TỔNG HỢP THỊ TRƯỜNG TUẦN 42 (19/10-24/10)
I/MẢNG KẾT CẤU
Thị trường thép kết cấu đảo chiều. Giao dịch chậm lại rõ rệt, giá quay đầu đi xuống và hiện thấp hơn mặt bằng đầu tháng khoảng 300-400đ/kg. Đầu tháng, Hòa Phát điều chỉnh tăng 200đ/kg. Các đơn vị thương mại và gia công hàng kết cấu đã kỳ vọng giá bán lẻ sẽ đi theo. Nhưng sức mua thực tế không hấp thụ nổi mức giá đó, nên người bán buộc phải giảm giá để giữ lượng hàng quay vòng.
Điều đáng chú ý hơn là chiều sâu của sự chậm lại. Nhiều thương nhân cho biết quý 4 năm nay chậm bất thường. Trong 5 năm gần đây, quý 4 luôn là giai đoạn bán buôn sôi động, hàng ra tấp nập trước khi vào cuối năm. Năm nay thì ngược lại.
Theo giới thương mại, có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất là nguồn hàng nhập từ Trung Quốc bị chặn. Lô nhập cuối cùng về từ tháng 4, và nguồn hàng giá rẻ từ thị trường này vì vậy bị cắt đứt, kéo theo mất đi một lớp giá thấp vốn giúp thị trường xoay vòng. Thứ hai là chi phí vốn. Lãi suất vay ngân hàng đang ở mức cao, trong khi hạn mức tín dụng tập trung vào các doanh nghiệp bất động sản lớn. Nhóm khách hàng cấp thấp vì thế không còn đủ dòng tiền để mua hàng tồn kho, chỉ mua khi thật sự cần.
Trước tình hình này, một số đơn vị đã đổi cách làm. Thay vì nhập khẩu trực tiếp nguyên tàu, một vài đơn vị chuyển sang bắt các lô nhỏ, lấy hàng để luân chuyển cho khách và giữ dòng tiền. Trong một thị trường mà tiền mặt quan trọng hơn lợi nhuận, giữ được vòng quay là giữ được vị thế. Sang đến cuối năm, người vững vàng hơn sẽ là người giữ được dòng tiền, không phải người nhập được nhiều hàng.
II/ MẢNG TÔN – ỐNG
Diễn biến của mảng tôn mạ tuần này tương tự mảng kết cấu: tài chính yếu kéo theo sức mua yếu. Giá tôn mạ đã tăng liên tục từ cuối tháng 8 đến nay, nhưng đầu quý 4 sức mua lại kém xa kỳ vọng mà nhiều đơn vị đặt ra khi triển khai chính sách giá. Đà tăng đã đi trước nhu cầu thực tế một quãng khá dài.
Để kích cầu, thị trường ghi nhận một số ưu đãi công khai nhân dịp 20/10. Song song đó, các khoản ưu đãi kín tăng lên, gồm chiết khấu và hoa hồng cho đại lý, cao hơn khoảng 50-100đ/kg so với đầu và cuối tháng trước. Giá niêm yết gần như đứng yên, còn phần nhượng bộ thực sự được chuyển sang các kênh không công khai.
Giá bán ra khó giảm ngay vì giá thành phẩm vẫn mang dấu vết của nguyên liệu đầu vào các tháng trước. Chi phí điện cũng thêm áp lực. Tuần này xuất hiện thông tin về khung giờ cao điểm điện mới, theo đó các ngành sản xuất nặng như thép được đánh giá có thể chịu mức tăng giá điện dưới 9%. Đây là khoản chi phí mới đè lên giá thành sản xuất và giá bán ra.
Mâu thuẫn nằm ở chỗ nguyên liệu và giá bán đang đi ngược chiều. Giá HRC có xu hướng giảm, giá dầu và kẽm không còn bật tăng, nhưng giá treo bán của các đơn vị vẫn không nhúc nhích. Khoảng cách này làm dấy lên lo ngại về sức mua chung. Người mua thấy chi phí đầu vào hạ nhiệt, càng chưa có lý do để xuống tiền ở mặt bằng giá hiện tại.
Ở thượng nguồn, hoạt động nhập khẩu vẫn tiếp tục. Tuần này ghi nhận khoảng 2 tàu HRC từ Indonesia, thuộc nhóm nhà cán lại, được chốt cho nhu cầu sản xuất đầu năm 2027. Khi thị trường chưa tìm được điểm cân bằng giữa giá thành và sức mua, các nhà máy đang đặt cược vào việc chuẩn bị nguồn hàng từ sớm và bỏ qua nhịp chờ đợi ngắn hạn.
III/ THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT QUỐC TẾ
Trung Quốc
Giá HRC xuất khẩu Trung Quốc đi ngang quanh 497 USD/tấn FOB trong giai đoạn 19-21/10, gần như không đổi so với tuần trước. Các nhà máy lớn ở miền Đông giữ chào 500 USD/tấn FOB Zhangjiagang và Bayuquan, mức khả thi 495-500 USD, vẫn thương lượng được nếu người mua ra giá chắc. Đồng nhân dân tệ mạnh lên đang đỡ giá phần nào. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE đóng cửa 3.244 NDT/tấn (khoảng 483 USD) ngày 21/10, nhích nhẹ so với 3.237 NDT của 14/10. Lực nâng đến từ kỳ vọng chính sách. Ngày 20/10, NDRC cho biết đang xây dựng chiến lược mở rộng nhu cầu nội địa giai đoạn 2026-2030, phối hợp triển khai 109 dự án lớn thuộc Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 và sẽ bổ sung biện pháp kích thích khi cần. Tuy vậy, giới nhà máy và phân tích vẫn cho rằng tác động lên tiêu thụ thực tế sẽ hạn chế.
Nền cầu chưa có gì sáng hơn. Chỉ số tiêu thụ thép của khu vực chế tạo (Platts) đạt 152 điểm tháng 9, mức tăng so với cùng kỳ chậm nhất năm 2026. Doanh số xe du lịch bán lẻ 1-18/10 giảm 26% so với cùng kỳ, đè nặng lên nhu cầu tôn ô tô, nhất là CRC. Một nhà máy cho biết mảng thép dẹt đang chạy sát mức lãi gộp bằng không. Tồn kho HRC và CRC tại các thị trường lớn đến 10/10 lần lượt là 2,39 và 1,46 triệu tấn, tăng 11,7% và 2,1% so với cùng kỳ. Đầu tư tài sản cố định 9 tháng giảm 7,2%, riêng đầu tư bất động sản giảm 20,6%. Trong khi đó, nguồn cung vẫn tăng. Sản lượng thép thô bình quân ngày tháng 9 tăng 1,9% lên 2,453 triệu tấn (tổng 73,59 triệu tấn, giảm 1,4% so với tháng 8 do ít ngày hơn), còn CISA ghi nhận sản lượng ngày đầu tháng 10 tăng 3,1% lên 1,939 triệu tấn. Cầu nội địa yếu mà nhà máy vẫn tăng tốc nghĩa là áp lực đẩy sang xuất khẩu chưa thể giảm.
Về nguyên liệu, quặng sắt 62% Fe đứng ở 93,5-93,75 USD/tấn CFR, quanh vùng thấp nhất hai năm. Hợp đồng DCE tháng 1 hồi lên 681,5 NDT/tấn, chủ yếu nhờ lực mua kỹ thuật. Cung biển không thiếu: BHP sản xuất 71,9 triệu tấn tại Tây Úc trong quý 7-9 (+2% so với cùng kỳ), tồn kho cảng Trung Quốc vẫn cao và nhà máy chỉ mua đủ dùng. Than cốc Úc giữ 270 USD/tấn FOB, nhưng trên DCE hợp đồng tháng 1 rơi 79 NDT ngày 19/10 xuống 1.403 NDT, so với 1.536,5 NDT hôm 14/10, trước khi hồi nhẹ lên 1.410 NDT ngày 21/10. Sản lượng than thô tháng 9 đạt 385,13 triệu tấn (+6,4% so với tháng 8), bình quân ngày tăng 10%. Bayannur dự kiến đàm phán với phía Mông Cổ vào đầu tháng 11, thông quan Ganqimaodu được kỳ vọng dần trở lại bình thường. Chỗ đỡ chi phí của than cốc đang mỏng đi.
Hàng đi Việt Nam: Metal Expert đánh giá HRC 2mm CFR Việt Nam ở 552 USD/tấn, giảm 2 USD so với 554 USD tuần trước. Cước Trung Quốc - Việt Nam nhích lên 20-22 USD/tấn từ mức 17 USD, theo một thương nhân Việt Nam.
Đài Loan
Feng Hsin Iron and Steel tăng giá thu mua phế nội địa từ 21/10: phế HMS 1/2 (80:20) cộng 300 TWD lên 10.700 TWD/tấn (khoảng 328 USD), phế tấm - kết cấu cộng 400 TWD lên 11.500 TWD/tấn. Lý do là đồng Đài tệ mất giá liên tục từ 19/10 làm hàng nhập đắt lên so với hàng nội, cộng thêm nguồn phế trong nước khan, các nhà máy tranh mua. Chỉ số HMS 1/2 CFR Đài Loan đứng ở 347 USD/tấn, tăng 3 USD. Đợt tăng này đến sau bốn tuần liền giá phế và thép cây của hãng không đổi.
Hàn Quốc
Hàn Quốc chính thức ấn định thuế chống bán phá giá 27,91-34,1% đối với thép tấm cán nóng carbon và hợp kim từ Trung Quốc. Sau quyết định này chưa ghi nhận giao dịch nào đi Hàn Quốc. Giá tấm SS400 dày 12-25mm được Platts đánh giá 555 USD/tấn CFR Hàn Quốc, tăng 5 USD so với tuần trước. Đây là mắt xích mới trong chuỗi siết phòng vệ thương mại của Seoul, sau tuần trước gia hạn thuế tạm thời với CRC mạ kẽm Trung Quốc và mở điều tra ống thép đúc. Cùng lúc đó tại Việt Nam, chào tấm Q235 từ Trung Quốc giữ ở 565-575 USD/tấn CFR, đã có giao dịch 2.000-3.000 tấn ở 555 USD/tấn CFR giao tháng 1, mức được thương nhân Việt Nam coi là còn khả thi dù nhu cầu chậm.
Nhật Bản
Tiêu thụ thép thông dụng của Nhật tháng 8 đạt khoảng 2,64 triệu tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ, nhờ xây dựng (+7,5%) và máy móc, trong khi ô tô chỉ tăng 0,4%. Với quý IV, METI dự báo nhu cầu thép tổng thể đi ngang ở 18,49 triệu tấn: nội địa tăng 1,2% lên 12,38 triệu tấn, xuất khẩu giảm 2,4% còn 6,11 triệu tấn do chủ nghĩa bảo hộ lan rộng và lượng xuất khẩu lớn của Trung Quốc. Về nguồn cung, Nakayama Steel Works khởi động lại sản xuất thép dẹt tại Funamachi từ 17/10 sau vụ cháy ngày 12/9 làm dừng dây chuyền cán nóng (1,8 triệu tấn/năm) và cán tấm (275.000 tấn/năm). Tokyo Steel tăng giá mua phế HMS 2 tại Kyushu thêm 1.000 yên lên 52.500 yên/tấn, lần điều chỉnh tăng thứ sáu kể từ giữa tháng 9.
Ấn Độ
Giá HRC nội địa Ấn Độ (IS2062, dày 2,5-10mm) giữ ở 63.800 rupee/tấn ex-works Mumbai, chưa gồm GST 18%, tương đương khoảng 672 USD/tấn. Mức giao dịch được nghe ở 63.500-64.000 rupee. Thương nhân Mumbai cho biết thị trường mềm nhẹ vì cầu rất yếu, giao dịch hạn chế, còn các nhà máy vẫn neo giá chào vững. Ở khâu tiêu thụ cuối, ô tô là điểm sáng. Tháng 9, sản xuất đạt 3,45 triệu xe (+9% so với tháng 8) và tiêu thụ 3,01 triệu xe (+17%), bán lẻ 2,54 triệu xe (+4,7%). Hiệp hội dự báo sức mua tiếp tục tăng từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 theo mùa lễ hội Navaratri, Dussehra và Diwali. Tiêu thụ thép thành phẩm 5 tháng đầu năm tài khóa đạt 70,5 triệu tấn, tăng 7,4%. Về dài hạn, JSW Utkal Steel dự kiến đưa nhà máy thiêu kết 5,75 triệu tấn/năm vào hoạt động từ tháng 5/2028 cho tổ hợp 13,2 triệu tấn/năm tại Paradeep, Odisha, trong đó 9,74 triệu tấn là thép dẹt. Nội địa tăng tốc kiểu này giúp giải thích vì sao người bán Ấn Độ ít vội với hàng xuất khẩu.
Indonesia
Chào HRC SS400/SAE1006 dày 3mm của Indonesia vào Việt Nam giữ ở 534-535 USD/tấn CFR, giao tháng 1, giảm khoảng 5-8 USD so với mức 540-542 USD tuần trước. Một nhà máy lớn của Indonesia cho biết họ không chịu áp lực phải bán sau khi đã chốt được một số giao dịch trong tuần đến 16/10. Người mua cũng không vội, ý giá nghe được ở 530 USD/tấn CFR Việt Nam trở xuống. Platts đánh giá SS400 3mm ở 532 USD/tấn CFR Đông Nam Á và SAE1006 ở 535 USD/tấn. Khoảng cách chào - mua chỉ còn vài USD cho thấy giá hàng nhập đã chạm vùng đáy tạm thời. Đây cũng là bối cảnh của các giao dịch tàu HRC giao tháng 1/2027 mà thị trường nội địa đang ghi nhận.
Trung Đông
Rủi ro vận tải vẫn đè lên khu vực. Các cuộc tấn công vào tàu thương mại tại eo Hormuz và vùng Vịnh tiếp diễn, còn lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ đối với các cảng Iran vẫn duy trì, ngoại giao chưa có đột phá. Tác động rõ nhất thể hiện ở thị trường tôn mạ UAE. Do khó nhập HRC và logistics gián đoạn, nhà máy sản xuất hạn chế, nên giá HDG giữ cao dù cầu yếu. Một nhà cung cấp lớn chào HDG 1mm Z275 khoảng 1.030 USD/tấn giao tại UAE, nhà sản xuất khác chào 1.020-1.040 USD/tấn giao tháng 12. Ấn Độ chào 0,9mm Z275 ở 960-970 USD/tấn FOB giao tháng 12. Z120 nội địa khoảng 960 USD/tấn, còn hàng Trung Quốc từ kho chào 900-950 USD/tấn. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, HRC dày 1,9-4mm nhập từ Nga giữ 580 USD/tấn CFR, HRC Nga giữ 510 USD/tấn FOB Biển Đen, đều không đổi so với tuần trước.
Châu Âu
HRC cơ sở tại Đức tiếp tục đứng ở 740 EUR/tấn EXW (Platts), ngang với Ý, và Tây Ban Nha giao tại nơi ở 750 EUR/tấn. Giá mục tiêu của nhà máy Đức ở 790 EUR/tấn EXW vẫn chưa khả thi, các chào cạnh tranh nhích trên 800 EUR. HRC nhập khẩu giữ 600 EUR/tấn CIF Antwerp và 595 EUR/tấn CIF Nam Âu. Chưa có chào nhập mới vì theo nguồn tin Thổ Nhĩ Kỳ đã bán hết hàng đến cuối năm còn Ấn Độ chưa cạnh tranh về giá. Tại hội chợ EuroBLECH, tâm lý nghiêng về giá sẽ tăng trong vài tháng tới. Một thương nhân Tây Ban Nha cho rằng bức tranh sẽ rõ hơn từ tháng 1, hoạt động mạnh lên vào tháng 3-4. Yếu tố đỡ giá gồm việc Acciaierie d’Italia sắp dừng khu vực nóng tại Taranto, chi phí vận tải tăng và năng lượng đắt: giá khí TTF ngày 20/10 ở 86,95 EUR/MWh, tăng khoảng 17,6% so với một tháng trước. Một số nhà máy nhắm mức tăng 100 EUR/tấn cho hợp đồng ô tô nửa đầu 2027, nhưng nhu cầu ô tô yếu hạn chế khả năng chấp nhận của khách. Ở thép cán nguội và mạ, CRC giữ 855 EUR/tấn EXW Ruhr và 845 EUR/tấn EXW Ý, HDG giữ 835 EUR/tấn ở cả hai khu vực, đều không đổi so với tuần trước. Cầu xây dựng và ô tô còn yếu, trong khi ngành máy móc xây dựng và thiết bị nặng có đơn hàng tốt hơn. Ngoài ra, 20 hiệp hội ngành và công đoàn châu Âu vừa kêu gọi mở rộng CBAM tới nhiều hàng hóa hạ nguồn hơn.
Brazil
Giá HRC nội địa Brazil giữ 3.900 reais/tấn EXW (chưa thuế) theo Platts ngày 21/10. Trên mảng nguyên liệu, Minas-Rio của Anglo American sản xuất 6,3 triệu tấn quặng trong quý III, tăng 24% so với cùng kỳ nhờ nhà máy hoạt động đều hơn sau đợt dừng kiểm tra đường ống năm trước, nhưng giảm 4% so với quý II. Giá thực hiện 9 tháng ở 77 USD/tấn FOB Brazil, thấp hơn mức 88 USD năm ngoái. Công ty giữ nguyên dự báo sản lượng cả năm 24-26 triệu tấn.
IV/ BẢNG GIÁ GIAO DỊCH NỘI ĐỊA – GIÁ CHÀO THAM KHẢO
Nhóm hàng | Chủng loại / mác | Quy cách / nguồn hàng | Đơn vị | Giá tuần này | Xu hướng giá tuần |
HRC nội địa | SS400 | Hàng Hòa Phát qua đại lý phân phối | vnđ/kg | 15.600-15.800 | Giá giảm mạnh 300-400đ |
HRC nội địa | SS400 /Q235 | Khổ 2m/1m5 nhập khẩu | vnđ/kg | 15.400-16.600 | Giảm 300-400đ |
HRC nhập khẩu | HRC Trung Quốc | Chào FOB | USD/tấn | 495-502 | Giảm do nguyên liệu đầu vào |
HRC nhập khẩu | HRC Indonesia | Chào CFR giao tháng 10-11 | USD/tấn | 532-535 | Giữ |
HRC nhập khẩu | HRC India | Giao T10, chào CIF | USD/tấn | 555-560 | Không có offer chính thức |
V/ BẢNG THEO DÕI GIÁ NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO
Ngày | Quặng sắt 62% Fe CFR China ex-Australia | Than luyện cốc Australia FOB | Phế HMS 80:20 CFR Turkey ex-USA | Phế shredded CFR Turkey ex-USA |
16/10 | 93.25 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 395 USD/tấn | 415 USD/tấn |
19/10 | 93.75 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 395 USD/tấn | 415 USD/tấn |
20/10 | 93.75 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 395 USD/tấn | 415 USD/tấn |
21/10 | 93.75 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 395 USD/tấn | 415 USD/tấn |
VI/ DỰ BÁO DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG
Tuần này và tuần sau là giai đoạn khảo sát thị trường trước khi Hòa Phát công bố giá tháng sau. Hàng nhập từ Indonesia liên tục được chốt ở các lô giá thấp, trong khi sức mua nội địa vẫn yếu. Với hai yếu tố đó, khả năng cao Hòa Phát sẽ điều chỉnh giảm giá vào tháng sau, mức giảm được đánh giá quanh 150-200đ/kg. Mức này gần như chỉ lấy lại phần tăng 200đ đầu tháng mà thị trường đã không hấp thụ được.
Chi phí đầu vào không còn là lực giữ giá. Quặng sắt quanh vùng thấp nhất hai năm, than cốc đã mất đà, HRC xuất khẩu Trung Quốc và Indonesia đều đi ngang ở mặt bằng thấp. Việc giá điện cho ngành thép tăng dưới 9% chỉ làm các đơn vị khó hạ giá niêm yết hơn, nhưng không đủ để đảo ngược xu hướng. Nhiều khả năng giá niêm yết sẽ được điều chỉnh sau khi Hòa Phát đưa ra mặt bằng mới, còn trước đó các khoản chiết khấu và hỗ trợ ngầm tiếp tục là công cụ chính.
Trong những tuần tới, thị trường khó có biến động mạnh. Người mua sẽ chờ thông báo giá tháng sau trước khi xuống tiền, giao dịch vì thế còn thận trọng. Đơn vị nào giữ được dòng tiền và hàng tồn nhẹ khi mặt bằng giá mới được công bố sẽ ở thế chủ động hơn trong nhịp cuối năm.
VII/ HÀNG CẬP CẢNG TUẦN 42
Mặt hàng | Tổng cộng |
CÂY | 63372.174 |
TẤM | 625067.814 |
KHÔNG GỈ | 0 |
HÌNH | 268608.176 |
MẠ | 404390.193 |
TÔN NÓNG | 29248.844 |
SẮT KHOANH | 25407.103 |
NGUỘI | 883965.601 |
TÔN BĂNG | 0 |
ỐNG | 803.616 |
TỔNG CỘNG | 2300863.521 |










