Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Tổng hợp tin tức ngày 16/10/2026

 

Bức tranh thị trường thép toàn cầu tiếp tục phản ánh sự phân hóa rõ rệt giữa các khu vực. Trong khi thị trường Châu Á đối mặt với áp lực giảm giá do nguồn cung tăng và nhu cầu nội địa chậm chạp, khu vực Châu Âu và Trung Đông lại bị chi phối mạnh mẽ bởi các rào cản hậu cần, rủi ro địa chính trị và sự e ngại đối với các quy định mới về phát thải (CBAM). Thị trường Châu Mỹ cũng bước vào giai đoạn thận trọng trước thềm các diễn biến chính trị và kinh tế vĩ mô.

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ

Châu Âu

Giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa đi ngang trong bối cảnh giao dịch hạn chế, với chỉ số HRC Tây Bắc Âu đạt 746 euro/tấn xuất xưởng và Ý đạt 745 euro/tấn xuất xưởng.   

Người mua tại EU đang tỏ ra e ngại việc chốt đơn hàng nhập khẩu cho quý 1 do những lo ngại về nghĩa vụ khai báo và chi phí trừng phạt phát sinh từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), khiến giao dịch nhập khẩu gần như bất khả thi.   

Phân khúc thép tấm dày (heavy plate) tại Ý ghi nhận đà tăng, với mác S275 được các nhà máy nâng mức giá cơ bản lên 800 euro/tấn xuất xưởng do chi phí năng lượng và phôi dẹt (slab) tăng cao, đồng thời thời gian giao hàng cũng bị kéo dài.   

Thị trường phế liệu Châu Âu tương đối ổn định, mặc dù Đức đang đối mặt với các điểm nghẽn hậu cần nghiêm trọng về vận tải đường sông và đường sắt làm đội chi phí. Tại Anh, giá phế liệu xuất khẩu chịu áp lực giảm, với giao dịch HMS 1&2 (80:20) sang Thổ Nhĩ Kỳ được chốt ở mức 388 USD/tấn CFR.   

Giá hạn ngạch carbon tại Châu Âu đã tăng lên mức 88 euro/tấn trong tháng 10.   

Thổ Nhĩ Kỳ

Thị trường tiếp tục đình trệ, giá thép cây xuất khẩu giảm nhẹ xuống 609 USD/tấn FOB do vắng bóng các giá thầu mới.   

Giá phế liệu HMS 1&2 (80:20) từ Mỹ nhập vào Thổ Nhĩ Kỳ duy trì ở mức 398 USD/tấn CFR trong bối cảnh kháng giá từ cả hai phía, khi nhà cung cấp chịu áp lực cước vận tải còn nhà máy hạn chế mua do thép thành phẩm bán chậm.   

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU MỸ

Giá thép dẹt tại Brazil hầu như không thay đổi, với HRC nội địa giao dịch ổn định ở mức 3.600-3.700 R$/tấn xuất xưởng.   

Thị trường chịu áp lực từ nhu cầu hạ nguồn yếu, chi phí vận tải cao và sự bất ổn trước thềm bầu cử, khiến các nhà phân phối tập trung bảo toàn tiền mặt và giảm lượng tồn kho thay vì nhập thêm hàng.   

Giao dịch nhập khẩu HRC đường biển vào Brazil giảm xuống còn 605-615 USD/tấn CFR, bất chấp việc đồng nội tệ real mạnh lên cải thiện sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Các nhà cung cấp phôi dẹt Châu Á và nội địa đang cạnh tranh gay gắt nhắm vào tệp khách hàng cán lại tại khu vực này.

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

Trung Quốc

Giá thép dài tiếp tục giảm khi các nhà máy tăng sản lượng thép cây lên 1,74 triệu tấn, nhờ chi phí nguyên liệu thô (đặc biệt là than cốc) sụt giảm. Dù vậy, tồn kho thép cây giảm mạnh 480.000 tấn đã tạo mức sàn hỗ trợ phần nào cho giá giao ngay. Giá chào xuất khẩu thép cây hiện đã giảm xuống mức 471-477 USD/tấn FOB.   

Thị trường HRC nội địa duy trì ổn định ở mức 3.260 nhân dân tệ/tấn nhờ tốc độ giảm tồn kho nhanh nhất từ đầu năm, nhưng giá xuất khẩu lại trượt xuống 486-493 USD/tấn FOB đối với mác Q235 do triển vọng tiêu cực từ các công ty thương mại.   

Giá quặng sắt mịn 62% Fe nhích nhẹ lên 91,8 - 93 USD/tấn CFR, giao dịch trong biên độ hẹp do chi phí năng lượng chi phối dữ liệu lạm phát thay vì sự phục hồi thực sự từ ngành sản xuất hạ nguồn hay bất động sản.

Việt Nam

Thị trường HRC nhập khẩu khá ổn định ở mức 535 USD/tấn CFR.   

HRC mác SAE1006 từ Đài Loan được chào ở mức 560-570 USD/tấn CFR, mức này bị đánh giá là quá cao để thu hút lực mua, trong khi HRC Indonesia cạnh tranh hơn và đã có giao dịch chốt ở mức 532 USD/tấn CFR.   

Khoảng 20.000 tấn HRC mác Q195 của Trung Quốc đã được giao dịch ở mức 498 USD/tấn CFR phục vụ mục đích tái xuất khẩu.  

Các thị trường khác

Tại Đài Loan, nhà sản xuất Tung Ho Steel tăng giá thép hình H thêm 500 Đài tệ/tấn. Các nhà máy thép không gỉ thượng nguồn cũng dự kiến tăng giá bán tháng 11 do chi phí nhập khẩu leo thang và các rào cản phòng vệ thương mại hỗ trợ ngành nội địa.   

Tại khu vực GCC, giao dịch thép dẹt bị cản trở nghiêm trọng do tắc nghẽn cảng và rủi ro vận tải qua eo biển Hormuz, đẩy giá HRC nhập khẩu CFR UAE lên mức 600 USD/tấn.   

Vụ chìm tàu container GFS Pride gần Eo biển Hormuz gây áp lực tâm lý lên thị trường phế liệu UAE, có khả năng làm suy yếu hoạt động xuất khẩu phế liệu và gia tăng nguồn cung nguyên liệu thô nội địa.   

Phân khúc phôi thép xuất khẩu của Iran ghi nhận diễn biến trái chiều, giao dịch đường biển chốt ở mức 414-425 USD/tấn FOB, trong khi giá bán nội địa/đường bộ tăng lên 420-440 USD/tấn FCA do chi phí cao hơn.   

BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH

Sản phẩm

Xuất xứ / Khu vực

Mức giá

Điều kiện

Ghi chú

HRC (Q195)

Trung Quốc -> Việt Nam

498 USD/tấn

CFR

Phục vụ tái xuất, giao tháng 12

HRC (Cơ bản)

Trung Quốc -> Trung Đông

501 USD/tấn

FOB

Chào bán giao tháng 11

HRC (Nội địa)

Châu Âu (Tây Bắc Âu)

746 EUR/tấn

EXW

Giao dịch trầm lắng

Phôi vuông

Trung Quốc

465 USD/tấn

FOB

Giao dịch xuất khẩu tháng 12

Thép cây (12mm)

Thổ Nhĩ Kỳ

620 USD/tấn

EXW

Nội địa, chưa VAT

Phế liệu (HMS 1&2 80:20)

Mỹ -> Thổ Nhĩ Kỳ

398 USD/tấn

CFR

Kháng giá từ hai phía

Phế liệu (HMS 1&2 80:20)

Anh -> Thổ Nhĩ Kỳ

388 USD/tấn

CFR

Giá có xu hướng giảm

Quặng sắt (62% Fe)

Úc -> Trung Quốc

91,8 - 93 USD/tấn

CFR

Áp lực giảm từ cầu thép yếu

Thép tấm dày (S275)

Ý (Nội địa)

780 - 800 EUR/tấn

EXW

Chi phí năng lượng tăng cao

TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG

Thị trường thép toàn cầu đang trong giai đoạn điều chỉnh mang tính phòng thủ và đối diện với nhiều nút thắt.

Tại Châu Á, áp lực kép từ công suất hoạt động tăng của các nhà máy và nhu cầu tiêu thụ hạ nguồn chưa phục hồi đồng bộ đang làm kìm hãm đà tăng giá của cả thép dài và thép dẹt, dù mức tồn kho sụt giảm đóng vai trò làm giá đỡ tạm thời.

Đối với thị trường Châu Âu, Trung Đông và Châu Mỹ, rủi ro không đến trực tiếp từ nội tại cung - cầu mà đến từ các yếu tố phi thị trường như căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hải (Biển Đen, Eo biển Hormuz) và các hàng rào kỹ thuật mang tính pháp lý (CBAM), qua đó định hình lại dòng chảy thương mại.

Trong ngắn hạn, thị trường nguyên liệu thô và thành phẩm được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp khi các doanh nghiệp duy trì chiến lược kiểm soát tồn kho nghiêm.