thép xây dựng thể hiện cục diện “trước yếu sau mạnh, dao động đi lên”, giá ghi nhận mức tăng lớn nhất trong một tháng của năm nay. Nhìn từ logic vận hành cốt lõi của thị trường, chi phí đẩy và nguồn cung thu hẹp đã đóng vai trò chính đối với đà phục hồi giá. Trung tuần đầu và giữa tháng 8, chịu ảnh hưởng của nắng nóng, bão và mưa lớn, thi công tại nhiều nơi trên toàn quốc chậm lại, nhu cầu đầu cuối giảm xuống mức thấp, báo giá giao ngay rơi xuống vùng thấp. Trung tuần cuối tháng, an toàn kiểm tra tại các khu mỏ trong nước nghiêm ngặt, than luyện cốc khan hiếm tiếp tục tăng giá, than cốc liên tiếp hai vòng đề nghị tăng giá được thực hiện, bảng giá hợp đồng tương lai thép thanh vằn dao động đi lên, tâm lý thị trường được củng cố, báo giá giao ngay dao động tăng.
II. Phân tích giá thép xây dựng tháng này
2.1 Diễn biến giá thép thanh vằn tại các thành phố chính Trung Quốc
Theo thị trường thép dây cao tốc do mạng lưới của chúng tôi giám sát, tính đến ngày 31 tháng 8, thị trường Thượng Hải HRB400φ16 báo 3.156 nhân dân tệ/tấn, tăng 1,06% so với tháng trước. Thị trường Hàng Châu HRB400φ16 báo 3.441 nhân dân tệ/tấn, tăng 0,82% so với tháng trước. Thị trường Nam Kinh HRB400φ16 báo 3.375 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,35% so với tháng trước.
2.2 Diễn biến giá thép dây cao tốc tại các thành phố chính Trung Quốc
Theo thị trường thép dây cao tốc do mạng lưới của chúng tôi giám sát, tính đến ngày 31 tháng 8, thép dây cao tốc HPB300φ6 tại thị trường Thượng Hải báo 3.616 nhân dân tệ/tấn, tăng 0,93% so với tháng trước. Thép dây cao tốc HPB300φ6 tại thị trường Hàng Châu báo 3.691 nhân dân tệ/tấn, tăng 0,77% so với tháng trước.
III. Phân tích tồn kho thị trường thép xây dựng tháng này
Tháng 8, tồn kho thép xây dựng chuyển từ tăng sang giảm, áp lực thị trường có phần giảm nhẹ. Tính đến ngày 27 tháng 8, tổng tồn kho thép thanh vằn tại các thành phố mẫu chính toàn quốc là 514,68 vạn tấn, tăng 24,8 vạn tấn so với tháng trước, tăng 58,3 vạn tấn so với cùng kỳ năm ngoái; tổng tồn kho thép dây là 67,14 vạn tấn, tăng 1,99 vạn tấn so với tháng trước, giảm 3,34 vạn tấn so với cùng kỳ năm ngoái; tổng tồn kho năm chủng loại thép chính là 1.195,33 vạn tấn, giảm 5,63 vạn tấn so với tháng trước, tăng 139,35 vạn tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Các khu vực lớn có ba tăng bốn giảm, trong đó Đông Bắc, Hoa Bắc và Hoa Nam lần lượt tăng 0,62 vạn tấn, 2,07 vạn tấn và 5,4 vạn tấn, trong khi khu vực Tây Bắc, Hoa Đông, Hoa Trung và Tây Nam lần lượt giảm 3,62 vạn tấn, 5,78 vạn tấn, 0,16 vạn tấn và 1,32 vạn tấn. Nhìn chung, áp lực tồn kho thép xây dựng trong tháng 8 đã có mức giảm nhẹ. Nguồn cung thu hẹp thúc đẩy tổng tồn kho có một vòng giảm kho rõ rệt, tuy nhiên nhịp độ và mức độ giảm kho giữa tồn kho nhà máy và tồn kho xã hội khác biệt tương đối lớn, cho thấy sau khi sản lượng nhà máy thép giảm, tồn kho nhà máy giảm khá thuận lợi, nhưng tồn kho xã hội truyền dẫn tới đầu cuối tương đối chậm, nhu cầu tổng thể vẫn tương đối yếu.
IV. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép xây dựng trong nước
Số liệu của Cục Thống kê Quốc gia cho thấy: tháng 7 năm 2026, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 7.693 vạn tấn, giảm 3,6% so với cùng kỳ; sản lượng gang đạt 6.835 vạn tấn, giảm 4,5% so với cùng kỳ; sản lượng thép thành phẩm đạt 11.646 vạn tấn, giảm 4,1% so với cùng kỳ. Giai đoạn 1-7, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 57.704 vạn tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ; sản lượng gang đạt 49.577 vạn tấn, giảm 3,0% so với cùng kỳ; sản lượng thép thành phẩm đạt 83.616 vạn tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ. Khối lượng giao dịch thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm toàn quốc là 11,92 vạn tấn, giảm 4,52% so với ngày giao dịch trước đó, tăng 17,23% so với tháng trước.
V. Phân tích nhu cầu đầu cuối
Giai đoạn 1-7 tháng, đầu tư phát triển bất động sản toàn quốc đạt 4.300,9 tỷ nhân dân tệ, giảm 19,2% so với cùng kỳ; giai đoạn 1-7 tháng, diện tích thi công nhà ở của các doanh nghiệp phát triển bất động sản đạt 5.575,72 triệu m2, giảm 12,7% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích khởi công mới nhà ở đạt 267,00 triệu m2, giảm 24,0%; diện tích hoàn thành nhà ở đạt 191,95 triệu m2, giảm 23,2%; diện tích bán nhà ở thương mại mới xây đạt 450,21 triệu m2, giảm 11,8% so với cùng kỳ; vốn về của các doanh nghiệp phát triển bất động sản đạt 4.574,8 tỷ nhân dân tệ, giảm 20,3% so với cùng kỳ.
Tháng 7 năm 2026, Trung Quốc xuất khẩu 1.012,1 vạn tấn thép, giai đoạn 1-7 lũy kế xuất khẩu 6.499,5 vạn tấn thép, giảm 4,4% so với cùng kỳ. Tháng 7, Trung Quốc nhập khẩu 44,5 vạn tấn thép, giai đoạn 1-7 lũy kế nhập khẩu 314 vạn tấn thép, giảm 10,1% so với cùng kỳ.
VI. Phân tích quan điểm thị trường thời gian tới
Sắp bước vào tháng 9, cùng với thời tiết nắng nóng dần lùi đi, môi trường thi công ngoài trời được cải thiện, nhu cầu đầu cuối đón phục hồi theo mùa; cộng thêm quặng sắt, than cốc cung cấp hỗ trợ chi phí, giá thép trong nước duy trì vận hành dao động thiên mạnh. Bước vào trung tuần cuối tháng, các lò cao bảo trì sửa chữa trước đó lần lượt phục hồi sản xuất, áp lực nguồn cung thép có phần tăng lên, trong khi lực giải phóng giao dịch thực tế đầu cuối hữu hạn; đồng thời, than luyện cốc và than cốc sau khi tăng giá dao động vùng cao, quặng sắt chịu áp lực tồn kho cao, cùng với thương nhân vận hành thận trọng, giá giao ngay có thể dao động hẹp và tích lũy điều chỉnh. Giao dịch cả tháng vẫn sẽ tập trung vào tình hình cải thiện chi phí, tình hình sản lượng nhà máy thép hồi phục và tình hình nhu cầu đầu cuối hồi phục; trọng tâm giao dịch của thị trường sẽ chuyển chậm từ “phục hồi do chi phí đẩy” sang “xác nhận nhu cầu mùa cao điểm Kim Cửu Ngân Thập”. Nhìn chung, tháng 9 thị trường sẽ tranh chấp trong nhiều kỳ vọng “sửa chữa chi phí” và “nhu cầu hồi phục”, trụ cột hỗ trợ giá thị trường vẫn chủ yếu đến từ phía nguồn cung; nhu cầu hồi phục sẽ tạm thời củng cố đà phục hồi khó khăn mới có được, việc sửa chữa chi phí và sản lượng sẽ tạo không gian giao dịch điều chỉnh giảm từ vùng cao cho giá.







