Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 24/8/2026

Thị trường thép Trung Quốc hôm nay (24/8) dự kiến tiếp tục dao động trong biên độ hẹp với xu hướng tăng nhẹ, được dẫn dắt bởi chi phí nguyên liệu thô khi giá than mỡ luyện cốc tăng mạnh và đợt tăng giá than cốc luyện kim đầu tiên được xác nhận. Tuy nhiên, nhu cầu hạ nguồn chưa có cải thiện thực chất, hạn chế biên độ tăng của thép thành phẩm.

TRONG NƯỚC

THÉP XÂY DỰNG (REBAR & WIRE ROD)

Giá thép cây tăng nhẹ trong phiên 21/8. Tại Thượng Hải, giá thép cây giao kho tăng 10 NDT/tấn lên 3.010 NDT/tấn; hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 10 trên SHFE tăng 14 NDT/tấn lên 3.039 NDT/tấn. Giá thép cây trung bình toàn quốc đạt 3.167 NDT/tấn, tăng 10 NDT/tấn so với phiên trước.

Nhu cầu: Giao dịch thép cây tại các thành phố lớn đạt 97.000 tấn, tăng 10.000 tấn so với phiên 20/8, là mức giao dịch ngày cao nhất trong tuần. Một số thương nhân cho biết nhu cầu mua bù kho cải thiện khi tín hiệu giá sàn rõ ràng hơn. Khối lượng thép xây dựng toàn quốc đạt 124.000 tấn, tăng 14,02%; tổng khối lượng thép các thành phố trọng điểm đạt 232.300 tấn, tăng 6,86%.

Nguồn cung: Tồn kho thép xây dựng tại các thành phố trọng điểm còn 5,15 triệu tấn, giảm 194.000 tấn so với tuần trước, tương đương -3,63%. Tỷ lệ vận hành lò cao toàn quốc đạt 77,8%, tăng 0,19 điểm phần trăm. Sản lượng thô tháng 7 đạt 76,93 triệu tấn, giảm 3,6% so với cùng kỳ, tương đương sản lượng bình quân ngày 2,482 triệu tấn.

THÉP CÔNG NGHIỆP (HRC, CRC, HDG)

HRC: Giá HRC giao kho tại Thượng Hải giữ nguyên 3.300 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai HRC kỳ hạn tháng 10 trên SHFE tăng 6 NDT/tấn lên 3.295 NDT/tấn. Giá HRC trung bình toàn quốc đạt 3.279 NDT/tấn, giảm 1 NDT/tấn. Về nguồn cung, tổng tồn kho HRC tại nhà máy và xã hội đạt 5,22 triệu tấn, tăng 19.400 tấn so với tuần trước; sản lượng HRC tuần đạt 4,08 triệu tấn, đi ngang. Áp lực tồn kho chưa được giải tỏa, nhưng tốc độ tích lũy chậm lại.

CRC, HDG: Thị trường CRC và HDG nội địa duy trì trạng thái ổn định; một số khu vực ghi nhận mức điều chỉnh +10 NDT/tấn ở phiên chiều đối với CRC và HDG.

NGUYÊN LIỆU THÔ

Nguyên liệu thô tiếp tục là trụ đỡ chính cho thép thành phẩm.

Than cốc và than mỡ luyện cốc: Các nhà máy thép tại Hà Bắc, Thiên Tân, Đường Sơn, Thạch Gia Trang, Hình Đài chấp nhận tăng giá than cốc 50 NDT/tấn đối với than cốc ướt và 55 NDT/tấn đối với than cốc khô, áp dụng từ 24/8. Hợp đồng than cốc kỳ hạn tháng 1 trên DCE tăng 44 NDT/tấn lên 2.119,5 NDT/tấn; than mỡ luyện cốc kỳ hạn tháng 9 tăng 4,57% lên 1.520,5 NDT/tấn. Các nhà máy than cốc độc lập có chi phí bình quân 2.133 NDT/tấn, giá bán bình quân 1.895 NDT/tấn, lỗ bình quân 239 NDT/tấn; toàn bộ khu vực đều thua lỗ, sản lượng than cốc giảm và tồn kho nhà máy giảm.

Quặng sắt: Giá quặng PB tại Kinh Đường Cảng giữ nguyên 710 NDT/tấn; hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 tăng 1,5 NDT/tấn lên 707,5 NDT/tấn. Cước vận tải biển có tác dụng nâng đỡ, nhưng xu hướng tiếp theo phụ thuộc mức độ cắt giảm sản lượng gang trong nước.

Phôi thép: Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn tăng 10 NDT/tấn lên 2.970 NDT/tấn.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Thép cây: Chỉ số giá thép cây FOB Trung Quốc giữ nguyên 468 USD/tấn theo trọng lượng lý thuyết. Một nhà máy miền Bắc nâng chào B500B lên 480 USD/tấn FOB và HRB400 lên 469 USD/tấn FOB. Tại Đông Nam Á, chỉ số giá thép cây CFR Singapore giữ nguyên 493 USD/tấn; các nhà máy Trung Quốc nâng chào lên 500-505 USD/tấn CFR Singapore/Hồng Kông, trong khi chào thép cây Malaysia duy trì 490-495 USD/tấn CFR. Người mua quan tâm hạn chế ở mức 490 USD/tấn CFR, còn nhà máy không giảm giá để chốt đơn.

Dây thép cuộn: Chỉ số dây thép cuộn FOB Trung Quốc giữ nguyên 491 USD/tấn. Một nhà máy miền Bắc nâng chào lên 499-502 USD/tấn FOB cho lô hàng cuối tháng 9. Chào mua Đông Nam Á ở mức 490-495 USD/tấn CFR, tương đương 475-480 USD/tấn FOB Trung Quốc; chào dây thép cuộn Indonesia giữ nguyên 485 USD/tấn FOB cho lô hàng tháng 11.

HRC: Giá HRC xuất khẩu Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên 486 USD/tấn FOB. Một nhà máy lớn miền Bắc đã bán hết hạn ngạch sản xuất HRC tháng 9; giao dịch SS400 ghi nhận ở 483-490 USD/tấn FOB tùy quy mô lô hàng. Giá chào HRC Q235 từ nhà máy tư nhân ở 490-499 USD/tấn FOB. Tại ASEAN, giá HRC CFR Việt Nam tăng 6 USD/tấn lên 514 USD/tấn; người mua Việt Nam nâng mức giá mục tiêu lên 510-515 USD/tấn CFR, còn chào bán từ Ấn Độ/Indonesia ở 520-525 USD/tấn CFR cho lô hàng tháng 10-11.

CRC/HDG và thép tấm: Giá chào HDG SGCC ghi nhận 561 USD/tấn FOB Trung Quốc; thép tấm Q235 chào 527 USD/tấn FOB.

Phôi dẹt: Chỉ số phôi dẹt FOB châu Á tăng 5 USD/tấn lên 463 USD/tấn; chào phôi dẹt Trung Quốc ở 475-480 USD/tấn FOB, chào S235JR sang Indonesia ở 480 USD/tấn CFR.

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Thị trường thép Trung Quốc ngắn hạn dự kiến duy trì dao động với xu hướng tăng nhẹ, chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính.

Chi phí hỗ trợ: Đợt tăng giá than cốc đầu tiên 50-55 NDT/tấn có hiệu lực từ 24/8 cùng đà tăng của than mỡ luyện cốc đang tạo nền chi phí vững chắc. Chi phí sản xuất thép của các nhà máy dự kiến tăng thêm 20-30 NDT/tấn trong tuần tới; thị trường có thể xuất hiện đợt tăng than cốc thứ hai vào cuối tháng 8-đầu tháng 9 khi giá than mỡ còn vững.

Nhu cầu: Giao dịch thép xây dựng cải thiện so với phiên trước và đạt mức cao nhất tuần, nhưng vẫn thuộc vùng thấp của mùa tiêu thụ. Tồn kho thép xây dựng giảm, trong khi tồn kho HRC còn tích lũy, phản ánh nhu cầu hạ nguồn chưa đồng đều.

Kỳ vọng theo mùa: Thị trường hướng đến kỳ vọng phục hồi tháng 9, song tín hiệu từ khối lượng giao dịch và tồn kho chưa đủ xác nhận một xu hướng tăng bền vững. Trên kỳ hạn, thép cây đang bị chặn dưới kháng cự 3.050 NDT/tấn, HRC quanh 3.300 NDT/tấn, cho thấy nhịp tăng cần được kiểm chứng.

Khuyến nghị: Thành viên thị trường nên duy trì trạng thái thận trọng, ưu tiên giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua vùng giá cao; theo dõi sát diễn biến than cốc-than mỡ luyện cốc, sản lượng gang và tốc độ giảm tồn kho HRC trước khi xác lập xu hướng.