Bước sang tuần giao dịch mới (14/9/2026), thị trường thép Trung Quốc được dự báo tiếp tục duy trì trạng thái điều chỉnh phân hóa với biên độ dao động hẹp. Dữ liệu chốt tuần 7-11/9 cho thấy giá thép dài và thép dẹt đồng loạt suy yếu, giao dịch chậm lại, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào vẫn được nâng đỡ bởi vòng tăng giá cốc luyện kim lần thứ năm đã chính thức có hiệu lực. Tâm lý thị trường chịu áp lực kép từ kỳ vọng Fed tăng lãi suất và thực tế nhu cầu hạ nguồn chưa có bứt phá. Tồn kho các nhóm sản phẩm chính tiếp tục giảm chậm, phản ánh mức độ thẩm thấu của nhu cầu mùa tiêu thụ tháng 9 còn hạn chế.
TRONG NƯỚC
+ THÉP XÂY DỰNG
Tuần 7-11/9, giá thép xây dựng trong nước Trung Quốc ghi nhận mức điều chỉnh giảm nhẹ. Cụ thể, giá thép cây Φ25mm III bình quân tại các thành phố chính đạt 3.266 NDT/t, tăng 1 NDT/t so với tuần trước; thép cuộn vằn Φ8.0mm bình quân đạt 3.501 NDT/t, tăng 3 NDT/t. Mặc dù mức tăng theo tuần không đáng kể, nhưng diễn biến trong tuần cho thấy áp lực giảm giá rõ nét hơn về cuối tuần.
Trên thị trường kỳ hạn, hợp đồng thép cây chủ lực tháng 1 trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải (SHFE) đóng cửa ngày 11/9 tại 3.108 NDT/t, giảm 39 NDT/t so với phiên trước. Khối lượng giao dịch đạt 930.000 lô, ghi nhận trạng thái gia tăng vị thế bán vào phiên chiều. Về mặt kỹ thuật, giá phá vỡ xu hướng giảm với ngưỡng hỗ trợ gần nhất tại 3.100 NDT/t; các mức hỗ trợ tiếp theo cần theo dõi là 3.080, 3.050 và 3.035 NDT/t.
Giao dịch thực tế tại các thành phố lớn đạt khoảng 85.000 tấn trong ngày 10/9, giảm 5.000 tấn so với phiên trước; nhóm khảo sát của Lanze đạt 90.700 tấn, giảm 4,47% so với phiên trước. Tính theo tuần, khối lượng giao dịch bình quân đạt 102.600 tấn/ngày, giảm 800 tấn so với tuần trước đó.
Về cung ứng, sản lượng thép cây của các nhà máy lớn tăng 25.000 tấn so với tuần trước lên 1,72 triệu tấn; tồn kho thép cây tại nhà máy tăng 23.000 tấn lên 1,62 triệu tấn. Tồn kho thép cây xã hội giảm 100.000 tấn xuống 6,65 triệu tấn, chủ yếu nhờ sản lượng nhà máy cắt giảm. Biên lợi nhuận nhà máy thép cây duy trì âm, nhiều đơn vị thực hiện bảo trì và giảm sản lượng.
Tồn kho thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm tính đến ngày 11/9 đạt 4,8957 triệu tấn, giảm 192.500 tấn so với tuần trước (tương đương -3,79% theo tuần). Trong đó, khu vực Hoa Đông giảm mạnh nhất với 77.200 tấn; Hoa Bắc giảm 39.800 tấn; Trung Nam giảm 31.600 tấn; Tây Nam giảm 19.000 tấn.
Về phía cung, tính đến ngày 9/9, trong tổng số 201 nhà máy sản xuất, có 50 nhà máy với 91 lò cao đang trong trạng thái bảo trì, tổng dung tích 98.810 m³, tăng 7.600 m³ so với tuần trước. Tỷ lệ vận hành lò cao của các doanh nghiệp thép chính đạt 78,08%, giảm 0,66 điểm phần trăm so với tuần trước. Nguyên nhân chính đến từ việc một số lò cao tại khu vực phía Bắc tập trung bảo trì và một số lò cao rút khỏi sản xuất ngắn hạn. Chi phí nguyên liệu đầu vào tăng sau khi cốc luyện kim tăng giá đã đẩy chi phí gang lỏng lên cao, trong khi nhu cầu thép thành phẩm vẫn yếu, khiến một số doanh nghiệp chủ động bảo trì để thu hẹp phạm vi thua lỗ.
Dự báo ngày 14/9: Giá thép xây dựng tiếp tục xu hướng ổn định/yếu, dao động trong vùng 3.100-3.200 NDT/t. Các nhà máy có thể giữ hoặc nâng nhẹ giá để bù đắp chi phí; người mua duy trì chiến lược mua theo nhu cầu thực tế.
+ THÉP CÔNG NGHIỆP
Thép cuộn cán nóng (HRC)
Ngày 11/9, giá HRC giao kho tại Thượng Hải đạt 3.340 NDT/t, giảm 20 NDT/t so với phiên trước. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE giảm 1,16% so với giá thanh toán phiên trước, xuống còn 3.325 NDT/t. Giá HRC bình quân 10 thành phố trọng điểm đạt 3.326 NDT/t, giảm 11 NDT/t so với ngày giao dịch trước và giảm 18 NDT/t so với tuần trước.
Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm ngày 11/9 đạt khoảng 49.200 tấn, giảm 4.970 tấn so với phiên trước. Trong đó, khu vực phía Bắc (Hàm Đan) đạt 3.980 tấn, giảm 480 tấn; khu vực phía Nam (Vô Tích) đạt 3.070 tấn, giảm 460 tấn.
Về cung cầu, tổng sản lượng HRC trong nước đạt 4,2404 triệu tấn, tăng 23.400 tấn so với tuần trước. Tồn kho nhà máy và xã hội cộng dồn đạt 5,1278 triệu tấn, tăng 1.200 tấn. Tồn kho HRC giảm gần 20.000 tấn, chậm hơn mức giảm hơn 30.000 tấn của tuần trước đó; sản lượng HRC của nhà máy giảm 50.000 tấn. Baosteel đã tăng giá xuất xưởng HRC, CRC, HDG thêm 200 NDT/t và thép tấm thêm 100 NDT/t cho đơn hàng tháng 10.
Dự báo ngày 14/9: HRC tiếp tục đi ngang hoặc giảm nhẹ, vùng 3.350-3.400 NDT/t; áp lực từ nguồn cung và tốc độ giải phóng tồn kho chậm.
Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)
Ngày 10/9, giá CRC 1.0mm bình quân đạt 3.780 NDT/t, giảm 4 NDT/t; Thượng Hải 3.760 NDT/t (-10), Quảng Châu 3.780 NDT/t (-20), Thiên Tân 3.670 NDT/t (-10). Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.098 NDT/t, giảm 7 NDT/t; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.412 NDT/t, tăng 5 NDT/t. Giao dịch duy trì trạng thái trầm lắng.
Trong tuần 7-11/9, giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.775 NDT/t, giảm 9 NDT/t so với tuần trước. Thị trường ghi nhận đặc điểm: khu vực Hoa Nam chuyển từ dẫn dắt tăng giá sang dẫn dắt giảm giá (Quảng Châu giảm 10 NDT/t), trong khi khu vực Hoa Bắc thể hiện khả năng chống giảm tốt hơn (Thiên Tân đi ngang). Giá phôi dẹt cán nguội (nguyên liệu đầu vào) đạt 3.230 NDT/t, giảm 30 NDT/t so với tuần trước, phản ánh xu hướng điều chỉnh giảm của chi phí đầu vào.
Tồn kho xã hội CRC toàn quốc đạt 1,2574 triệu tấn, giảm 12.800 tấn so với tuần trước. Phân theo khu vực: Hoa Bắc 57.100 tấn (+600 tấn), Hoa Đông 504.000 tấn (+4.900 tấn), Trung Nam 426.900 tấn (-13.700 tấn). Tồn kho tổng thể vẫn ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây.
Dự báo ngày 14/9: CRC/HDG phân hóa; CRC yếu, HDG/tôn phủ màu có thể ổn định nhờ nhà máy giữ giá, nhưng chi phí đầu vào hạ nhiệt.
Thép tấm (Plate)
Ngày 10/9, khối lượng giao dịch thép tấm trung dày đạt 51.700 tấn, giảm 3,07% so với phiên trước; tính theo tuần tăng 13,22%, theo tháng tăng 0,74%, so cùng kỳ tăng 4,23%. Sản lượng thép tấm trung dày của 44 nhà máy mẫu đạt 2,0491 triệu tấn, giảm 6.500 tấn so với tuần trước. Tồn kho xã hội tại Vũ An đạt 525.000 tấn, giảm 26.000 tấn so với tuần trước và giảm 78.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng giao dịch bình quân ngày của 105 nhà giao dịch tại 15 thành phố trọng điểm đạt 53.700 tấn, tăng 3.500 tấn so với tuần trước.
Dự báo ngày 14/9: Thép tấm đi ngang hoặc giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào, nhu cầu yếu.
Thép hình (Section steel)
Tuần 7-11/9, giá thép hình trong nước suy yếu với mức giảm 10-20 NDT/t tại hầu hết các thành phố. Giá thép chữ I bình quân đạt 3.566 NDT/t (-7 NDT/t); thép chữ U 3.549 NDT/t (-9); thép góc 3.443 NDT/t (-9); thép H 3.444 NDT/t (-5). Chênh lệch giá phôi - thành phẩm thu hẹp: thép I - phôi 280 NDT/t (-20); thép U - phôi 260 NDT/t (-20); thép góc - phôi 270 NDT/t (-30); thép H - phôi 390 NDT/t (-10).
Khối lượng xuất xưởng hàng tuần của các nhà máy phôi tại Đường Sơn đạt 130.000 tấn, giảm 20.000 tấn so với tuần trước. Tỷ lệ vận hành của 21 nhà máy thép hình dài duy trì ở mức 72,7%, đi ngang so với tuần trước; tỷ lệ sử dụng công suất giảm 1,1 điểm phần trăm. Tồn kho thành phẩm thép hình toàn quốc đạt 1,778 triệu tấn, giảm 10.000 tấn so với tuần trước, trong đó tồn kho nhà máy dài hạn 1,068 triệu tấn và tồn kho nhà máy phôi 710.000 tấn. Mức giảm tồn kho còn nhỏ và chủ yếu nhờ cắt giảm nguồn cung, lực kéo từ nhu cầu thực tế còn hạn chế.
Dự báo ngày 14/9: Thép hình duy trì xu hướng ổn định/yếu, chịu áp lực từ nhu cầu yếu và tồn kho cao.
+ NGUYÊN LIỆU THÔ
Cốc luyện kim (Coke)
Tuần 7-11/9, thị trường cốc luyện kim Trung Quốc tiếp tục duy trì xu hướng偏强 (thiên về tăng). Vòng tăng giá thứ năm với mức tăng 100-110 NDT/t đã chính thức được chấp nhận, nâng tổng mức tăng lũy kế của 5 vòng lên 450-495 NDT/t. Cụ thể: cốc khô loại 1 tại Đường Sơn (Hà Bắc) đạt 2.560 NDT/t (+110); cốc khô loại 1 tại Hàm Đan (Hà Bắc) đạt 2.350 NDT/t (+110); cốc khô loại 1 tại Lâm Phần (Sơn Tây) đạt 2.540 NDT/t (+110); cốc khô loại 1 xuất xưởng tại Lâm Nghi (Sơn Đông) đạt 2.460 NDT/t (+110).
Về chi phí và lợi nhuận, giá cốc tại Đường Sơn đạt 2.560 NDT/t (+110), Trường Trị 2.360 NDT/t (+110), Lâm Nghi 2.460 NDT/t (+110). Lỗ bình quân của các nhà máy cốc độc lập đạt 231 NDT/t, tăng 16 NDT/t so với tuần trước. Hầu hết các vùng sản xuất đều trong trạng thái thua lỗ: Thiểm Tây lỗ 373 NDT/t, Nội Mông lỗ 376 NDT/t, Ninh Hạ lỗ 364 NDT/t, Sơn Tây lỗ 40 NDT/t, Hà Bắc lỗ 178 NDT/t, Sơn Đông lỗ 52 NDT/t.
Hợp đồng cốc kỳ hạn 2701 trên Sở Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm mạnh 108,5 điểm trong tuần, tương đương mức giảm 5%, gây áp lực trực tiếp lên tâm lý thị trường và tạo kỳ vọng bi quan về xu hướng chi phí thép thành phẩm và phôi thép trong thời gian tới.
Về cung cầu, một số nhà máy cốc đã chủ động cắt giảm sản lượng sau giai đoạn thua lỗ sâu, duy trì tồn kho ở mức thấp. Phía cầu, một số nhà máy thép thực hiện bảo trì do thua lỗ, sản lượng gang lỏng giảm, nhưng nhu cầu cốc cơ bản vẫn còn. Nhu cầu mua than luyện cốc của các nhà máy thép vẫn duy trì, tồn kho than luyện cốc trong chuỗi tiếp tục xu hướng giảm.
Dự báo ngày 14/9: Giá cốc tiếp tục duy trì xu hướng, nhưng rủi ro phản hồi tiêu cực từ nhu cầu thép vẫn hiện hữu. Khả năng tiếp tục tăng giá được đánh giá không cao do tâm lý thị trường yếu và nhu cầu hạ nguồn ảm đạm.
Than mỡ luyện cốc (Coking coal)
Ngày 10/9, giá than mỡ luyện cốc ổn định, một số khu vực duy trì xu hướng tăng. Tại Đường Sơn: 2.265 NDT/t (+120); than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần: 2.620 NDT/t (ổn định); than gầy Hàn Thành: 1.700 NDT/t (ổn định). Than nguyên khai mác 5 Mông Cổ: 1.680 NDT/t; than sạch: 1.872 NDT/t. Hợp đồng than mỡ luyện cốc trên DCE còn 1.649 NDT/t (-13).
Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than复产 (phục hồi sản xuất) nhưng tốc độ chậm. Tâm lý thận trọng gia tăng, giá đấu giá trực tuyến một số chủng loại than giảm, tỷ lệ đấu giá thất bại tăng. Nhập khẩu than Mông Cổ: lượng thông quan qua biên giới duy trì ở mức thấp; giá than nguyên khai mác 5 Mông Cổ phổ biến khoảng 1.681 NDT/t.
Dự báo ngày 14/9: Than mỡ luyện cốc duy trì vùng giá cao, đi ngang hoặc tăng nhẹ.
Quặng sắt (Iron ore)
Ngày 10/9, quặng sắt nhập khẩu suy yếu. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu: 702 NDT/t (-4); Thanh Đảo PB: 698 NDT/t (-4); Thiên Tân PB 61,5%: 719 NDT/t (-3). Hợp đồng quặng sắt trên DCE: 730,5 NDT/t (-7). Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE giảm 9 điểm trong tuần, tương đương -1,24%.
Giá quặng sắt tại cảng Kinh Đường (PB fines): 713 NDT/t, giảm 15 NDT/t so với tuần trước. Mức giảm này phần nào làm giảm áp lực chi phí sản xuất cho các nhà máy thép, tạo không gian cho giá phôi thép điều chỉnh.
Dự báo ngày 14/9: Quặng sắt tiếp tục yếu, còn rủi ro giảm; nhu cầu mua của nhà máy thận trọng.
Phế liệu (Scrap)
Tuần 7-11/9, giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng (thiên về tăng nhưng ở trạng thái quan sát). Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze ngày 11/9 đạt 2.089 NDT/t, đi ngang so với tuần trước; chỉ số giá phế liệu nặng 2.063 NDT/t (đi ngang); chỉ số giá phế liệu vụn 2.116 NDT/t (+0,1%).
Cụ thể theo khu vực: Hoa Đông - Giang Âm 2.100 NDT/t (đi ngang), Thanh Đảo 2.055 NDT/t (đi ngang); Hoa Bắc - Đường Sơn 2.040 NDT/t (đi ngang), Thiên Tân 2.160 NDT/t (đi ngang); Đông Bắc - Liêu Dương 2.150 NDT/t (đi ngang), Thẩm Dương 2.080 NDT/t (+30).
Về cung cầu, nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, tâm lý giữ giá của các cơ sở thu mua gia tăng. Nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế, tiến độ thu mua chậm lại. Tồn kho phế liệu ở mức thấp lành mạnh, duy trì xu hướng giảm nhẹ.
Dự báo ngày 14/9: Giá phế liệu duy trì ổn định, dao động trong biên độ hẹp.
Phôi thép (Billet)
Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn giảm 30 NDT/t xuống còn 3.000 NDT/t. Một nhà máy Indonesia duy trì giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 480 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Dự báo ngày 14/9, thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế.
HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc ổn định ở mức 499 USD/tấn FOB (giảm 2 USD/tấn so với trước). Các nhà máy lớn duy trì chào giá 510-515 USD/tấn FOB cho mác SS400 và Q235; một số nhà máy tư nhân miền Bắc chào 500-505 USD/tấn FOB. Một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc đã hạ giá chào xuất khẩu thêm 4 USD/tấn so với đầu tuần xuống còn 508 USD/tấn FOB Thiên Tân đối với HRC mác Q235. Một nhà máy khác chào bán ở mức tương đương 501 USD/tấn FOB Trung Quốc, với mức giá có thể giao dịch đạt khoảng 498 USD/tấn FOB.
Tại khu vực ASEAN, giá HRC duy trì ổn định ở mức 536 USD/tấn CFR Việt Nam. Thị trường Việt Nam rơi vào tình trạng đình trệ với khoảng cách chênh lệch giá lớn giữa bên bán và bên mua: bên bán duy trì giá chào 539-540 USD/tấn CFR Việt Nam đối với thép cuộn mác SAE1006 xuất xứ Indonesia; người mua khăng khăng giữ mức 535 USD/tấn CFR Việt Nam. Cả hai phía đều không sẵn sàng nhượng bộ và không có giao dịch nào được ghi nhận. HRC Ấn Độ chào 545 USD/tấn CFR Việt Nam nhưng không có người mua.
Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc duy trì ở mức 483 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Các nhà máy chào 482-495 USD/tấn FOB cho HRB400/B500B; chào Singapore 510-520 USD/tấn CFR, tương đương 485-495 USD/tấn FOB. Phần lớn nhà máy không bán dưới 490 USD/tấn FOB do giá nội địa vững và chi phí cao. Định giá hàng tuần của thép cây khu vực Đông Nam Á tăng 2 USD/tấn lên 508 USD/tấn theo điều kiện CFR Singapore.
Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc đạt 505 USD/tấn; chào 509-510 USD/tấn FOB cho giao hàng tháng 10; giá xuất xưởng nội địa 3.260-3.290 NDT/t. Các nhà máy lớn ở miền Bắc Trung Quốc giữ nguyên giá chào ở mức 515-520 USD/tấn FOB đối với thép dây chất lượng kéo lưới. Hầu hết người mua Đông Nam Á không sẵn sàng chốt đơn hàng thép dây Trung Quốc ở mức trên 500 USD/tấn CFR, tương đương 475-485 USD/tấn FOB. Giá chào thép dây của Indonesia không đổi ở mức 505 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.
Phôi thép (Billet): Chào xuất khẩu 475-480 USD/tấn FOB cho giao hàng tháng 11; giá xuất xưởng Đường Sơn 3.000 NDT/t (-30).
CRC/HDG: CRC mác SPCC chào 545-570 USD/tấn FOB; HDG mác SGCC chào 575-590 USD/tấn FOB.
Thép tấm (Plate): Giá chào phổ biến đối với thép tấm xuất xứ Trung Quốc dao động ở mức 538-565 USD/tấn FOB Trung Quốc tùy thuộc vào nhà máy và mác thép. Một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc chào bán thép tấm mác Q235 ở mức 538-547 USD/tấn FOB trong tuần này đối với các lô hàng giao tháng 12; mức giá chào tham khảo đối với thép tấm mác A36 là 555 USD/tấn FOB Thiên Tân. Giá thép tấm FOB Trung Quốc do Argus đánh giá đã tăng 56 USD/tấn từ mức 481 USD/tấn vào ngày 2/7 lên 541 USD/tấn vào ngày 10/9. Trung Quốc đã xuất khẩu 332.247 tấn thép tấm cán nóng (mã HS 722540) trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7 năm nay, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Slab: Bán thành phẩm phôi dẹt dùng để cán thép tấm được chào ở mức 510 USD/tấn FOB trong tuần này; loại dùng để cán thép cuộn được chào ở mức 500-505 USD/tấn FOB, nhìn chung ngang bằng với giá xuất khẩu HRC.
Bối cảnh quốc tế
Giá HRC tại Tây Bắc EU đạt 736 EUR/tấn ex-works, Ý đạt 734,25 EUR/tấn; chào chính thức 750-770 EUR/tấn; nhập khẩu CFR Ý 730 EUR/tấn, CRC 835 EUR/tấn. Anh HRC 705 GBP/tấn ddp; HDG 730 GBP/tấn.
Thổ Nhĩ Kỳ: HRC trên 600 USD/tấn ex-works, thép cây FOB 600 USD/tấn, dây cuộn FOB 607,5 USD/tấn. Giá HDG mác Z100 độ dày 0,50mm tăng 22,5 USD/tấn lên 800 USD/tấn giao tại xưởng (nội địa) và tăng 25 USD/tấn lên 770 USD/tấn (xuất khẩu). CRC nội địa và xuất khẩu đều tăng 15 USD/tấn, đạt 700 USD/tấn.
Ấn Độ: HRC nội địa 61.250 rupee/tấn (642 USD/tấn) ex-works Mumbai; HRC FOB 590 USD/tấn (tăng từ 570 USD/tấn); CRC nội địa 71.350 rupee/tấn (+600 rupee/tấn); thép mạ kẽm 0.8mm 80gsm 78.000 rupee/tấn (+1.500 rupee/tấn). Các nhà máy Ấn Độ đã nâng giá chào HRC xuất khẩu sang EU thêm 25-35 USD/tấn, với giá chào 710-725 USD/tấn CFR EU cho các lô hàng giao tháng 10-11.
Phôi dẹt CFR Ý 575 USD/tấn, Biển Đen 480 USD/tấn, Brazil FOB 580 USD/tấn, Indonesia FOB 485 USD/tấn, Trung Quốc 515-530 USD/tấn FOB cho tháng 11.
Baosteel đã tăng giá HRC nội địa thêm 200 NDT/tấn (30 USD/tấn) cho các đơn hàng giao tháng 10. ArcelorMittal tăng giá HRC tại châu Âu thêm 20 EUR/tấn (23 USD/tấn) cho các lô hàng giao tháng 11/2026. China Steel Corporation (CSC) Đài Loan công bố giá tháng 10 với thép cán nóng và cán nguội tăng 600 Đài tệ/tấn, thép mạ kẽm tăng 500 Đài tệ/tấn.
Căng thẳng địa chính trị tại Biển Đỏ: Lực lượng nổi dậy Houthi ở Yemen chiếm giữ thành phố cảng Mocha, làm gia tăng rủi ro vận tải biển. Đối với các lô hàng phôi thép 50.000 tấn từ Trung Quốc đi Thổ Nhĩ Kỳ, cước vận tải đã nhích lên mức 50-55 USD/tấn. Cước vận tải đi Oman tăng lên khoảng 36 USD/tấn từ mức 25 USD/tấn hai tuần trước đó.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Ngắn hạn ngày 14/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Các yếu tố chi phối bao gồm:
Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; giá than mỡ luyện cốc duy trì vùng cao; quặng sắt biến động yếu. Tuy nhiên, NDRC đã họp về tăng cường vận chuyển than từ Tân Cương và DCE áp hạn mức giao dịch quặng sắt trong ngày nhằm hạn chế đầu cơ, tạo áp lực lên nguyên liệu.
Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Kỳ vọng Fed tăng lãi suất (xác suất 71% cho cuộc họp ngày 16/9) đang gây áp lực lên tâm lý thị trường.
Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 7 tháng giảm 19,1%, diện tích khởi công mới giảm 24%. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8; so cùng kỳ giảm 3,4% và 3,1%. Tồn kho vẫn tương đối cao.
Phân hóa sản phẩm: Thép dài và HRC được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng mùa vụ, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi nhu cầu. CRC/HDG tăng chậm hơn; thép tấm chịu áp lực từ cung dồi dào, cầu yếu.
Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng (Thái Lan rà soát thuế AD đối với HDG Trung Quốc) gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics.
Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại.
Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Nếu nhu cầu thực tế thấp hơn kỳ vọng, nhà máy có thể bảo trì nhiều hơn do thua lỗ, cắt giảm sản lượng sẽ làm suy yếu giá nguyên liệu và giảm hỗ trợ chi phí cho thép. Nếu nhà máy không tiếp tục cắt giảm sản lượng, dư địa tăng giá trong tháng 9 càng bị hạn chế.
Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.




