TRONG NƯỚC
Thị trường thép xây dựng
Về mặt tồn kho tuần qua: Tồn kho xã hội của thép thanh vằn tại 35 thành phố chính trên cả nước tuần này là 5.141.500 tấn, giảm 5.380 tấn; tồn kho xã hội của thép cuộn là 671.700 tấn, giảm 8.000 tấn. Tổng tồn kho xã hội là 5.813.200 tấn.
Giá thép xây dựng trong tuần này dao động trong biên độ hẹp. Thời gian gần đây, nguồn cung tiếp tục giảm, trong khi nhu cầu chưa thấy phục hồi rõ rệt, tâm lý thị trường ở mức trung bình.
Đối với thép thanh vằn, dữ liệu nhu cầu tiêu thụ biểu kiến (apparent demand) tuần này có thể có sự sai lệch nhất định. Do ảnh hưởng của thời tiết bão, một số lượng hàng tồn kho đến cảng không thể hoàn tất đăng ký nhập kho. Dữ liệu tồn kho tại các tỉnh chịu ảnh hưởng của thời tiết giảm khá rõ rệt, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ biểu kiến tính toán được ở mức khá cao. Nhu cầu tiêu thụ biểu kiến của thép thanh vằn tuần này tăng 9% so với tuần trước và tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Bước sang cuối tháng 8, dự kiến khi thời tiết cải thiện và hoạt động logistics phục hồi, lượng tồn kho ngầm (hidden inventory) này sẽ chuyển thành tồn kho công khai (visible inventory). Hiện tại vẫn đang trong mùa nóng và mưa nhiều, cung cầu vẫn còn có sự giằng co. Hơn nữa, các dự án xây dựng hạ nguồn tiến độ khá chậm, dòng vốn đến tay người dùng cuối ở mức trung bình - yếu. Tuy nhiên, bước sang cuối tháng 8, với điều kiện sản lượng ở mức thấp, nhu cầu có thể phục hồi sau những biến động, giá thị trường có thể đã chạm đáy và bật tăng. Tuy nhiên, cần lưu ý đến mức độ tăng của tồn kho trong tuần này cũng như tình hình xuất hàng ra khỏi kho. Dự báo giá thép xây dựng trên cả nước tuần tới sẽ dao động ở vùng giá thấp.
Bảng biến động giá thép thanh và thép dây tại các thành phố trọng điểm toàn quốc
(Đơn vị: Nhân dân tệ/tấn)
Loại vật liệu / Quy cách | Ngày / Thành phố | Thượng Hải | Hàng Châu | Bắc Kinh | Thiên Tân | Vũ Hán | Trường Sa | Thành Đô | Tây An |
Thép thanh vằn HRB400 | 6/8 | 2990 | 3160 | 3140 | 3100 | 3270 | 3440 | 3160 | 3390 |
| 13/8 | 2980 | 3100 | 3110 | 3100 | 3240 | 3410 | 3130 | 3390 |
| Chênh lệch tuần | -10 | -60 | -30 | 0 | -30 | -30 | -30 | 0 |
Xuất xứ |
| Nhật Chiếu | Vĩnh Cương | Hà Cương | Hà Cương | Vũ Cương | Bình Cương | Uy Cương | Tấn Cương |
Thép cuộn trơn HPB300 | 6/8 | 3330 | 3670 | 3620 | 3670 | 3410 | 3670 | 3450 | 3490 |
| 13/8 | 3320 | 3610 | 3590 | 3670 | 3380 | 3640 | 3420 | 3490 |
| Chênh lệch tuần | -10 | -60 | -30 | 0 | -30 | -30 | -30 | 0 |
Xuất xứ |
| Bình Cương | Vĩnh Cương | Hà Cương | Hà Cương | Bình Cương | Tương Cương | Đạt Cương | Tấn Cương |
Thị trường thép công nghiệp
Cuộn cán nóng
Thị trường thép cuộn cán nóng trong tuần qua thể hiện sự phân hóa theo khu vực, với cục diện cả cung và cầu đều yếu. Giá trung bình toàn quốc cho thép cuộn cán nóng loại 4,75mm đạt 3.264 NDT/tấn, dao động trong biên độ hẹp. Giá tại khu vực Hoa Đông tăng nhẹ.
Sản lượng thép cuộn cán nóng toàn quốc tuần này phục hồi lên 2.967.600 tấn, tăng 90.300 tấn so với tuần trước. Tỷ lệ sử dụng công suất của các nhà máy thép tăng lên 75,82%. Khu vực Hoa Bắc sau khi kết thúc bảo dưỡng đã tăng cường sản xuất trở lại rõ rệt, tỷ lệ vận hành công suất tăng lên 83,78%. Nhìn chung, mức cung ứng đã có sự phục hồi.
Tồn kho xã hội toàn quốc đạt 4.813.500 tấn, giảm 2.400 tấn so với tuần trước. Tồn kho khu vực Hoa Đông giảm 75.700 tấn xuống còn 1.723.400 tấn, các nhà máy giảm tồn kho rõ rệt, nguồn hàng đang lưu thông ra thị trường.
Khối lượng giao dịch có tăng lên, nhưng khách hàng cuối vẫn chủ yếu mua hàng theo nhu cầu thiết yếu (nhu cầu cứng), tâm lý thăm dò, chờ đợi của thị trường vẫn đậm đặc. Hiện đang trong mùa cao điểm nắng nóng theo thông lệ, các ngành như cơ khí, kết cấu thép, gia công ống thép bị hạn chế về sản xuất, nhu cầu phục hồi yếu, chỉ có ngành đóng tàu và sản xuất ô tô nguyên chiếc vẫn duy trì nhu cầu thiết yếu ổn định. Giá nguyên liệu đầu vào như quặng sắt và than luyện cốc đã ổn định, tạo thành nền đỡ cho chi phí. Đa số các nhà máy thép hoạt động quanh điểm hòa vốn, một số khu vực đã bắt đầu thua lỗ, dẫn đến kỳ vọng về việc cắt giảm sản lượng.
Hiện tại, thị trường thép cuộn cán nóng đang trong giai đoạn giằng co giữa chi phí hỗ trợ từ dưới lên, nhu cầu yếu, nguồn cung phục hồi và tồn kho ở mức cao. Trong ngắn hạn, chưa có xu hướng mang tính bền vững. Dự báo giá tuần tới sẽ tiếp tục dao động trong biên độ: Phía trên bị áp chế bởi tồn kho cao và nhu cầu yếu; phía dưới được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng cắt giảm sản lượng. Về chiến lược giao dịch, nên mua bán nhanh, giảm tồn kho để phòng tránh rủi ro, và tập trung theo dõi các tín hiệu phục hồi theo mùa của nhu cầu vào tháng 9.
Bảng tổng hợp giá tuần thép cuộn cán nóng (từ 7/8/2026 đến 14/8/2026)
Khu vực | 3.0mm (7/8) | 3.0mm (14/8) | Chênh lệch tuần | 4.75mm (7/8) | 4.75mm (14/8) | Chênh lệch tuần | Nhà máy chủ đạo |
Thượng Hải | 3320 | 3340 | +20 | 3260 | 3280 | +20 | Bản Cương (Benxi Steel) |
Hàng Châu | 3320 | 3330 | +10 | 3280 | 3290 | +10 | Sa Cương (Shagang) |
Nam Kinh | 3330 | 3360 | +30 | 3290 | 3320 | +30 | Trung Thiết (Zhongtie) |
Bắc Kinh | 3300 | 3290 | -10 | 3250 | 3240 | -10 | Bao Cương (Baotou Steel) |
Thiên Tân | 3220 | 3240 | +20 | 3170 | 3190 | +20 | Bao Cương |
Thạch Gia Trang | 3320 | 3290 | -30 | 3270 | 3240 | -30 | Hàm Cương (Hansteel) |
Hàm Đan | 3210 | 3210 | 0 | 3180 | 3180 | 0 | Thái Cương (TISCO) |
Lạc Tòng (Lạc Thành) | 3290 | 3310 | +20 | 3250 | 3270 | +20 | An Cương (Ansteel) |
Trường Sa | 3340 | 3360 | +20 | 3280 | 3300 | +20 | Vũ Cương (WISCO) |
Vũ Hán | 3280 | 3290 | +10 | 3250 | 3260 | +10 | Thái Cương |
Thẩm Dương | 3230 | 3240 | +10 | 3220 | 3230 | +10 | Phàn Cương (Pangang) |
Cáp Nhĩ Tân | 3290 | 3300 | +10 | 3260 | 3270 | +10 | Liên Cương (Lianyuan Steel) |
Trùng Khánh | 3300 | 3320 | +20 | 3290 | 3310 | +20 | Thông Cương (Tonghua Steel) |
Thành Đô | 3350 | 3370 | +20 | 3270 | 3290 | +20 | Phàn Cương |
Côn Minh | 3440 | 3430 | -10 | 3380 | 3370 | -30 | Bát Cương (Bayi Steel) |
Tây An | 3310 | 3310 | 0 | 3210 | 3210 | 0 | Bao Cương |
Lan Châu | 3280 | 3280 | 0 | 3250 | 3250 | 0 | Bát Cương |
Giá trung bình HRC loại 3.0mm tuần này đạt 3.310 NDT/tấn, tăng 8 NDT so với tuần trước; giá trung bình HRC loại 4.75mm đạt 3.264 NDT/tấn, tăng 8 NDT so với tuần trước.
Cuộn cán nguội
Tuần qua, thị trường thép cán nguội trong nước nhìn chung có xu hướng ổn định ở mức thấp, với biến động giá giao ngay hạn chế. Thị trường được đặc trưng bởi sự giằng co giữa nhu cầu thực tế yếu và kỳ vọng về mùa cao điểm. Giá giao ngay biến động nhẹ trong suốt tuần. Đầu tuần, giá giao ngay giảm nhẹ do biến động trên thị trường tương lai. Giá dần ổn định vào giữa tuần, nhưng nhu cầu yếu từ người tiêu dùng cuối cùng vào cuối tuần đã khiến một số nhà giao dịch đưa ra mức giảm giá nhẹ trên thị trường xám (thị trường tự do/ngoài sàn) để đẩy nhanh doanh thu. Giá trung bình toàn quốc của thép cuộn cán nguội 1.0mm thông dụng giảm nhẹ trong tuần, trong khi mức giá chung vẫn ổn định ở mức thấp. Điều kiện thị trường khu vực cho thấy sự khác biệt nhỏ, với giá các nguồn cung chính ở miền Đông Trung Quốc tương đối ổn định, trong khi thị trường miền Bắc và miền Nam Trung Quốc có nhiều dư địa hơn để thương lượng. Giá các nguồn cung cấp thấp hơn yếu hơn.
Về phía nguồn cung, các nhà máy thép cán nguội duy trì sản lượng ổn định trong tuần này, với mức sử dụng công suất giảm nhẹ so với tuần trước. Nhìn chung, nguồn cung toàn ngành tương đối dồi dào, không có sự cố ngừng hoạt động bảo trì tập trung quy mô lớn và chỉ có một vài dây chuyền sản xuất đang tiến hành sửa chữa nhỏ định kỳ. Hiện tại, chênh lệch giá giữa thép cán nóng và thép cán nguội vẫn ở mức thấp, dẫn đến lợi nhuận ít ỏi cho quá trình gia công thép cán nguội. Các nhà máy thép ít có động lực để chủ động tăng sản lượng, chủ yếu tập trung vào việc hoàn thành các hợp đồng dài hạn. Thị trường có nguồn cung dồi dào các loại thép thông dụng, trong khi các loại thép chất lượng cao, có thông số kỹ thuật khan hiếm như thép cán nguội cường độ cao và thép kéo sâu dùng trong ô tô lại đang thiếu hụt, dẫn đến sự phân hóa cấu trúc đáng kể trong các sản phẩm cung cấp trên thị trường. Đồng thời, một số nguồn cung hướng xuất khẩu đã quay trở lại thị trường nội địa, càng làm tăng thêm áp lực lưu thông thị trường đối với các nguồn thép cán nguội thông dụng.
Nhu cầu vẫn yếu do ảnh hưởng kéo dài của nhiệt độ cao và thời điểm trái mùa, với tỷ lệ hoạt động chung trong các ngành công nghiệp hạ nguồn vẫn ở mức thấp. Các giao dịch trên thị trường hoàn toàn dựa vào nhu cầu tức thời, hầu như không có hoạt động tích trữ đầu cơ. Các nhà sản xuất ô tô, vẫn đang trong quá trình phục hồi sau kỳ nghỉ hè, duy trì mức sản xuất tổng thể thấp. Chỉ một phần nhỏ nhu cầu về tấm kim loại cho xe năng lượng mới vẫn tương đối ổn định, với hầu hết các công ty chủ yếu thực hiện các đơn đặt hàng trước đó, dẫn đến tăng trưởng đơn đặt hàng mới hạn chế. Các ngành công nghiệp hạ nguồn như thiết bị gia dụng và dập khuôn phần cứng cũng trải qua tình trạng nhu cầu trì trệ. Các công ty duy trì kiểm soát hàng tồn kho nghiêm ngặt, nhìn chung áp dụng mô hình mua hàng đúng thời điểm (just-in-time) với rất ít hoạt động bổ sung hàng tồn kho số lượng lớn. Nhìn chung, tâm lý mua hàng của người dùng cuối khá thận trọng, dẫn đến một bầu không khí thị trường nhìn chung trầm lắng và sự liên tục giao dịch không đủ. Biến động của thị trường tương lai đã tác động đáng kể đến tâm lý thị trường giao ngay, làm nổi bật mối tương quan mạnh mẽ giữa thị trường tương lai và thị trường giao ngay.
Về tồn kho, cả tồn kho xã hội và tồn kho nhà máy thép cán nguội đều tiếp tục giảm chậm trong tuần này, với tốc độ giảm tương đối yếu. Mức tồn kho tổng thể vẫn cao so với cùng kỳ năm ngoái, và áp lực giảm tồn kho trên thị trường vẫn chưa được giảm bớt hoàn toàn. Các nhà giao dịch nhìn chung thận trọng trong hoạt động, không chủ động tích trữ. Chiến lược hoạt động chính của họ là tập trung vào bán hàng nhanh, giảm tồn kho và đẩy nhanh vòng quay vốn. Áp lực tồn kho tổng thể trên thị trường tiếp tục gây áp lực giảm giá đối với giá giao ngay.
Về chi phí và giá tương lai, giá nguyên liệu cán nóng biến động trong phạm vi hẹp, hỗ trợ cơ bản cho thị trường cán nguội, nhưng thiếu động lực tăng trưởng. Thị trường hợp đồng tương lai sắt thép biến động liên tục do kỳ vọng về mùa cao điểm tháng 9, điều này đã tạm thời cải thiện tâm lý thị trường giao ngay, nhưng không đủ để thúc đẩy giá giao ngay tăng đáng kể. Sự chênh lệch giữa giá hợp đồng tương lai và giá giao ngay vẫn tiếp diễn, và các yếu tố tích cực trên thị trường hợp đồng tương lai khó có thể chuyển hóa hiệu quả sang các giao dịch giao ngay.
Tuần này, thị trường thép cán nguội dự kiến sẽ tiếp tục duy trì xu hướng ổn định ở mức thấp, với ít khả năng giá biến động đơn phương. Sự hỗ trợ giá ở mức đáy chủ yếu đến từ chính sách hỗ trợ giá của các nhà máy thép, chi phí nguyên vật liệu và kỳ vọng thị trường cho mùa cao điểm truyền thống vào tháng 9. Tuy nhiên, tiềm năng tăng giá sẽ tiếp tục bị hạn chế bởi nhu cầu yếu trong mùa thấp điểm, mức tồn kho cao và độ co giãn nguồn cung dồi dào. Nhìn chung, giá giao ngay ngắn hạn dự kiến sẽ ổn định với những biến động nhỏ. Trong thời gian tới, các yếu tố quan trọng cần theo dõi bao gồm sự phục hồi hoạt động của người dùng cuối ở khâu hạ nguồn vào cuối tháng 8, việc phát hành các đơn đặt hàng mới và những thay đổi trong chính sách đặt hàng và bảo trì mới nhất của các nhà máy thép. Về chiến lược giao dịch, nên áp dụng phương pháp chờ đợi và quan sát thận trọng, cùng với việc kiểm soát tồn kho và tốc độ luân chuyển hàng hóa nhanh chóng.
XUẤT KHẨU
1. Phức hợp thép dài (Thép cây, Cuộn trơn và Phôi billet)
Thép cây (Rebar): Chỉ số giá thép cây xuất khẩu FOB Trung Quốc dao động trong biên độ hẹp quanh mức 466 – 468 USD/tấn FOB (tính theo trọng lượng lý thuyết). Giá chào xuất khẩu thép cây từ các nhà máy Trung Quốc giữ ở mức 466 – 478 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết) đối với các mác HRB400 và B500B. Sản phẩm thép cây dạng cuộn mác HRB400 được chào bán ở mức 509 USD/tấn FOB.
Giá chào bán sang các thị trường tiêu thụ chính ở Đông Nam Á (như Singapore, Việt Nam) đạt khoảng 490 – 500 USD/tấn CFR (tương đương 470 – 475 USD/tấn FOB). Tuy nhiên, người mua tại Đông Nam Á tỏ ra thận trọng và khó chấp nhận mức giá trên 490 USD/tấn CFR (tương đương 460 – 465 USD/tấn FOB).
Cuộn trơn / Dây thép cuộn (Wire rod): Chỉ số giá dây thép cuộn FOB Trung Quốc duy trì ổn định ở mức 490 USD/tấn FOB. Mức giá chào xuất khẩu dây thép cuộn mác SAE1008 từ các nhà máy lớn phổ biến trong khoảng 495 – 510 USD/tấn FOB (với một số điều chỉnh nhẹ xuống mức 499 USD/tấn FOB). Dây thép cuộn hàm lượng carbon cao duy trì giá chào ở mức 525 USD/tấn FOB. Các nhà máy không sẵn lòng bán dưới mức 495 USD/tấn FOB do chi phí xuất khẩu hiện cao hơn giá bán nội địa từ 15 – 20 USD/tấn.
Phôi thép (Billet): Giá chào xuất khẩu phôi thép (mác 3sp) của Trung Quốc đứng ở mức 455 USD/tấn FOB cho kỳ giao hàng tháng 9 – tháng 10, mặc dù một số nhà máy miền Đông Bắc nâng giá chào lên 460 USD/tấn FOB nhưng mức giá có thể giao dịch thực tế vẫn ở quanh 455 USD/tấn FOB. Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn nhích nhẹ lên mức 2.940 Nhân dân tệ/tấn.
2. Phức hợp thép dẹt (Thép cuộn cán nóng - HRC, CRC, HDG và Phôi phiến)
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc nhích nhẹ và dao động trong khoảng 480 – 482 USD/tấn FOB Trung Quốc.
Các nhà máy lớn kiên quyết chào giá ở mức 485 – 505 USD/tấn FOB đối với mác SS400 và Q235, trong khi các nhà máy quy mô vừa và nhỏ chào ở mức 475 – 485 USD/tấn FOB. Do chi phí sản xuất cao, các nhà sản xuất miễn cưỡng chấp nhận đơn hàng dưới 480 USD/tấn FOB.
Một số giao dịch lớn đã được hoàn tất: hai nhà máy lớn đã bán khối lượng HRC đáng kể sang Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ ở mức khoảng 480 USD/tấn FOB (riêng Pakistan nhập khẩu 50.000 – 60.000 tấn HRC từ Trung Quốc); một lô nhỏ mác SS400 bán sang Nam Mỹ ở mức 495 USD/tấn FOB; và một giao dịch mác SS400 sang Hàn Quốc đạt 530 USD/tấn CFR.
Tại thị trường Việt Nam, giá chào HRC mác Q195/Q235 từ các thương nhân Trung Quốc ở mức 492 – 500 USD/tấn CFR, trong đó khoảng 10.000 tấn HRC Q195 phục vụ mục đích tái xuất được bán ở mức 490 USD/tấn CFR. Báo giá HRC tiêu chuẩn sang Pakistan đạt khoảng 503 USD/tấn CFR (~473 USD/tấn FOB).
Thép cán nguội (CRC) & Thép mạ kẽm (HDG) & Thép tấm (HRP): Giá chào xuất khẩu thép cuộn cán nguội (CRC mác SPCC) giữ ổn định ở mức 545 USD/tấn FOB Trung Quốc. Giá chào xuất khẩu thép cuộn mạ kẽm nhúng nóng (HDG mác SGCC) dao động trong khoảng 554 – 585 USD/tấn FOB Trung Quốc. Giá chào xuất khẩu thép tấm (HRP mác Q235 và SS400) đứng ở mức 540 – 555 USD/tấn FOB Trung Quốc.
Phôi phiến (Slab): Các nhà cung cấp Trung Quốc không hạ giá chào phôi dẹt mác cán cuộn xuống dưới 480 USD/tấn FOB. Đối với vật liệu làm thép tấm dày xuất khẩu sang Ý, giá chào tăng lên mức 560 – 580 USD/tấn CFR (tăng khoảng 20 USD/tấn).
3. Động lực thị trường và các yếu tố tác động
Sự tăng vọt của chi phí nguyên liệu đầu vào: Hợp đồng tương lai than cốc trên Sàn giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) tăng mạnh (hơn 4 – 5% lên mức 1.343,5 – 1.374 Nhân dân tệ/tấn), cùng với đà ổn định của quặng sắt.
Nguyên nhân do nguồn cung than nội địa bị thắt chặt sau các sự cố tai nạn mỏ, chiến dịch thanh tra an toàn mỏ kéo dài 100 ngày tại Thiểm Tây/Hồ Nam, và quy hoạch siết chặt năng lực sản xuất trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 đối với ngành than. Chi phí nguyên liệu gia tăng đã tạo lực đỡ vững chắc cho giá thép xuất khẩu.
Áp lực thua lỗ buộc các nhà máy kiên quyết giữ giá: Biên lợi nhuận của các nhà sản xuất thép Trung Quốc thu hẹp nghiêm trọng (mức thua lỗ đối với HRC có thời điểm lên tới khoảng 280 Nhân dân tệ/tấn vào cuối tháng 7). Tình trạng này khiến các nhà máy quyết liệt chống lại các yêu cầu giảm giá xuất khẩu sâu hơn từ người mua.
Nhu cầu ảm đạm mùa thấp điểm và thời tiết bất lợi: Sức tiêu thụ từ người dùng cuối tại các thị trường xuất khẩu cũng như nội địa vẫn trầm lắng do ảnh hưởng của mùa hè thấp điểm. Mưa lớn và bão Dolphin đổ bộ vào khu vực miền Đông và miền Nam Trung Quốc gây gián đoạn các hoạt động xây dựng ngoài trời và luồng vận tải logistics.
Kỳ vọng mùa cao điểm tiêu thụ & Động thái từ các nhà sản xuất lớn: Giới công nghiệp kỳ vọng nhu cầu sẽ phục hồi khi bước sang mùa cao điểm tiêu thụ mùa thu (tháng 9 – tháng 10). Đáng chú ý, tập đoàn Baosteel đã quyết định tăng giá xuất xưởng HRC thêm 50 Nhân dân tệ/tấn (~7 USD/tấn) cho các đơn hàng giao tháng 9.
Tác động từ các quy định và rào cản phòng vệ thương mại: Thuế chống bán phá giá của Vương quốc Anh đối với thép cuộn cán nguội (CRC) từ Trung Quốc đã chính thức hết hiệu lực từ ngày 05/08/2026 do không có đơn yêu cầu rà soát hoàng hôn. Do CRC không nằm trong hệ thống hạn ngạch nhập khẩu của Anh, sản phẩm CRC Trung Quốc hiện có thể thâm nhập thị trường này mà không phải chịu thuế chống bán phá giá hay các hạn chế hạn ngạch.
Chính phủ Malaysia đã khởi xướng rà soát hoàng hôn thuế chống bán phá giá đối với thép cuộn mạ màu/sơn phủ và mở cuộc điều tra chống bán phá giá đối với thép dẹt mạ nhôm-kẽm nhập khẩu từ Trung Quốc.
Bộ Thương mại Mỹ (DOC) tiếp tục tiến hành các cuộc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các sản phẩm thép lá từ Trung Quốc.



