Thị trường thép Trung Quốc bước vào phiên giao dịch ngày 27/07/2026 trong thế giằng co mài đáy tại vùng giá thấp khi các yếu tố cơ bản cung – cầu đan xen phức tạp. Áp lực dư cung vẫn hiện hữu khi tồn kho sản phẩm thép tại các doanh nghiệp trọng điểm giữa tháng 7 tiếp tục tích lũy lên mốc 18,13 triệu tấn (tăng 8,1% so với kỳ trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm ngoái), cộng hưởng với hiệu ứng mùa thấp điểm nắng nóng, mưa bão làm đình trệ thi công hạ nguồn.
Tuy nhiên, đà suy giảm sâu được chặn lại nhờ động thái thu hẹp sản lượng thực tế từ phía nhà máy. Dữ liệu giữa tháng 7 ghi nhận sản lượng thép thô bình quân ngày của các doanh nghiệp trọng điểm giảm xuống 2,015 triệu tấn (giảm 5,9% so với cùng kỳ). Bên cạnh đó, thông tin khu vực Đường Sơn thực hiện hạn chế sản xuất từ ngày 25/07 đến 29/07 (giảm 20% công suất lò cao và 40% công suất thiết bị thiêu kết), cùng với việc hợp đồng tương lai nhóm hàng đen phục hồi nhẹ trong phiên đêm thứ Sáu (rb2610 chốt ở mốc 3.086 NDT/tấn, tăng 13 điểm), đang đóng vai trò nâng đỡ tâm lý giao dịch giao ngay.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa ngày 27/07 dự báo xuất hiện nhịp phân hóa nhẹ, biến động đi ngang là chủ đạo, biên độ điều chỉnh tăng giảm hẹp:
Bắc Kinh: Giá cơ sở thép thanh vằn cấp 3 HRB400E Φ18-22mm dự kiến tăng nhẹ 10 NDT/tấn lên mốc 3.070 NDT/tấn nhờ lực kéo từ sàn tương lai đêm qua và thanh khoản cuối tuần duy trì ở mức khá.
Hàng Châu & Quảng Châu: Giá cơ sở HRB400E Φ18-22mm dự kiến giữ thế ổn định ở mốc 3.060 NDT/tấn.
Tây An, Vũ Hán, Thành Đô: Giá giao ngay dự kiến duy trì nhịp ổn định, vận hành lần lượt ở các mốc 3.000 NDT/tấn, 3.010 NDT/tấn và 3.030 NDT/tấn.
Phôi thép Đường Sơn: Sáng 27/07, giá xuất xưởng phôi thép vuông carbon phổ thông Thiên An - Đường Sơn đi ngang ở mốc 2.960 NDT/tấn. Chênh lệch giá giữa hợp đồng thép cây tương lai chủ lực và phôi thép đạt 116 NDT/tấn.
Thị trường tương lai: Hợp đồng chủ lực thép cây 10 phiên đêm 24/07 đóng cửa tại 3.086 NDT/tấn (tăng 13 điểm, giảm vị thế 3,9 vạn hợp đồng). Biên độ dao động tham khảo trong ngày 27/07 dự kiến ở vùng 3.060 - 3.106 NDT/tấn. Cấp độ kỹ thuật giờ phục hồi chạm đường MA20, vùng hỗ trợ 3.058 - 3.072 NDT/tấn tiếp tục phát huy tác dụng.
Tồn kho & Thanh khoản: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc phiên thứ Sáu (24/07) giảm về mức 91.100 tấn (giảm 13,65% so với phiên trước), đưa bình quân tuần xuống 96.100 tấn. Tổng tồn kho xã hội thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm đạt 5,2007 triệu tấn (tăng 0,33% so với tuần trước). Lượng xuất hàng thép hình tại 20 nhà máy Đường Sơn chiều 24/07 sụt giảm mạnh 60,3% xuống 22.710 tấn.
+ Thép công nghiệp
Phân khúc thép dẹt và thép chủng loại vận hành giằng co, áp lực tồn kho gia tăng song giá được nâng đỡ bởi chi phí và thông tin hạn chế sản xuất:
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao ngay tài nguyên chủ đạo 5.51500C đi ngang, Thượng Hải duy trì mốc 3.300 NDT/tấn. Hợp đồng HRC tương lai 10 chốt tuần ở mốc 3.289 NDT/tấn. Phía cung ứng quay lại đà tăng khi các nhà máy kết thúc đại tu, nâng sản lượng tuần lên 4,1424 triệu tấn (tăng 121.600 tấn), khiến tổng tồn kho nhà máy và xã hội tích tụ lên 5,1092 triệu tấn. Tuy nhiên, yêu cầu giảm 20% công suất lò cao tại Đường Sơn từ ngày 25-29/07 đang kiềm hãm áp lực giảm sâu.
Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình toàn quốc loại 1.0mm duy trì đà giảm nhẹ về mốc 3.739 NDT/tấn. Thị trường Thượng Hải (3.700 NDT/tấn), Quảng Châu (3.720 NDT/tấn), Thiên Tân (3.640 NDT/tấn) lỏng lẻo báo giá, giao dịch ngầm chiết khấu 10-20 NDT/tấn để thu hồi dòng tiền. Chênh lệch giá Nguội - Nóng duy trì ở vùng thấp 390 - 440 NDT/tấn khiến các nhà máy cán nguội độc lập tiệm cận ngưỡng hòa vốn.
Thép tấm trung dày: Giá trung bình toàn quốc giảm nhẹ về mốc 3.495 NDT/tấn. Sản lượng tuần của 44 nhà máy mẫu đạt 2,0994 triệu tấn. Sự sôi động của ngành đóng tàu trong nửa đầu năm 2026 (sản lượng hoàn thành đạt 36,5 triệu DWT, tăng 51,2%) tiếp tục là điểm tựa tiêu thụ dòng thép tấm và thép hình, bù đắp sự suy yếu từ lĩnh vực bất động sản.
Thép hình: Giá trung bình thép chữ I, U, góc toàn quốc giảm 5-9 NDT/tấn tuần qua, dao động từ 3.471 - 3.502 NDT/tấn. Tồn kho nhà máy thép hình toàn quốc giảm tuần thứ hai liên tiếp xuống 1,933 triệu tấn. Báo giá thép dải dòng 145 Đường Sơn ngày 27/07 ở mốc 3.200 NDT/tấn.
+ Nguyên liệu thô
Sự nới lỏng ủa trục chi phí tiếp tục đè nặng lên giá thành phẩm, dù một số mặt hàng có dấu hiệu cầm máu:
Than cốc (Coke): Đợt hạ giá thứ nhất (50-55 NDT/tấn) đã áp dụng toàn diện. Lò cốc Đường Sơn giao dịch ở mốc 1.885 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai chủ lực 09 chốt ở mốc 1.840,5 NDT/tấn. Giới thương nhân đang theo dõi khả năng xuất hiện đợt giảm giá thứ hai từ phía các nhà máy thép.
Than luyện cốc (Coking coal): Hợp đồng tương lai 09 phục hồi nhẹ lên 1.285 NDT/tấn nhờ sự thắt chặt nguồn cung từ các quy định an toàn mỏ mới tại Sơn Tây.
Quặng sắt: Thị trường vận hành phân hóa. Giá quặng bột PB tại cảng Kinh Đường giảm nhẹ về 714 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai quặng sắt 09 đóng cửa ở mức 746 NDT/tấn. Tinh quặng sắt Đường Sơn (65-60% gốc khô) ngày 24/07 giữ mốc 982 NDT/tấn. Tỷ lệ giá Thép cây/Quặng sắt đạt 3,14; Phôi thép/Quặng sắt đạt 3,01.
Thép phế liệu: Chỉ số lưu thông toàn quốc giữ ở mốc 2.074. Phế nặng Đường Sơn ở mốc 2.030 NDT/tấn. Tỷ lệ phối trộn phế liệu bị hạn chế do lò điện bị lỗ sâu và nước gang quy trình dài chiếm ưu thế chi phí.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Hoạt động xuất khẩu thép Trung Quốc chịu áp lực lớn từ các rào cản thương mại mới công bố và rủi ro vận tải địa chính trị:
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá chào xuất khẩu HRC mác Q235/SS400 dao động ở mốc 484 - 490 USD/tấn FOB. Căng thẳng tại Biển Đỏ đẩy cước vận chuyển từ Trung Quốc đi các cảng Ả Rập Xê-út tăng vọt lên 80 - 100 USD/tấn, kèm phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tăng lên 0,75%, làm gián đoạn chuỗi cung ứng sang Trung Đông. Tại Đông Nam Á, giá CFR HRC đi ngang ở mốc 514 USD/tấn.
Thép dài & Phôi thép: Chỉ số thép cây FOB Trung Quốc ở mốc 473 USD/tấn; giá chào mác B500B giữ ở mức 485 - 490 USD/tấn FOB. Cuộn trơn (Wire rod) chào bán ở mốc 494 - 500 USD/tấn FOB. Giá chào phôi thanh xuất khẩu Đường Sơn giữ mốc 460 - 465 USD/tấn FOB, nhưng giá thầu thực tế từ phía khách mua quốc tế chỉ ở mức 450 - 455 USD/tấn FOB.
Phòng vệ thương mại: Ngày 24/07, Bộ Tài chính Nhật Bản đưa ra phán quyết sơ bộ khẳng định chống bán phá giá đối với thép dải và thép tấm mạ kẽm nhúng nóng từ Trung Quốc, áp thuế sơ bộ với biên độ bán phá giá từ 63,95% đến 68,67% (An Sơn chịu mức 63,95%, Luyện Nguyên Hoa Lăng chịu mức 68,67%). Đồng thời, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) áp mức phụ phí thuế mới 12,5% đối với hàng hóa Trung Quốc từ ngày 24/07.
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép Trung Quốc trong ngày 27/07 và các phiên tiếp theo của tuần 31 dự báo tiếp tục vận hành trong mô hình dao động tích lũy tại vùng đáy, mài đáy thiên yếu. Các nhân tố kỹ thuật và cơ bản tác động bao gồm:
Cung - Cầu ngắn hạn: Mặc dù đợt hạn chế sản xuất ngắn hạn tại Đường Sơn (25-29/07) và đà thua lỗ gia tăng đẩy nhanh tiến độ đại tu lò cao, tổng tồn kho toàn hệ thống đang ở mức rất cao (tồn kho nhà máy trọng điểm tăng 28,2% so với đầu năm và tăng 15,8% so với cùng kỳ). Nhu cầu thi công hạ nguồn chưa thể phục hồi đột biến do ảnh hưởng thời tiết cực đoan, giao dịch thực tế tiếp tục phụ thuộc vào sức mua bổ sung kho nhu cầu cứng rải rác.
Chi phí lót đáy: Việc than cốc hoàn thành đợt giảm giá đầu tiên đã kéo trục chi phí xuống, nhưng giá quặng sắt và phế liệu đang thể hiện tính đàn hồi nhất định. Phía chi phí hiện thiết lập vùng sàn đỡ giá thành phẩm chứ không tạo đủ xung lực bứt phá đi lên.
Dự báo xu hướng giá ngày 27/07: Giá giao ngay các chủng loại thép thành phẩm (thép cây, cuộn cán nóng, cán nguội, thép hình) trên thị trường nội địa Trung Quốc dự kiến duy trì trạng thái phân hóa, biến động trong biên độ hẹp (tăng giảm cục bộ 10 - 20 NDT/tấn). Ranh giới kháng cự mốc 3.100 NDT/tấn trên sàn tương lai rb2610 tiếp tục là điểm giằng co then chốt của phe đa - không; giá giao ngay khó mở rộng đà tăng nếu thiếu vắng sự cải thiện thực chất từ thanh khoản đầu cuối.



