Thị trường thép Trung Quốc tiếp tục chịu áp lực chiết khấu sâu do tác động kép từ suy yếu mùa thấp điểm và hỗ trợ chi phí nguyên liệu lỏng lẻo. Giá các chủng loại thành phẩm nội địa phiên ngày 21/7 biến động giảm từ 10 - 20 NDT/tấn, trong khi thị trường xuất khẩu ghi nhận tâm lý chờ đợi của phía người mua quốc tế. Mặc dù các chính sách siết chặt an toàn mỏ than tại Sơn Tây và Nội Mông Cổ cùng kỳ vọng giảm sản lượng từ phía nhà máy hình thành bệ đỡ ngắn hạn, mâu thuẫn cốt lõi "cung mạnh, cầu yếu" cùng áp lực xả tồn kho giao ngay vẫn là rào cản chính kìm hãm đà phục hồi của giá thép.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa vận hành thiên yếu, giá giao ngay tại các đô thị trọng điểm đồng loạt hạ nhẹ từ 10 - 20 NDT/tấn:
Thượng Hải: Giá thép cây xuất kho giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.030 NDT/tấn (giá HRB400E 25mm toàn quốc trung bình ở mức 3.216 NDT/tấn, giảm 10 NDT/tấn; thép cuộn 8mm trung bình 3.451 NDT/tấn, giảm 10 NDT/tấn). Giá hợp đồng tương lai thép vằn rb2610 đóng cửa ở mức 3.095 NDT/tấn, giảm 9 NDT/tấn (-0,29%), biên độ trong ngày dao động 3.067 - 3.107 NDT/tấn.
Sơn Đông (Tế Nam, Thanh Đảo, Duy Phường): Báo giá thép vằn Tế Nam và Thanh Đảo ghi nhận mức 3.230 NDT/tấn (giảm 10 - 20 NDT/tấn), thép cuộn HRB400E Φ10mm ở mức 3.480 NDT/tấn. Xu hướng "tăng vọt rồi sụt giảm" đảo chiều hình chữ V ngược diễn ra tại Tế Nam khi báo giá rơi từ mốc đỉnh 3.270 NDT/tấn về 3.140 - 3.230 NDT/tấn. Tồn kho nhà máy tại Sơn Đông tích lũy thêm 28.000 tấn do đà tái sản xuất.
Khu vực Hồ Nam (Trường Sa): Rơi sâu vào thế khó "tồn kho cao, tiêu thụ thấp, nhu cầu yếu". Khối lượng giao dịch ngày 20/7 của 9 đại lý mẫu giảm còn 1.942 tấn/ngày (liên tục 3 ngày dưới 2.000 tấn/ngày). Tồn kho xã hội tính đến 17/7 đạt 391.100 tấn (thép vằn 314.300 tấn, thép cuộn 76.800 tấn) – chạm mức cao nhất cùng kỳ trong 5 năm. Để giảm áp lực, Lệnh Cương (Lenggang) đại tu 1 lò cao và 1 dây chuyền cán thép vằn (giảm 2.000 tấn/ngày trong 2 tháng); Hoa Lăng Tương Cương đại tu dây chuyền thanh nhỏ 15 ngày (ảnh hưởng 25.000 tấn). Báo giá thép vằn HRB400E Φ18mm ngày 21/7 ở mức 3.220 - 3.240 NDT/tấn, giảm nhẹ 10 NDT/tấn.
Các khu vực khác: Bắc Kinh giảm 10 NDT/tấn (thép vằn chủ lực 3.070 - 3.190 NDT/tấn); Hàng Châu giữ ổn định mức 3.100 NDT/tấn (Zhongtian HRB400 Φ18mm); Vũ Hán giảm 10 NDT/tấn (3.140 - 3.170 NDT/tấn); Nam Xương giảm 10 NDT/tấn (2.920 - 3.050 NDT/tấn); Thái Nguyên giảm 20 NDT/tấn (3.220 NDT/tấn); Bao Đầu giảm 10 NDT/tấn (3.170 NDT/tấn); Yining giữ nguyên ở mức 2.950 - 2.990 NDT/tấn.
Khối lượng giao dịch: Tổng khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc (mẫu 224 doanh nghiệp) ngày 21/7 đạt 9,78 vạn tấn, tăng nhẹ 4,41% so với phiên trước nhưng giảm 16,40% so với tuần trước. Giao dịch chủ yếu kích hoạt nhờ các lô hàng giá thấp bắt đáy ngắn hạn.
+ Thép công nghiệp
Mặt hàng thép dẹt và thép đặc chủng duy trì xu hướng phân hóa, điều chỉnh giảm cục bộ theo áp lực chi phí nguyên liệu:
Cuộn cán nóng (HRC): Giá trung bình tại 10 thành phố trọng điểm quy cách 5.51500C đạt 3.288 NDT/tấn, giảm 11 NDT/tấn. Giá xuất kho Thượng Hải ở mức 3.300 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn). Hợp đồng HRC chủ lực 2610 đóng cửa ở 3.297 NDT/tấn (giảm 0,27%). Tổng khối lượng xuất hàng ngày của các đại hộ tại 18 thành phố trọng điểm đạt 48.540 tấn, tăng 3.160 tấn. Dù một số nhà máy có kế hoạch đại tu, nguồn cung HRC toàn thị trường vẫn ở mức cao so với cùng kỳ.
Cuộn tấm mạ phủ: Thị trường mạ kẽm điều chỉnh giảm nhẹ, mạ màu giữ giá vững. Giá trung bình tấm mạ kẽm 1.0mm đạt 4.082 NDT/tấn (giảm 9 NDT/tấn); tấm sơn màu 0.47mm giữ nguyên ở mức 5.398 NDT/tấn. Hàng giá rẻ từ các nhà máy tư nhân xuất hiện nhiều hơn do áp lực giải phóng tồn kho.
Phôi ống cán nóng & Ống liền mạch: Giá phôi ống 20# giảm 10 NDT/tấn (Hoa Đông ở mức 3.430 - 3.510 NDT/tấn, Hoa Bắc ở mức 3.260 NDT/tấn). Sản lượng giao dịch ngày của các nhà máy ống liền mạch trọng điểm Sơn Đông đạt 18.800 tấn, phục hồi nhẹ.
Thép đặc chủng & Chủng loại khác: Giá các loại thép đóng tàu (CCSB 14-30mm Thượng Hải 3.750 NDT/tấn), thép cường độ cao (Q460C An Dương 3.930 NDT/tấn, Trường Sa 4.540 NDT/tấn), thép chịu thời tiết, thép chống axit giữ giá đi ngang so với phiên 20/7.
+ Nguyên liệu thô
Thị trường nguyên liệu chịu áp lực điều chỉnh giảm khi chuỗi ngành hàng màu đen chuyển sang giai đoạn phản hồi tiêu cực từ đà suy yếu của thép thành phẩm:
Than cốc: Vòng giảm giá đầu tiên (mức giảm 50 - 55 NDT/tấn) đã chính thức được các nhà máy thép chủ lực khởi động và thực thi. Lợi nhuận lý thuyết của các doanh nghiệp luyện cốc độc lập toàn quốc hiện đạt 97 NDT/tấn (chi phí bình quân 1.963 NDT/tấn, giá bán 2.060 NDT/tấn). Giá than cốc dập khô loại một Đường Sơn ở mức 2.230 NDT/tấn, chuẩn loại một Trường Trị ở mức 2.030 NDT/tấn. Do sản lượng gang lỏng sụt giảm và kế hoạch đại tu lò cao mở rộng, nhu cầu mua bổ sung than cốc hạ nhiệt rõ rệt.
Than luyện cốc (Coking Coal): Nguồn cung thắt chặt do chính sách kiểm tra an toàn nghiêm ngặt. Giá than mỡ chính Đường Sơn ở mức 1.815 NDT/tấn, Lâm Phần 2.020 NDT/tấn. Đáng chú ý, ngày 21/7, tỉnh Sơn Tây công khai lấy ý kiến về "17 quy định mới về phát triển và an toàn ngành than" (đả kích khai thác trộm, vượt công suất), tiếp tục siết chặt nguồn cung than mỡ chất lượng cao. Than Mông Cổ nhập khẩu có giá than nguyên khai Mông 5 khoảng 1.200 NDT/tấn.
Quặng sắt: Giá quặng sắt nội địa và nhập khẩu đồng loạt giảm. Quặng bột axit 66% Đường Sơn ở mức 784 NDT/tấn (chưa thuế, cơ sở ướt). Giá quặng nhập khẩu: Bột PB cảng Kinh Đường giảm 6 NDT/tấn xuống 719 NDT/tấn; bột PB cảng Nhật Chiếu / Thanh Đảo ở mức 696 - 697 NDT/tấn (giảm 9 - 10 NDT/tấn). Hợp đồng hoán đổi quặng sắt Singapore giảm 1,02% xuống 98,6 USD/tấn. Lực mua từ nhà máy thép thận trọng do biên lợi nhuận bị thu hẹp.
Phế liệu thép: Chỉ số giá phế liệu toàn quốc Lange ở mức 2.074 (tăng nhẹ 3 điểm). Báo giá phế nặng Đường Sơn ở mức 2.030 NDT/tấn, Trương Gia Cảng ở mức 2.080 NDT/tấn. Nguồn cung phế thu hồi bị hạn chế bởi thời tiết nắng nóng mưa nhiều, tạo bệ đỡ đáy dù nhu cầu lò điện suy yếu.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Chào giá xuất khẩu thép Trung Quốc chịu áp lực giảm nhẹ theo đà thị trường nội địa, lực mua từ các thị trường quốc tế (đặc biệt là khu vực Đông Nam Á) duy trì trạng thái trầm lắng và chờ đợi đáy giá:
Thép cây & Thép cuộn trơn xuất khẩu
Chỉ số giá thép cây FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Chào giá thép cây B500B miền Bắc ở mức 485 - 486 USD/tấn FOB (giao tháng 9); mác HRB400 ở mức 474 - 475 USD/tấn FOB. Người mua Đông Nam Á tìm kiếm mức chiết khấu khoảng 10 USD/tấn do lo ngại rủi ro giảm giá trong tháng 8.
Chỉ số cuộn trơn (Wire rod) FOB Trung Quốc ở mức 496 USD/tấn. Chào giá SAE1008 từ nhà máy lớn ở mức 504 - 510 USD/tấn FOB, giá giao dịch thực tế khả thi quanh 500 USD/tấn FOB. Khối lượng xuất khẩu cuộn trơn dự báo giảm trong quý III.
Chào giá phôi thép 3sp giảm xuống 460 - 465 USD/tấn FOB (một số thương nhân sẵn sàng bán ở mức 457 - 460 USD/tấn FOB để khớp với giá phôi Đường Sơn 2.960 NDT/tấn).
Thép dẹt (HRC & Tấm)
Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc giảm 1 USD/tấn xuống 484 USD/tấn FOB. Chào giá Q235 từ các nhà máy tư nhân giảm xuống 488 - 496 USD/tấn FOB. Mức giá chào sang Việt Nam ở mức 495 USD/tấn CFR, nhưng giá dạm mua (bid) của khách Việt Nam chỉ ở mức 490 USD/tấn CFR (chưa ghi nhận giao dịch thành công).
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc xuất khẩu 1,76 triệu tấn thép dẹt cán nóng sang Việt Nam, giảm 37% so với cùng kỳ.
Thép không gỉ (Dữ liệu tổng kết 6 tháng đầu năm 2026)
Xuất khẩu tháng 6 đạt 446.300 tấn (tăng 7,4% so với tháng 5); tổng xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 2.059.100 tấn, giảm 17,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang Ấn Độ tháng 6 bứt phá đạt 54.600 tấn (cao nhất 29 tháng) nhờ Ấn Độ gia hạn miễn trừ chứng nhận BIS. Nhập khẩu thép không gỉ 6 tháng đạt 757.000 tấn (giảm 8,5%), chủ yếu từ Indonesia (628.800 tấn). Xuất khẩu ròng 6 tháng đạt 1.302.100 tấn (-22,2%).
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Nhìn nhận tổng thể ngày 22 tháng 7, thị trường thép Trung Quốc trong ngắn hạn tiếp tục vận hành trong thế giằng co, dao động thiên yếu ở vùng đáy với các nhân tố tác động chính:
Về phía cung ứng: Việc các nhà máy thép chủ động mở rộng đại tu lò cao và dây chuyền cán (như Lệnh Cương, Tương Cương, các nhà máy lò điện Hoa Đông) kết hợp với việc siết chặt an toàn mỏ than tại Sơn Tây (17 quy định mới) và Nội Mông sẽ kìm hãm sản lượng gang lỏng và sản lượng thép thô. Cùng với quy định siết chặt kiểm soát năng lực sản xuất toàn quốc, áp lực cung mới có sự thu hẹp theo giai đoạn.
Về phía chi phí & Nguyên liệu: Vòng giảm giá thứ nhất của than cốc được thực thi cùng đà suy yếu của quặng sắt làm dịch chuyển trục chi phí xuống dưới. Phản hồi tiêu cực từ chi phí giảm loại bỏ lực nâng đỡ ngắn hạn, khiến giá thành phẩm mất đi điểm tựa cứng.
Về phía nhu cầu & Tồn kho: Thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp mưa lũ diện rộng tiếp tục cản trở tiến độ thi công ngoài trời. Nhu cầu mua sắm hạ nguồn hoàn toàn là nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đầu cơ tuyệt tích. Tồn kho xã hội và tồn kho nhà máy có dấu hiệu tích lũy mùa vụ (tồn kho thép Trường Sa lên đỉnh 5 năm, tồn kho nhà máy Sơn Đông tăng 28.000 tấn).
Dự báo xu hướng giá ngày 22/07: Giá thép giao ngay trong nước ngày hôm nay dự kiến sẽ duy trì đà dao động thiên yếu trong biên độ hẹp (điều chỉnh vi mô từ 10 - 20 NDT/tấn). Biên độ giảm sâu bị chặn lại nhờ kỳ vọng giảm sản lượng của nhà máy thép và các biện pháp siết an toàn nguồn cung than, tuy nhiên đà phục hồi bứt phá chưa thể diễn ra trước khi mâu thuẫn cung cầu mùa thấp điểm được xoa dịu thực chất.












