TIN TỨC NGÀNH
1. Cục Giám sát An toàn Mỏ Quốc gia: Trong thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ 15", sẽ thúc đẩy việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn Mỏ
Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện đã tổ chức loạt họp báo chủ đề "Khởi đầu và bước đi 'Kế hoạch 5 năm lần thứ 15'" vào ngày 21. Người có trách nhiệm liên quan của Cục Giám sát An toàn Mỏ Quốc gia giới thiệu rằng, trong thời kỳ "Kế hoạch 5 năm lần thứ 15", cục sẽ thúc đẩy việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn Mỏ, gia cường nỗ lực lập pháp, sửa đổi và bãi bỏ các tiêu chuẩn ngành an toàn mỏ (KA), xây dựng và sửa đổi các tiêu chuẩn cấp bách về sản xuất an toàn mỏ, hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật giám sát và thanh tra, chuẩn hóa nghiêm ngặt việc kiểm tra và thực thi pháp luật hành chính liên quan đến mỏ, củng cố nền tảng pháp trị an toàn mỏ. (CCTV News)
2. Tháng 9, sản lượng thép cây Trung Quốc đạt 12,993 triệu tấn, giảm 12,6% so với cùng kỳ
Số liệu mới nhất từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, vào tháng 9 năm 2026, sản lượng thép cây của Trung Quốc đạt 12,993 triệu tấn, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 126,533 triệu tấn, giảm 12,0% so với cùng kỳ. Tháng 9, sản lượng thép dây (thép cuộn) Trung Quốc đạt 10,059 triệu tấn, giảm 12,9% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 92,57 triệu tấn, giảm 8,2% so với cùng kỳ. Tháng 9, sản lượng thép tấm mỏng cán nguội Trung Quốc đạt 5,022 triệu tấn, tăng 12,9% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 38,862 triệu tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ. Tháng 9, sản lượng dải thép rộng trung bình và dày Trung Quốc đạt 17,431 triệu tấn, giảm 4,9% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 161,831 triệu tấn, giảm 4,8% so với cùng kỳ. Tháng 9, sản lượng thép ống hàn Trung Quốc đạt 5,445 triệu tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 45,52 triệu tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Tháng 9, sản lượng quặng sắt nguyên khai Trung Quốc đạt 63,11 triệu tấn, giảm 23,9% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 665,451 triệu tấn, giảm 10,3% so với cùng kỳ.
3. Tháng 1 đến tháng 9, sản lượng than nguyên khai Trung Quốc đạt 3.449,049 triệu tấn
Số liệu mới nhất từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, trong tháng 9 năm 2026, sản lượng than nguyên khai của Trung Quốc đạt 385,133 triệu tấn, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 3.449,049 triệu tấn, giảm 3,5% so với cùng kỳ. Trong tháng 9, sản lượng than cốc của Trung Quốc đạt 39,042 triệu tấn, giảm 8,2% so với cùng kỳ; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 373,159 triệu tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ.
4. Sản lượng thép thô toàn quốc phân theo tỉnh thành tháng 1 đến tháng 9 đã được công bố
Số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, tháng 9 năm 2026, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 73,586 triệu tấn, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thép thô từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 724,772 triệu tấn, giảm 2,9% so với cùng kỳ. Xét theo số liệu phân bổ các tỉnh thành, từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2026, tỉnh Hà Bắc đứng đầu với sản lượng 152,3186 triệu tấn; tỉnh Giang Tô đứng thứ hai với sản lượng 87,714 triệu tấn; tỉnh Sơn Đông đứng thứ ba với sản lượng 51,6889 triệu tấn.
5. Sản lượng than nguyên khai toàn quốc phân theo tỉnh thành tháng 1 đến tháng 9 đã được công bố
Số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, tháng 9 năm 2026, sản lượng than nguyên khai của Trung Quốc đạt 385,133 triệu tấn, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cộng dồn từ tháng 1 đến tháng 9 đạt 3.449,049 triệu tấn, giảm 3,5% so với cùng kỳ. Xét theo số liệu từng tỉnh, từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2026, tốc độ tăng trưởng cộng dồn so với cùng kỳ của sản lượng than nguyên khai tại Nội Mông, Sơn Tây và Thiểm Tây lần lượt là 4,2%, -14,6% và 3,7%.
6. Sản lượng các doanh nghiệp thép thống kê trọng điểm tháng 9 năm 2026
Tháng 9 năm 2026, các doanh nghiệp thép thống kê trọng điểm sản xuất tổng cộng 61,6757 triệu tấn thép thô, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng bình quân ngày đạt 2,0559 triệu tấn, tăng 0,8% so với tháng trước; sản xuất 56,8261 triệu tấn gang, giảm 2,8% so với cùng kỳ, sản lượng bình quân ngày đạt 1,8942 triệu tấn, giảm 0,7% so với tháng trước; sản xuất 63,8595 triệu tấn thép thành phẩm, giảm 4,7% so với cùng kỳ, sản lượng bình quân ngày đạt 2,1287 triệu tấn, tăng 1,8% so với tháng trước. Từ tháng 1 đến tháng 9, các doanh nghiệp thép thống kê trọng điểm sản xuất cộng dồn 599 triệu tấn thép thô, giảm cộng dồn 3,3% so với cùng kỳ, sản lượng bình quân ngày cộng dồn của thép thô đạt 2,1925 triệu tấn; sản xuất cộng dồn 543 triệu tấn gang, giảm cộng dồn 2,4% so với cùng kỳ, sản lượng bình quân ngày cộng dồn của gang đạt 1,9902 triệu tấn; sản xuất cộng dồn 604 triệu tấn thép thành phẩm, giảm cộng dồn 4,2% so với cùng kỳ, sản lượng bình quân ngày cộng dồn của thép thành phẩm đạt 2,2109 triệu tấn.
7. Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA): Tự kỷ luật kiểm soát sản xuất và giảm tồn kho là chìa khóa để vận hành ổn định
Nhu cầu thép tháng 9 thấp hơn kỳ vọng, chi phí hỗ trợ trong tháng 10 suy yếu, giá biến động theo xu hướng yếu. Kinh tế toàn cầu thể hiện tính chống chịu, chính sách tài khóa và tiền tệ trong nước tăng cường đầu tư hạ tầng, kỳ vọng sẽ hỗ trợ nhu cầu theo từng giai đoạn. Sản lượng thép thô bình quân ngày đầu tháng 10 tăng 3,1% so với tháng trước, tồn kho tại các doanh nghiệp thép trọng điểm tăng 8,4% so với tháng trước, tồn kho xã hội tăng 2,7% so với tháng trước, áp lực nguồn cung gia tăng. CISA chỉ ra rằng áp lực giảm sút nhu cầu rất nổi bật, bất động sản kéo giảm rõ rệt. Hiệp hội nhấn mạnh rằng việc tự kỷ luật kiểm soát sản xuất và giảm tồn kho là chìa khóa để vận hành ổn định, các doanh nghiệp nên kiên định nguyên tắc ưu tiên hiệu quả, sản xuất theo đơn hàng, tránh việc khôi phục sản xuất mù quáng và cạnh tranh ác ý.
8. Sơn Tây đẩy nhanh việc khôi phục sản xuất, tăng sản lượng và đảm bảo cung ứng mỏ than, sản lượng than nguyên khai tháng 9 gần 80 triệu tấn
Phóng viên được biết từ Cục Thống kê tỉnh Sơn Tây vào ngày 21 tháng 10 rằng, sản lượng than nguyên khai của Sơn Tây trong tháng 9 đã đạt 78,826 triệu tấn, lập mức cao mới về sản lượng trong vòng bốn tháng qua. Sau khi trải qua giai đoạn sụt giảm sản lượng rõ rệt trước đó, hoạt động sản xuất than của Sơn Tây đang dần hồi phục dưới tiền đề an toàn và có thể kiểm soát, cung cấp hỗ trợ cho việc bảo đảm cung ứng năng lượng trong mùa đông năm nay và mùa xuân năm sau.
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA TRUNG QUỐC NGÀY 22/10
Thép cán nóng (HRC): Nhịp độ khôi phục công việc không đạt kỳ vọng, các đơn vị hạ nguồn phổ biến mua theo nhu cầu sử dụng, nhu cầu đầu cơ hầu như biến mất. Phía hạ nguồn chỉ duy trì việc bổ sung lượng kho nhỏ theo nhu cầu thiết yếu, áp lực xuất hàng của thương nhân thể hiện rõ, biên độ thương lượng giá vào buổi chiều đã mở rộng. Phía nguyên liệu vận hành theo hướng yếu đi, sự hỗ trợ từ chi phí có xu hướng thu hẹp ở biên độ. Toàn bộ thị trường thể hiện cục diện "nguồn cung tương đối nới lỏng, nhu cầu yếu, tâm lý thận trọng". Giai đoạn tiếp theo cần chú ý đến nhịp độ cắt giảm sản lượng của các nhà máy thép, tốc độ tiêu thụ tồn kho xã hội và tính hiệu lực của các mốc hỗ trợ quan trọng trên thị trường kỳ hạn. Tổng quan lại, dự báo giá cuộn cán nóng khu vực Kinh - Tân - Ký (Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc) ngày mai sẽ vận hành theo hướng yếu.
Thép cán nguội (CRC): Giá giao ngay cuộn thép cán nguội trên toàn quốc chủ yếu vận hành điều chỉnh yếu. Giá bình quân toàn quốc ở mức 3.765 nhân dân tệ/tấn, giảm 1 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Trong đó, giá tại thị trường Thượng Hải là 3.650 nhân dân tệ/tấn, thị trường Thiên Tân là 3.630 nhân dân tệ/tấn, giá tại thị trường Lạc Tùng (Lecong) là 3.690 nhân dân tệ/tấn. Xét về khu vực, giá tại các thị trường ngày hôm nay nhìn chung ổn định, có điều chỉnh nhỏ cục bộ, biên độ dao động tổng thể hạn chế. Về mặt thị trường, bảng điện tử (hợp đồng tương lai) cuộn cán nóng dao động trong biên độ hẹp, mức độ hỗ trợ đối với giá giao ngay cán nguội ở mức bình thường. Theo phản hồi từ các thương nhân, hiện tại các doanh nghiệp chế tạo hạ nguồn chủ yếu mua sắm theo nhu cầu, tính tích cực chuẩn bị hàng của đầu nguồn không cao, không khí giao dịch chung trên thị trường khá trầm lắng, việc hỏi giá và giao dịch không cải thiện đáng kể so với phiên trước. Về nguồn cung, công suất hoạt động các dây chuyền cán nguội của nhà máy thép hiện vẫn duy trì ở mức cao, lượng hàng đến thị trường bình thường, tốc độ tiêu thụ tồn kho xã hội chậm, áp lực phía nguồn cung vẫn còn hiện hữu. Về tâm lý, sự giải phóng nhu cầu thị trường không đạt kỳ vọng, nhịp độ mua sắm hạ nguồn duy trì sự thận trọng. Thương nhân thiếu tự tin đối với thị trường hậu kỳ, thao tác chủ yếu tập trung vào việc xuất hàng giảm tồn kho, phần lớn các thương gia giữ thái độ quan sát.
Thép ống hàn: Hiện tại từ góc độ nguồn cung, sản lượng của các nhà máy ống duy trì ở mức thấp, tồn kho tại nhà máy tích lũy nhẹ; về nhu cầu, mùa cao điểm đang dần khép lại nhưng sức bật chưa đủ, hạ nguồn chủ yếu mua sắm theo các đơn hàng nhỏ đáp ứng nhu cầu thiết yếu, trong ngắn hạn khó có sự cải thiện rõ rệt về nhu cầu; bị kìm hãm bởi tình trạng thiếu hụt nhu cầu, ý chí bổ sung kho của các thương gia hiện tại khá thận trọng, mức tồn kho duy trì ở mức thấp. Tuy nhiên, lợi nhuận của nhà máy ống rất mỏng, phần nào giới hạn không gian giảm sâu của giá cả. Tâm lý thị trường có phần thận trọng, thương nhân phần lớn tập trung xuất hàng. Tóm lại, dự báo ngày mai giá thép ống hàn trên thị trường toàn quốc sẽ chủ yếu duy trì ổn định.
Thép ống đúc: Giá hợp đồng tương lai nhóm kim loại đen dao động trong biên độ hẹp, giá thị trường thép ống đúc giảm nhẹ. Phía nguồn cung, giá phôi ống tại Sơn Đông và Giang Tô đều tạm ổn định, giá xuất xưởng của các nhà máy ống chủ yếu tạm ổn định, sự hỗ trợ về chi phí và vai trò nâng đỡ của nhà máy ống vẫn còn, nhịp độ cung ứng thị trường ổn định; phía nhu cầu, hạ nguồn chủ yếu mua sắm theo nhu cầu thiết yếu, giao dịch khó có sự bứt phá lớn, tuy nhiên mức chênh lệch giá giữa thị trường chủ lực và Lâm Nghi (Linyi) vẫn ổn định, áp lực giảm bù ngắn hạn có phần dịu bớt; mặt tâm lý, thương nhân phần lớn giữ thái độ thận trọng quan sát, ý định điều chỉnh giá không cao. Tổng hợp lại, dự báo giá thép ống đúc ngày mai có khả năng vận hành ổn định.
Sáng ngày 22 tháng 10: Giá thị trường phôi thép toàn quốc ổn định, hướng tăng 10-20 nhân dân tệ/tấn, chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi xu hướng biến động tăng của thép cây kỳ hạn, nhưng thị trường giao ngay chủ yếu giao dịch ở khâu thương mại, các nhà máy cán lại phôi mua phôi ở mức bình thường. Trong đó, giao dịch tài nguyên giao trực tiếp phôi thép Đường Sơn ở mức bình thường, trọng tâm giá giao ngay kho bãi dịch chuyển lên 10 nhân dân tệ/tấn, một số tài nguyên giao ngay giao dịch ở mức 3.010-3.015 nhân dân tệ/tấn, giá sản phẩm thành phẩm cán lại từ phôi của hạ nguồn có xu hướng mạnh lên đôi chút, thép hình giá rẻ có khối lượng giao dịch tăng, các loại khác nhìn chung ở mức bình thường.













