TỔNG HỢP THỊ TRƯỜNG TUẦN 41
(12/10-17/10)
I/MẢNG KẾT CẤU
Giao dịch thép kết cấu giai đoạn giữa tháng 10 tiếp tục diễn ra ở mức chậm. Giá dầu tuy đã có nhịp giảm nhưng thực tế vẫn đứng ở mặt bằng cao, giữ chi phí vận chuyển ở mức cao theo và gây sức ép lên biên lợi nhuận của cả khâu nhập khẩu lẫn phân phối. Trong bối cảnh này, thị trường nhiều khả năng vẫn ưu tiên đi ngang, giữ giá và giữ nhịp thay vì tạo thêm biến động. Kỳ vọng giá bật tăng trở lại được đặt vào giai đoạn đầu năm 2027.
Một số thông tin về nguồn cung, hoạt động bổ sung hàng nhập khẩu vẫn đang được thực hiện. Theo ghi nhận, một số đơn vị phân phối lớn đã chốt một tàu hàng từ Indonesia, giao tháng 1, giá quanh 530-535 USD/tấn. Hàng hóa trên thị trường hiện đã được bổ sung khá ổn, nên nguồn cung không còn là điểm nghẽn.
Vấn đề nằm ở sức mua, vốn chưa thực sự khởi sắc, và thanh khoản vẫn là yếu tố then chốt. Các đợt gom hàng phục vụ dự án diễn ra ở mức trung bình, nhưng thời hạn thanh toán kéo dài có thể gây khó khăn cho các đơn vị bán ra. Càng về cuối năm, việc bán chịu càng cần được hạn chế và kiểm soát chặt.
II/ MẢNG TÔN – ỐNG
Trái ngược với các thông báo tăng giá và giảm giá của tuần trước, tuần này thị trường ghi nhận một số thông báo về chiết khấu và hỗ trợ sản lượng bán, được truyền đạt kín đến các khách hàng đại lý. Mục đích là kích thích mua bán, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh giữa các đơn vị. Một vài đơn vị đã áp dụng mức giảm giá đặc biệt khoảng 200-300đ/kg để đẩy nhanh lượng hàng. So với đà tăng lũy kế từ giữa và cuối tháng 9 đến nay, mức chiết khấu này được thị trường tạm chấp nhận.
Từ giữa tháng, thị trường kỳ vọng sẽ khởi sắc hơn. Một số đơn vị chia sẻ nhu cầu đã quay trở lại nhưng chưa thực sự mạnh. Dù vậy, các chính sách hỗ trợ giá đang góp phần thúc đẩy phân phối và định hình lại nguồn cung ở khâu hạ nguồn.
Ở thượng nguồn, hầu hết các nhà máy đang sản xuất ở công suất lớn và nguồn hàng được bổ sung liên tục. Một số đơn vị không có vị thế hoặc không có hàng nội địa buộc phải đón các lô hàng nhập khẩu. Từ nay đến đầu năm sau, các nhà máy nội địa nhiều khả năng sẽ ưu tiên những khách hàng mua đều đặn trong năm, các đơn vị còn lại phải mua ngoài để bổ sung. Vì vậy, từ đầu tháng 10 đến nay đã có hơn 2 tàu hàng được chốt giao dịch, hàng dự kiến về vào tháng 1/2027.
III/ THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT QUỐC TẾ
Trung Quốc
Giá HRC xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục trượt nhẹ sau kỳ nghỉ Quốc Khánh, còn 496-497 USD/tấn FOB trong giai đoạn 9-14/10, giảm 3-4 USD so với mức 500 USD của tuần trước. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE giảm từ 3.255 NDT/tấn (9/10) xuống 3.237 NDT/tấn (khoảng 481 USD) vào 14/10. Nhiều thương nhân Trung Quốc cho rằng thị trường đang thiếu động lực và coi các nhịp nhích giá là cơ hội để mở vị thế bán. Mùa cao điểm xây dựng chưa tạo được lực cầu đáng kể. Sản lượng thép thô bình quân ngày của các thành viên CISA tháng 9 giảm 1,6% xuống 1,909 triệu tấn, thấp nhất từ đầu năm. Theo Mysteel, chỉ 6,93% nhà máy có lãi, còn công suất lò cao giữ 87,8%.
Xuất khẩu vẫn là van xả chính. Xuất khẩu thép thành phẩm tháng 9 đạt 10,49 triệu tấn (+3,3% so với tháng 8), tháng thứ năm liên tiếp trên 10 triệu tấn, lũy kế 9 tháng 85,64 triệu tấn (-2,6% so với cùng kỳ). Nhập khẩu tháng 9 đạt 492.000 tấn (+13,4% so với tháng 8, -10,2% so với cùng kỳ). Worldsteel (12/10) hạ dự báo nhu cầu thép Trung Quốc 2026 xuống giảm 2%, còn 780,1 triệu tấn, và 2027 giảm thêm 1%. Nhu cầu toàn cầu 2026 đi ngang ở 1,722 tỷ tấn, tăng trưởng 2027 hạ từ 2,2% xuống 1,7%. Chính sách hỗ trợ chủ yếu là gói 550 tỷ NDT hạn mức nợ địa phương chưa dùng, gồm 250 tỷ NDT trái phiếu đặc biệt cho đầu tư hạ tầng và 300 tỷ NDT cho tài chính cấp huyện. Tác động lên tiêu thụ thực tế được đánh giá còn hạn chế.
Hàng đi Việt Nam: chào Q195 giảm 2 USD xuống 500 USD/tấn CFR, Q235 còn 510 USD/tấn CFR (từ 510-515), cùng giao cuối tháng 11. Phía Trung Quốc vắng mặt đến 8/10 do nghỉ lễ. Cả tuần không ghi nhận giao dịch HRC nhập khẩu nào về Việt Nam. Đánh giá của Metal Expert cho HRC 2mm CFR Việt Nam đứng yên ở 554 USD/tấn.
Về nguyên liệu, quặng sắt 62% Fe CFR giảm từ 96,5 USD/tấn (đầu tuần trước) xuống 93,5 USD/tấn ngày 14/10. Ngày 13/10 quặng chạm 93,75 USD/tấn, thấp nhất từ tháng 9/2024. Hợp đồng DCE tháng 1 giảm từ 682,5 xuống 674 NDT/tấn. Tồn kho tại 47 cảng chính tăng tuần thứ tư liên tiếp lên 173,2 triệu tấn (+15,7% so với cùng kỳ), nhập khẩu tháng 9 đạt 109,82 triệu tấn (+1,2% so với tháng 8). Tồn kho quặng tại nhà máy xuống 12,9 triệu tấn, thấp nhất 5 tháng, nên có nhu cầu bổ sung. Giao dịch tăng mạnh ngày 13/10 (tối thiểu 510.000 tấn) nhưng giảm mạnh trở lại ngày 14/10, cho thấy lực mua chủ yếu đến từ giá thấp chứ chưa phải phục hồi tiêu thụ. Than cốc Úc giảm 8 USD xuống 270 USD/tấn FOB (tuần trước 278). Trên DCE, than cốc tháng 1 tăng 63,5 NDT ngày 9/10 lên 1.539,5 NDT, tăng tiếp lên 1.566 NDT ngày 13/10, rồi điều chỉnh giảm 29,5 NDT xuống 1.536,5 NDT ngày 14/10. Lực đỡ đến từ nguồn cung Mông Cổ: thông quan cửa khẩu Ganqimaodu ngày 8/10 chỉ 623 xe, so với 1.200-1.300 xe/ngày nửa đầu năm. Tồn kho than Mông Cổ tại ba cửa khẩu chính giảm 59,3% so với cùng kỳ, còn 1,477 triệu tấn.
Hàn Quốc
Hàn Quốc gia hạn thêm ba tháng thuế chống bán phá giá tạm thời 22,34-33,67% đối với thép cán nguội mạ kẽm và hợp kim kẽm dày dưới 4,75mm xuất xứ Trung Quốc, kéo dài đến 11/1/2027 thay vì 11/10/2026. Vụ việc khởi xướng theo đơn của Dongkuk CM, KG Steel và SeAH CM. Ngày 8/10, KTC mở thêm cuộc điều tra chống bán phá giá ống thép đúc carbon Trung Quốc (Daye Special Steel, Tianjin Pipe, Hengyang Valin) theo đơn của ILJIN Steel, kết luận sơ bộ dự kiến trong vòng ba tháng. Hàn Quốc tiếp tục siết phòng vệ thương mại, thu hẹp thêm dư địa của hàng Trung Quốc tại thị trường này.
Ấn Độ
Giá chào SAE1006 của các nhà máy lớn Ấn Độ vào Việt Nam tăng 5 USD lên 555-560 USD/tấn CFR, giao tháng 12-1, do người bán tiếp tục ưu tiên các thị trường giá cao hơn, chủ yếu là châu Âu.
Dự thảo chính sách thép mới của Bộ Thép Ấn Độ hạ mục tiêu công suất FY2031 từ 300 xuống 294 triệu tấn/năm và cắt mục tiêu xuất khẩu FY2048 từ 95 xuống 45 triệu tấn. Xuất khẩu thép thành phẩm đã giảm từ 13,5 triệu tấn (FY2022) xuống 6,6 triệu tấn (FY2026). Chiến lược chuyển hướng sang sản phẩm giá trị gia tăng gồm thép ô tô, thép mạ, thép điện, inox, với trọng tâm thị trường là châu Phi, Trung Đông, ASEAN và Mỹ Latin. Tata Steel quý II tài khóa 2027 sản xuất 6,21 triệu tấn thép thô (+8% so với quý trước) và tiêu thụ 5,97 triệu tấn (+15%). Các mảng hạ nguồn gồm cán nguội, mạ kẽm, ống đều tăng, riêng thép phủ màu đạt sản lượng kỷ lục, tăng 34% so với quý trước. JSW Steel sản xuất 7,07 triệu tấn (+11%), nhưng tháng 9 giảm 2% xuống 2,34 triệu tấn. Theo nguồn tin thị trường, các nhà máy chủ động tối ưu sản lượng và một số đơn vị lớn lên kế hoạch bảo dưỡng trong tháng 10 nhằm hỗ trợ giá. Worldsteel dự báo tiêu thụ thép Ấn Độ tăng 7,9% lên 172,4 triệu tấn năm 2026 và thêm 8% lên 186,2 triệu tấn năm 2027.
Indonesia
Dexin tăng chào HRC SS400/SAE1006 dày 3mm thêm 4 USD lên 542 USD/tấn CFR giao tháng 1. Một nhà cán lại Indonesia tăng 2 USD lên 540 USD/tấn CFR cùng kỳ giao hàng. Hàng 2mm cộng thêm 10 USD ở cả hai đơn vị. Phía Indonesia viện dẫn rủi ro gián đoạn do thiếu nước, dù sản xuất chưa bị ảnh hưởng đáng kể. Thương nhân Việt Nam cho rằng đây chỉ là cái cớ để nâng giá, và mức chào hiện chưa được người mua chấp nhận. Giá chào đang cao hơn mức giao dịch thực tế quanh 530-535 USD/tấn.
Về nhu cầu hạ nguồn, sản xuất ô tô Indonesia 9 tháng đạt 982.721 xe (+14,9% so với cùng kỳ). Doanh số bán buôn nội địa tăng 21% lên 679.020 xe, riêng tháng 9 đạt 79.450 xe (+28%), tháng tăng thứ sáu liên tiếp. Xuất khẩu xe giảm 2,7%.
Trung Đông
Rủi ro hàng hải quanh eo Hormuz tiếp tục leo thang. Tàu container GFS Pride bị trúng tên lửa và chìm ngày 13/10, GFS Giselle bị tấn công ngày 14/10 nhưng đã cập bến an toàn. Tàu hàng rời Cape Dao, bị hư hại từ 23/9, cũng được báo cáo đang chìm. Worldsteel dự báo nhu cầu thép Trung Đông 2026 giảm 13,9% còn 54,8 triệu tấn (riêng GCC giảm khoảng 11%) do xung đột, trước khi phục hồi 8,8% lên 59,6 triệu tấn năm 2027. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, giá HRC dày 1,9-4mm nhập từ Nga tăng 15 USD lên 580 USD/tấn CFR (đánh giá 9/10), trong khi HRC Nga giữ 510 USD/tấn FOB Biển Đen.
Châu Âu
HRC cơ sở tại Đức giữ 740 EUR/tấn EXW (chưa VAT), không đổi so với tuần trước, đứng yên suốt giai đoạn 9-14/10. Eurofer cho biết 100 ngày sau khi biện pháp mới có hiệu lực từ 1/7 (hạn ngạch miễn thuế giảm một nửa còn 18,3 triệu tấn/năm, thuế 50% ngoài hạn ngạch), các nhà sản xuất EU đã khởi động lại khoảng 10 triệu tấn công suất thép thô. Họ đã ra quyết định đầu tư ít nhất 3,4 tỷ EUR trong năm 2026, thêm 2,4 tỷ EUR dự kiến trước cuối năm. Tuy nhiên Eurofer nhấn mạnh ổn định chưa phải phục hồi, nhu cầu năm nay chỉ tăng khoảng 0,1%, đồng thời kêu gọi chống lẩn tránh hạn ngạch, giá năng lượng cạnh tranh và CBAM hiệu quả. Worldsteel hạ dự báo nhu cầu EU-27 và Anh 2026 xuống giảm 0,3% (điều chỉnh giảm 1,5 điểm %), trước khi tăng 3,1% năm 2027. Nhu cầu của Đức dự kiến tăng 3,8% lên 30,3 triệu tấn năm 2026 nhưng WV Stahl cho rằng đà tăng xuất phát từ nền rất thấp. ArcelorMittal France đang chuẩn bị xây lò điện hồ quang 2 triệu tấn/năm tại Dunkirk (vốn 1,3 tỷ EUR). Giai đoạn hai dự án thép điện Mardyck gồm dây chuyền tẩy gỉ - ủ và máy cán nguội đảo chiều, dự kiến chạy thử mùa xuân 2027.
Brazil
CSN ký thỏa thuận ràng buộc (term sheet) ngày 9/10 bán toàn bộ cổ phần Stahlwerk Thuringen của Đức (thép hình, công suất 1,1 triệu tấn/năm) cho Megasa của Tây Ban Nha, với giá trị doanh nghiệp 550 triệu EUR (có điều chỉnh) và thời gian độc quyền đàm phán tối đa 10 tuần. Thương vụ nằm trong chương trình thoái vốn giảm nợ của CSN.
IV/ BẢNG GIÁ GIAO DỊCH NỘI ĐỊA – GIÁ CHÀO THAM KHẢO
Nhóm hàng | Chủng loại / mác | Quy cách / nguồn hàng | Đơn vị | Giá tuần này | Xu hướng giá tuần |
HRC nội địa | SS400 | Hàng Hòa Phát qua đại lý phân phối | vnđ/kg | 16.000-16.200 | Giữ giá, còn thương lượng |
HRC nội địa | SS400 /Q235 | Khổ 2m/1m5 nhập khẩu | vnđ/kg | 15.800-16.000 | Giảm nhẹ 100đ |
HRC nhập khẩu | HRC Trung Quốc | Chào FOB | USD/tấn | 495-506 | Giảm do nguyên liệu đầu vào |
HRC nhập khẩu | HRC Indonesia | Chào CFR giao tháng 10-11 | USD/tấn | 532-535 | Giảm 5-8$ |
HRC nhập khẩu | HRC India | Giao T10, chào CIF | USD/tấn | 555-560 | Không có offer chính thức |
V/ BẢNG THEO DÕI GIÁ NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO
Ngày | Quặng sắt 62% Fe CFR China ex-Australia | Than luyện cốc Australia FOB | Phế HMS 80:20 CFR Turkey ex-USA | Phế shredded CFR Turkey ex-USA |
09/10 | 94.25 USD/tấn | 278.00 USD/tấn | 400 USD/tấn | 420 USD/tấn |
12/10 | 94.25 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 400 USD/tấn | 420 USD/tấn |
13/10 | 93.75 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 398 USD/tấn | 418 USD/tấn |
14/10 | 93.50 USD/tấn | 270.00 USD/tấn | 398 USD/tấn | 418 USD/tấn |
VI/ DỰ BÁO DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG
Tâm điểm của thị trường từ giữa tháng là xu hướng giá của Hòa Phát cho nhịp tháng sau. Ở đợt chốt đơn đặt hàng lần này, cả hai nhà sản xuất nội địa đều phân bổ cho thị trường trong nước vượt mức thị phần thông thường của các tháng trước, lượng dành cho nội địa tăng khoảng 10%. Khi nhà máy chủ động tăng nguồn cung ra thị trường thay vì siết hàng, khả năng giá tiếp tục tăng gần như không còn. Tâm lý thị trường sắp tới được nhân định sẽ tiếp tục xuất hiện nhiều giao dịch hàng nhập khẩu, đặc biệt là từ Inđô
Phía chi phí cũng không tạo thêm áp lực. Quặng sắt và than cốc đều đang đi ngang và nghiêng về xu hướng giảm. Quặng 62% Fe đã xuống vùng thấp nhất hơn hai năm, còn than cốc Úc lùi về 270 USD/tấn FOB. Chi phí đầu vào không còn là lý do để nhà máy đẩy giá. Vì vậy mặt bằng giá tháng sau nhiều khả năng sẽ ưu tiên giữ ổn định. Giảm giá sâu trong giai đoạn này không phải lựa chọn hợp lý, vì sẽ làm tâm lý thị trường xấu đi và khiến người mua chờ giá thấp hơn, trong khi sức mua chưa thật sự hồi phục.
Ở khâu hạ nguồn, gồm kết cấu và tôn mạ, giá niêm yết khó giảm. Các đơn vị sẽ hạn chế điều chỉnh công khai để tránh tạo mặt bằng mới. Tuy vậy, giảm giá riêng cho từng đơn hàng nhiều khả năng vẫn diễn ra, tập trung ở các lô hàng lớn, khách hàng mua đều và những đơn vị cần quay vòng vốn trong bối cảnh thanh khoản eo hẹp. Nhìn chung, thị trường nhiều khả năng đi ngang trong những tuần tới, cạnh tranh chủ yếu thể hiện qua chiết khấu thay vì giá niêm yết. Kỳ vọng giá tăng trở lại được dồn vào giai đoạn đầu năm 2027.


