Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 21/9/2026

Thị trường thép Trung Quốc ngày 20/9 ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm sản phẩm trong bối cảnh thị trường kỳ hạn nghỉ giao dịch. Nhóm thép xây dựng duy trì xu hướng ổn định nhờ tồn kho ở mức thấp và kỳ vọng tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh, trong khi nhóm thép dẹt tiếp tục chịu áp lực từ nhu cầu hạ nguồn yếu và tâm lý thận trọng. Đáng chú ý, Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) tiếp tục kêu gọi các nhà sản xuất thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. Trên thị trường quốc tế, giá quặng sắt phục hồi trên mức 96 USD/tấn nhờ hoạt động bổ sung tồn kho của các nhà máy trước kỳ nghỉ lễ.

TRONG NƯỚC

+ THÉP XÂY DỰNG

Ngày 20/9, giá thép xây dựng trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định. Theo dữ liệu từ Lanze, giá thép cây (rebar) Φ25mm bình quân tại các thành phố trọng điểm đạt 3.246 NDT/t, giảm 2 NDT/t so với giá thanh toán ngày trước đó; giá thép cuộn vằn (wire rod) Φ8.0mm đạt 3.487 NDT/t, giảm 1 NDT/t. Tại các thị trường chủ đạo: Bắc Kinh ghi nhận giá thép cuộn vằn (8mm) ở mức 3.440 NDT/t (tăng 10 NDT/t), thép cây (25mm) ở mức 3.210 NDT/t (đi ngang); Thượng Hải duy trì giá thép cuộn vằn ở mức 3.440 NDT/t và thép cây ở mức 3.120 NDT/t.

Thị trường ghi nhận sự phân hóa giữa hai miền. Các thương nhân phía Bắc phản ánh nhu cầu giải phóng hàng hạn chế, giao dịch chủ yếu tập trung ở các nguồn hàng giá thấp, trong khi giao dịch giá cao kém khả quan. Khu vực phía Nam ghi nhận hoạt động giao dịch khả quan hơn nhờ nhu cầu tích trữ trước kỳ nghỉ lễ bắt đầu được đẩy mạnh. Về mặt bằng giá, thị trường Bắc Kinh giữ giá thép cây chủ lực ở mức 3.090 NDT/t; Tây An duy trì mức 3.120-3.130 NDT/t; Hàng Châu ghi nhận mức tăng nhẹ lên 3.140-3.150 NDT/t.

Về cung cầu, tính đến ngày 17/9, tồn kho thép cây của các nhà thương mại và nhà máy Trung Quốc đã giảm 160.000 tấn so với tuần trước, xuống còn 6,36 triệu tấn. Tiêu thụ thép cây tăng 40.000 tấn trong tuần lên 1,90 triệu tấn. Tuy nhiên, mức tiêu thụ này vẫn thấp hơn mức trung bình cùng kỳ năm ngoái (2,1-2,2 triệu tấn/tuần). Sản lượng thép thô tháng 8 của Trung Quốc đạt 74,61 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 8 tháng, sản lượng thép thô đạt 651,85 triệu tấn, giảm 3,1%; sản lượng thép cây đạt 113,54 triệu tấn, giảm 11,8%.

Hỗ trợ từ nguyên liệu thô suy yếu khi giá than cốc giao ngay giảm. Cụ thể, giá than cốc chất lượng cao tại An Trạch, Lâm Phần giảm 40 NDT/t xuống còn 2.510 NDT/t giao tại xưởng tuyển. Đà phục hồi của giá thép cây kể từ cuối tháng 8 chủ yếu được thúc đẩy bởi giá than tăng cao hơn là do tiêu thụ mạnh hơn. Áp lực giảm đối với giá thép có thể sẽ tăng lên nếu giá nguyên liệu thô tiếp tục sụt giảm.

+ THÉP CÔNG NGHIỆP

Thép cuộn cán nóng (HRC)

Ngày 20/9, giá HRC thương mại giao kho chủ đạo tại Thượng Hải giảm 30 NDT/t xuống 3.300 NDT/t. Các bên bán hạ giá HRC giao kho xuống 3.300-3.310 NDT/t do tâm lý yếu, trong khi người mua nhìn chung vẫn chưa tiến hành mua vào. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải giảm 1,11% xuống còn 3.290 NDT/t. Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống 495 USD/tấn FOB Trung Quốc.

Tồn kho HRC nắm giữ bởi các công ty thương mại và nhà máy thép đã giảm 30.000 tấn so với tuần trước. Các nhà máy thép đã cắt giảm sản lượng HRC gần 40.000 tấn trong tuần. Các nhà máy thép Trung Quốc hiện đang gánh khoản lỗ 250-300 NDT/t đối với HRC, khiến nhiều nhà máy công bố kế hoạch bảo trì lò cao. Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 51.110 tấn, tăng 980 tấn so với phiên trước; trong đó, khu vực Bắc Trung Quốc (Đường Sơn) đạt 4.110 tấn (giảm 70 tấn), khu vực Nam Trung Quốc (Vô Tích) đạt 3.400 tấn (tăng 310 tấn). Giao dịch chủ yếu tập trung vào các đơn hàng nhỏ, mua theo nhu cầu thực tế.

Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)

Ngày 20/9, giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.758 NDT/t, giảm 1 NDT/t so với phiên trước. Tại các thị trường trọng điểm: Thượng Hải 3.730 NDT/t; Quảng Châu 3.740 NDT/t; Thiên Tân 3.660 NDT/t (đi ngang). Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.064 NDT/t, giảm 3 NDT/t; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.409 NDT/t, đi ngang.

Thị trường ghi nhận sự phân hóa: khu vực Hoa Đông chịu áp lực giảm giá, trong khi khu vực Hoa Nam và Hoa Bắc thể hiện khả năng chống giảm tốt hơn. Nhu cầu từ các ngành thiết bị gia dụng, ô tô vẫn yếu, người mua duy trì chiến lược mua cầm chừng. Tồn kho CRC toàn quốc duy trì ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây. Các nhà máy duy trì sản xuất ổn định, nguồn cung không có biến động lớn. Giá thép cuộn cán nguội và thép mạ kẽm nhúng nóng tăng chậm hơn so với HRC.

Thép hình (Section steel)

Ngày 20/9, giá thép hình trong nước tiếp tục xu hướng suy yếu. Các chủng loại thép hình chịu áp lực giảm giá từ nhu cầu yếu và tồn kho cao. Chênh lệch giá phôi - thành phẩm thu hẹp. Tồn kho thành phẩm thép hình toàn quốc có xu hướng giảm nhẹ, chủ yếu nhờ cắt giảm nguồn cung. Tỷ lệ vận hành của các nhà máy thép hình dài duy trì ở mức thấp. Khối lượng xuất xưởng hàng tuần của các nhà máy phôi tại Đường Sơn giảm so với tuần trước. Giá thép hình duy trì xu hướng ổn định/yếu.

+ NGUYÊN LIỆU THÔ

Cốc luyện kim (Coke)

Ngày 20/9, thị trường cốc luyện kim Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định. Cụ thể: cốc khô loại 1 tại Đường Sơn (Hà Bắc) đạt 2.560 NDT/t; cốc khô loại 1 tại Trường Trị (Sơn Tây) đạt 2.360 NDT/t; cốc khô loại 1 xuất xưởng tại Lâm Nghi (Sơn Đông) đạt 2.460 NDT/t. Giá cốc tại Đường Sơn ở mức 2.215 NDT/t, đi ngang.

Chi phí và lợi nhuận: Lỗ bình quân của các nhà máy cốc độc lập ở mức cao. Chi phí sản xuất cốc bình quân đạt 2.490 NDT/t, giá thị trường 2.390 NDT/t, lỗ lý thuyết 101 NDT/t. Cụ thể: Thiểm Tây lỗ 195 NDT/t; Nội Mông lỗ 241 NDT/t; Ninh Hạ lỗ 241 NDT/t; Hà Bắc lỗ 48 NDT/t; Sơn Tây lãi 64 NDT/t; Sơn Đông lãi 58 NDT/t. Vòng tăng giá thứ năm đã giúp các nhà máy cốc giảm bớt thua lỗ, một số doanh nghiệp đã chủ động tăng sản lượng, tỷ lệ vận hành của các nhà máy cốc tăng nhẹ. Tồn kho cốc duy trì ở mức thấp và tiếp tục xu hướng giảm.

Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng cốc kỳ hạn tháng 1 trên Sở Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 0,98% trong ngày 20/9, gây áp lực trực tiếp lên tâm lý thị trường. Hiện tại, các nhà máy cốc và nhà máy thép chưa đạt được đồng thuận về vòng tăng giá thứ sáu.

Than mỡ luyện cốc (Coking coal)

Ngày 20/9, giá than mỡ luyện cốc ổn định. Tại Đường Sơn: 2.205 NDT/t (giảm 60 NDT/t); than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần: 2.510 NDT/t (đi ngang); than gầy Hàn Thành: 1.640 NDT/t (đi ngang). Than nguyên khai mác 5 Mông Cổ: 1.640 NDT/t. Giá than cốc chất lượng cao tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/t xuống còn 2.510 NDT/t giao tại xưởng tuyển vào ngày 16/9.

Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than phục hồi sản xuất nhưng tốc độ chậm. Tuy nhiên, tâm lý thận trọng gia tăng sau thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành, giá đấu giá trực tuyến một số chủng loại than giảm, tỷ lệ đấu giá thất bại tăng. Các thương nhân trung gian lo ngại giá giảm trong tương lai nên chủ yếu tập trung vào việc xuất hàng. Nhập khẩu than Mông Cổ: Lượng thông quan qua biên giới duy trì ở mức thấp, phổ biến khoảng 500-800 xe/ngày.

Quặng sắt (Iron ore)

Ngày 20/9, quặng sắt nhập khẩu suy yếu. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu: 682 NDT/t (tăng 3 NDT/t); Thanh Đảo PB: 682 NDT/t (tăng 3 NDT/t); Thiên Tân PB 61,5%: 703 NDT/t (đi ngang). Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE tăng 0,14% trong ngày, đóng cửa tại 715 NDT/t. Trên thị trường hoán đổi, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Singapore đạt 96,25 USD/tấn.

Các nhà máy thép Trung Quốc đã mở rộng lượng tồn kho quặng sắt thêm 2,3 triệu tấn để đạt 90,4 triệu tấn trong tuần trước nhằm đảm bảo hoạt động lò cao diễn ra ổn định suốt kỳ nghỉ Tết Trung thu và Quốc khánh sắp tới. Việc nhà máy tăng cường mua sắm đã đẩy nhanh lượng hàng thông qua cảng, làm giảm tổng lượng tồn kho trên 47 cảng xuống còn 170,2 triệu tấn.

Phế liệu (Scrap)

Ngày 20/9, giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định. Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze đạt 2.082 NDT/t, đi ngang; chỉ số giá phế liệu nặng 2.056 NDT/t; chỉ số giá phế liệu vụn 2.108 NDT/t. Cụ thể theo khu vực: Đường Sơn 2.040 NDT/t (đi ngang); Trương Gia Cảng 2.060 NDT/t (đi ngang). Nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế. Các nhà máy lò cao đang điều chỉnh cơ cấu liệu, tăng tỷ lệ sử dụng phế liệu do tính kinh tế cao hơn so với gang lỏng.

Phôi thép (Billet)

Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn ngày 20/9 ở mức 3.000 NDT/t, đi ngang so với phiên trước. Một số nhà máy Indonesia duy trì giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 480 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Ngày 20/9, thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế.

HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc ổn định ở mức 495 USD/tấn FOB. Các nhà máy thép lớn vẫn giữ giá xuất khẩu đối với HRC mác Q235 và SS400 ổn định ở mức 495-505 USD/tấn FOB Trung Quốc. Một nhà máy miền Bắc Trung Quốc giữ vững giá HRC SS400 ở mức 503-505 USD/tấn FOB. Tại khu vực ASEAN, giá HRC không đổi ở mức 535 USD/tấn CFR Việt Nam. Thị trường Việt Nam ổn định, khi người mua tỏ ra ít quan tâm đến HRC nhập khẩu do lượng hàng tồn kho nội địa cao.

Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Giá chào bán thép cây của Trung Quốc sang Singapore giữ nguyên ở mức 510-520 USD/tấn CFR trọng lượng lý thuyết.

Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc ổn định ở mức 499 USD/tấn FOB, với các nhà máy Trung Quốc duy trì giá chào xuất khẩu ở mức 497-515 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 10. Giá chào dây cuộn của Indonesia ổn định ở mức 510 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12. Thép dây SAE1008 chào 508 USD/tấn FOB miền bắc Trung Quốc.

Phôi dẹt (Slab): Đánh giá hàng tuần về phôi dẹt FOB Châu Á tăng 5 USD/tấn lên 485 USD/tấn. Một nhà máy của Indonesia đã nâng giá chào xuất khẩu phôi dẹt mác dùng cán cuộn thêm 5 USD/tấn trong tuần lên mức 490 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12. Phôi dẹt mác dùng cho cán tấm có xuất xứ từ Trung Quốc được chào ở mức 510 USD/tấn FOB trở lên.

Bối cảnh quốc tế

Ấn Độ: Giá HRC nội địa Ấn Độ tăng tuần thứ sáu liên tiếp. Giá chào HRC của Ấn Độ sang Châu Âu tiếp tục tăng lên 705 USD/tấn CFR. Giá chào của Ấn Độ đứng ở mức 720-730 USD/tấn CFR EU.

Nhật Bản: Các nhà sản xuất thép dẹt Nhật Bản đã nâng giá trong tuần này. Đánh giá xuất khẩu hàng tuần của HRC tăng 15 USD/tấn lên 615 USD/tấn FOB. Giá đánh giá HRC giao xưởng tăng 20 USD/tấn lên 620 USD/tấn.

Mexico: Các nhà sản xuất thép Mexico giữ giá HRC nội địa ổn định tính theo đồng đô la, nhưng đồng peso suy yếu đã đẩy giá nội địa tăng 300 peso/tấn trong tuần này.

EU: Giá thép tấm cán nóng tại Châu Âu tăng nhẹ trong tuần qua. Đánh giá hàng tuần về thép tấm giao hàng tại tây bắc EU tăng 5 euro/tấn lên 805 euro/tấn, trong khi đánh giá tại Ý tăng lên 820 euro/tấn.

Mỹ: Nucor đã nâng giá chào bán thép cuộn cán nóng (HRC) trong 8 tuần liên tiếp, đưa mức giá lên 1.200 USD/tấn ngắn đối với phần lớn các nhà máy sản xuất của hãng và 1.260 USD/tấn ngắn đối với bộ phận kinh doanh California Steel Industries. Đánh giá giá giao ngay HRC tại Mỹ ở mức 1.241,75 USD/tấn ngắn.

Thổ Nhĩ Kỳ: Giá thép cây FOB tăng 7,50 USD/tấn lên 612,50 USD/tấn FOB; giá dây thép cuộn FOB tăng 12,50 USD/tấn lên 620 USD/tấn FOB.

Rào cản thương mại: Bộ Thương mại Mỹ đã ban hành các lệnh áp thuế chống bán phá giá (AD) và thuế chống trợ cấp (CVD) đối với thép cây nhập khẩu từ Bulgaria, Egypt và Vietnam. Các nhà sản xuất thuộc Tập đoàn Hòa Phát của Việt Nam nhận được biên độ bán phá giá 128,53% và mức biên độ 136,57% áp dụng cho thực thể toàn quốc gia Việt Nam. Thuế CVD áp dụng cho Hòa Phát ở mức 6,8%.

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Ngắn hạn ngày 21/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Các yếu tố chi phối bao gồm:

Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; tuy nhiên, thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành đã làm suy yếu hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu. Giá than cốc giao ngay tại An Trạch, Lâm Phần đã giảm 40 NDT/t. Giá quặng sắt biến động yếu, dao động trong vùng 670-710 NDT/t. Thị trường thiếu động lực tăng trong ngắn hạn do nguồn cung dồi dào và nhu cầu thép yếu.

Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Kỳ vọng Fed tăng lãi suất đang gây áp lực lên tâm lý thị trường. Hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng, các giao dịch chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế. Thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực từ hoạt động giao dịch khi tổng khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm tăng 5,87% so với tuần trước, cho thấy nhu cầu thực tế có dấu hiệu cải thiện.

Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 8 tháng giảm 19,9%, diện tích khởi công mới giảm mạnh. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Sản lượng thép thô tháng 8 giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tồn kho vẫn tương đối cao.

Chính sách và can thiệp thị trường: Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. Khả năng sinh lời của các nhà máy Trung Quốc đã giảm xuống dưới 10%; khoản lỗ 150-200 NDT/tấn dự kiến sẽ khuyến khích một số việc cắt giảm sản lượng, nhưng hầu hết các nhà máy đều miễn cưỡng đóng cửa thêm các lò cao trừ khi dòng tiền rơi vào áp lực nghiêm trọng. Tỷ lệ vận hành lò cao vẫn duy trì ở mức tương đối cao 80-85% vào đầu tháng 9.

Phân hóa sản phẩm: Thép dài và HRC được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng mùa vụ, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi nhu cầu. CRC/HDG tăng chậm hơn; thép tấm chịu áp lực từ cung dồi dào, cầu yếu. Thép hình duy trì xu hướng yếu do tồn kho cao và nhu cầu xây dựng chưa phục hồi. Các nhà máy lớn như Baosteel, Ansteel, Shougang đã công bố tăng giá thép dẹt tháng 10 thêm 100-200 NDT/tấn, phản ánh nỗ lực chuyển chi phí tăng sang thị trường.

Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài, tạo cơ hội cho thép nhập khẩu.

Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm và khả năng triển khai vòng tăng thứ sáu; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại. Đối với các nhà máy, cần cân nhắc kỹ chiến lược bảo trì và cắt giảm sản lượng để tránh thua lỗ sâu, đặc biệt trong bối cảnh CISA kêu gọi kiểm soát sản lượng.

Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Nếu nhu cầu thực tế thấp hơn kỳ vọng, nhà máy có thể bảo trì nhiều hơn do thua lỗ, cắt giảm sản lượng sẽ làm suy yếu giá nguyên liệu và giảm hỗ trợ chi phí cho thép. Thị trường đang trong giai đoạn không có xu hướng đơn phương rõ ràng, với các yếu tố hỗ trợ và áp lực đan xen.

Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.