Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thép xây dựng tuần 33/2015

 

  THỊ TRƯỜNG THÉP XÂY DỰNG VIỆT NAM TUẦN 33

  Từ ngày 14 đến ngày 20-08-2015

  1.      Thị trường thép xây dựng trong nước 

Thị trường tiêu thụ thép xây dựng có diễn biến khá tốt trong tuần này, lượng tiêu thụ tăng đáng kể cả ở các đại lý và đơn vị sản xuất. Do đó cũng giúp cho hoạt động vận chuyển tăng từ các đơn vị sản xuất tới các công trình xây dựng. Giá bán được áp dụng trên từng đơn hàng cụ thể và đang có chiều hướng giảm. Tuy nhiên, một số mặt hàng thép xây dựng kém chất lượng đã làm cho các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ lao đao.

Giá các loại thép phế liệu, phôi thép cuối tháng trước đã giảm sâu so với các tháng trước đó. Tuy thuận lợi, song các doanh nghiệp thép trong nước vẫn đang phải đối mặt với phôi thép và thép thành phẩm giá rẻ từ Trung Quốc ồ ạt xuất khẩu sang nước ta. Trong sáu tháng năm nay, Việt Nam đã nhập khẩu 4,1 triệu tấn thép Trung Quốc, tăng 77,3% so cùng kỳ trước, chiếm khoảng 67% tổng lượng sắt thép nhập khẩu

Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, sản lượng thép xây dựng tháng 7 vượt ngưỡng sản xuất hơn 600.000 tấn/tháng. Như vậy, sản lượng thép đã tăng đến 51,48% so với cùng kỳ năm 2014. Đây là mức tăng rất cao trong những năm gần đây, sau một thời gian dài ngành thép rơi vào tình cảnh khó khăn do lĩnh vực bất động sản đóng băng. Song song với đó, lượng thép tiêu thụ cũng tăng gần 30% so với năm 2014.

Lượng thép xây dựng bán ra của các thành viên VSA đạt 522.099 tấn, tuy có giảm 1,52% so với tháng trước nhưng tăng đến 23,24% so với cùng kỳ. Tính trong 7 tháng đầu năm nay, tổng sản lượng thép của các thành viên VSA đạt 3.646.205 tấn, tăng 28,2% so với cùng kỳ 2014. Trong khi đó, tổng mức bán hàng đạt 3.577.163 tấn, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2014.

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa công bố, giá các loại nguyên liệu để sản xuất thép tiếp tục xu hướng giảm, đặc biệt giá giao dịch thép phế liệu, phôi thép tuần cuối tháng 7/2015 giảm sâu so với hồi cuối tháng trước. Cụ thể, giá thép phế liệu giảm 45USD/tấn so với giá cuối tháng 6/2015. Giá phôi nhập khẩu giảm 30 USD - 35 USD/tấn xuống mức 305 USD - 320 USD/tấn trong tháng 7/2015.

Xuất khẩu thép trong tháng 6 là 232.264 tấn, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái, mang lại tổng sản lượng trong 6 tháng là 1.2 triệu tấn. Tuy nhiên, các nhà máy trong nước tiếp tục vấp phải áp lực từ tiêu thụ thép giảm trong khi hàng nhập khẩu tăng bất chấp nền kinh tế cải thiện.

 

2.      Thông tin thị trường giá thép xây dựng các khu vực, nhà máy

 

Hiệp hội Thép Việt Nam vừa công bố, trong tháng 7/2015, giá các loại nguyên liệu để sản xuất thép tiếp tục xu hướng giảm, đặc biệt giá giao dịch thép phế liệu, phôi thép tuần cuối tháng 7/2015 giảm sâu so với hồi cuối tháng trước. Cụ thể, giá thép phế liệu giảm 45 USD/tấn so với giá cuối tháng 6/2015. Giá phôi nhập khẩu giảm 30 USD - 35 USD/tấn xuống mức 305 - 320 USD/tấn trong tháng 7/2015.

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm của Công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung. Giá bán đã bao gồm thuế VAT.

Bảng giá bán thép xây dựng Công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung

 

STT

 

Chủng loại

 

Kích thước

 

Đvt

 

Giá

1

Thép cuộn Ø5,5

CB240T

đ/kg

15.230

2

Thép cuộn Ø6

15.230

3

Thép cuộn Ø7

15.230

4

Thép cuộn Ø8

15.230

5

Thép cuộn Ø10

15.700

6

Thanh vằn D10

SD295, CB300-V

15.200

7

Thanh vằn D12

15.100

8

Thanh vằn D14

15.100

9

Thanh vằn D16

15.100

10

Thanh vằn D18

15.100

11

Thanh vằn D20

15.100

 

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm của Công ty thép Việt-Mỹ. Giá bán đã bao gồm thuế VAT.

Bảng giá bán thép xây dựng Việt-Mỹ

 

STT

 

Chủng loại

 

Kích thước

 

Đvt

 

Giá

1

Thép cuộn Ø6

Cuộn

đ/kg

13.200

2

Thép cuộn Ø8

13.200

3

Thanh vằn D10

Cây

đ/cây

91.000

4

Thanh vằn D12

129.000

5

Thanh vằn D14

176.000

6

Thanh vằn D16

230.000

7

Thanh vằn D18

291.000

8

Thanh vằn D20

359.000

 

Giá bán thép cuộn tròn trơn xây dựng một số thị trường được tổng hợp theo các ngày trong tuần qua:

 

Bảng giá thép xây dựng

 

Ngày

 

Sản phẩm

 

Khu vực

 

Đvt

 

Giá

19/8/15

Thép cuộn Ø6 Pomina

Bình Dương

đ/kg

15.000

Thép cuộn Ø8 Pomina

15.000

Thép cuộn Ø6

Đồng Tháp

15.200

Thép cuộn Ø8

15.200

Thép cuộn Ø6 LD

Đồng Nai

17.000

Thép cuộn Ø8 LD

17.000

Thép cuộn Ø6 LD

Trà Vinh

13.800

Thép cuộn Ø8 LD

13.800

Thép cuộn Ø6

Long An

13.650

Thép cuộn Ø8

13.650

Thép cuộn Ø6

Bạc Liêu

13.600

Thép cuộn Ø8

13.500

Thép cuộn Ø6

An Giang

14.550

Thép cuộn Ø8

14.500

Thép cuộn Ø6

Hậu Giang

15.000

Thép cuộn Ø8

15.000

 

Thị trường Long An, giá bán sản phẩm thép cuộn có giá bán khá thấp trong các tuần qua, lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ ở mức khiêm tốn do nhu cầu từ thị trường vẫn ở mức thấp. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép cuộn Ø6 và Ø8 có giá là 13.650 ngàn đồng/kg tại các đại lý bán lẻ.

Thị trường Bình Dương, giá bán sản phẩm thép cuộn Pomina khá ổn định trong tuần qua, lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ ở mức khiêm tốn do nhu cầu từ thị trường vẫn ở mức thấp. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép cuộn Ø6 và Ø8 có giá là 15 ngàn đồng/kg.

Thị trường Đồng Nai, lượng tiêu thụ không có chuyển biến đáng kể nào trong tuần này, giá bán luôn được duy trì ở mức cao qua nhiều tuần. Giá bán thép xây dựng được công bố trong đầu tuần này là 17 ngàn đồng/kg đối với thép cuộn Ø6 và Ø8, giá bán khá cao ở thời điểm hiện tại.

Thị trường Trà Vinh, giá bán lẻ thép cuộn tròn trơn xây dựng LD duy trì mức giá bán thấp hơn các tuần trước đó. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép xây dựng Ø6 là 13.8  ngàn đồng/kg và Ø8 là 13.8 ngàn đồng/kg. Lượng sản phầm bán ra đều đặn, có chiều hướng tăng dần.

3.      Dự báo thị trường thép xây dựng

Về tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành thép, VSA cho biết các nhà sản xuất thép trong nước tiếp tục phải chịu sức ép với thép nhập khẩu giá rẻ và nguồn cung dư thừa từ các nhà máy Trung Quốc. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, do giá thép phế liệu và phôi thép thế giới vẫn đang tiếp tục trên đà suy giảm, nên giá thép trong nước sẽ được điều chỉnh giảm theo.

 

Theo VSA, ngành thép Việt Nam sẽ đối diện với không ít khó khăn từ phía Trung Quốc bởi sản lượng thép của Trung Quốc 7 tháng đầu năm cao kỷ lục, đồng thời Trung Quốc mới hạ giá đồng Nhân dân tệ xấp xỉ 5%, khiến giá thép Trung Quốc có thể giảm sâu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, thép thành phẩm lẫn phôi thép nhập khẩu từ Trung Quốc có giá rất cạnh tranh sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, đặc biệt khi lượng thép dư thừa của quốc gia này cũng đang ở mức báo động trong 20 năm gần đây.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, gần đây, nhiều nhà sản xuất thép và phôi thép trong nước liên tục than thở về tình trạng lượng phôi thép giá rẻ Trung Quốc nhập về Việt Nam cao bất thường. Giá phôi thép Trung Quốc rẻ đã khiến một số nhà máy luyện phôi trong nước rục rịch chuyển hướng làm ăn, từ nhập thép phế liệu về luyện phôi chuyển sang nhập phôi từ Trung Quốc cán ra thép thành phẩm bán ra thị trường, tính ra lợi nhuận cao hơn trước. Trong khi đó, những nhà sản xuất sử dụng phôi thép trong nước cũng đang vất vả cạnh tranh với thép cán từ phôi thép giá rẻ của Trung Quốc, khiến hoạt động sản xuất của nhiều nhà máy thép bị xáo trộn, có doanh nghiệp buộc phải giảm sản xuất xuống chỉ còn một phần ba công suất thiết kế.

 

Lưu ý: Bảng giá trên đây được tham khảo tại các công ty, đại lý chuyên cung cấp thép xây dựng. Vì vậy bảng giá bán này chỉ để tham khảo không phải là giá cố định mà được điều chỉnh dựa trên số lượng lô hàng, khách hàng khi mua tại các công ty hay đại lý, phương tiện vận chuyển và hình thức thanh toán tùy thuộc vào vùng miền.

 

 

4.      Giá các mặt hàng thép cơ bản Việt Nam

 

 

Chào giá (đ/kg)

Xuất xứ

Giá

Tăng /giảm

Cuộn trơn Ø6

Trung Quốc

  8.700

Tăng 400

Cuộn trơn Ø8

Trung Quốc

  8.900

Tăng 200

Thép tấm 3,4,5 mm

Trung Quốc

  8.500

Tăng 200

Thép tấm 6,8,10,12 mm

Trung Quốc

  8.500

Tăng 100

HRC 2mm

Trung Quốc

  9.200

Tăng 200

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng quan thị trường thép Trung Quốc tuần 33 

Thị trường trong nước 

Thép xây dựng 

Giá thép cây ở miền bắc tăng nhẹ trong ngày đầu tuần, nhưng lượng giao dịch trên thị trường vẫn còn thưa thớt khi sắp có lệnh cấm gần như toàn bộ xe tải đi lại và ngưng việc xây dựng tại hầu hết các khu vực ở thủ đô để chuẩn  bị cho cuộc diễu binh vào ngày 3/9 tới. Nhưng đến ngày thứ ba, các đại lý buộc phải giảm 20 NDT/tấn xuống còn 2.070-2.080 NDT/tấn (324-325 USD/tấn) xuất xưởng, trọng lượng thực tế và gồm 17% VAT khi đơn hàng nhận được quá ít. Và giá đã duy trì mức này trong ba ngày tiếp theo, do chính phủ đã bắt đầu áp dụng các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt khiến việc giao dịch phải trì hoãn lại.

Tại Thượng Hải, giá giao ngay của cuộn trơn Q195 6.5mm được định giá thấp hơn 10 NDT/tấn (2 USD/tấn) so với tuần trước còn 2.140-2.150 NDT/tấn xuất xưởng gồm 17% VAT. 

Thép công nghiệp 

Tuy tồn kho thị trường không nhiều nhưng sức mua từ các ngành sản xuất vẫn còn yếu nên thép tấm Q235 14-20mm hôm thứ Sáu tiếp tục giảm nhẹ 10 NDT/tấn so với đầu tháng 8 xuống còn 2.170-2.200 NDT/tấn (340 USD/tấn), gồm 17% VAT.

Tương tự tại thị trường Thượng Hải hôm thứ Ba, CRC SPCC 1.0mm cũng giảm 5 NDT/tấn so với đầu tuần trước còn 2.480-2.590 NDT/tấn (388-405 USD/tấn). Được biết giá trên thị trường  này gần đây chậm lại, chủ yếu là do đã chạm mức thấp nhất trong số các thị trường lớn khác ở miền bắc và nam Trung Quốc. 

Giá HRC giao ngay liên tục lao dốc trong tuần này, bốc hơi tổng cộng 25 NDT/tấn, một phần là do giao dịch trì trệ nhưng ngoài ra còn vì thị trường tương lai suy yếu và giá phôi thanh lao dốc. Platts định giá HRC Q235 5.5mm ở mức 1.980-1.990 NDT/tấn (310-312 USD/tấn) xuất xưởng gồm 17% VAT hôm thứ năm. Cùng ngày, trên sàn Shanghai Futures Exchange, hợp đồng HRC giao kỳ hạn tháng 1 chốt tại 2.036 NDT/tấn, giảm 0,78% so với thứ Tư và đây là lần giảm thứ tư liên tiếp trong tuần này. 

Thị trường xuất khẩu 

Phản ứng trước sự mất giá của đồng nội tệ, cuộn trơn xuất khẩu quay đầu giảm trở lại trong tuần này xuống mốc thấp nhất trong gần 10 năm qua, chấm dứt chuỗi phục hồi ngắn ngủi hồi đầu tháng 8. Tâm lý bi quan ngày càng bao trùm khắp khu vực Châu Á khi NDT mất giá và sức mua nhìn chung vẫn còn yếu. Hôm thứ Tư, Platts định giá cuộn trơn dạng lưới 6.5mm giảm 7 USD/tấn so với tuần trước còn 303-307 USD/tấn FOB, đã chọc thủng mốc thấp kỷ lục trước đó từng chạm đến hôm 29/7 (308,5 USD/tấn), xuống mốc thấp mới kể từ khi Platts bắt đầu định giá hồi tháng 10/2006.

Giá thép cây nhập khẩu tới Châu Á duy trì ổn định trong tuần thứ hai liên tiếp nhưng hoạt động thu mua vẫn còn chậm. Người mua cho biết do họ đã tích trữ đủ hàng và cũng vì suy đoán giá thậm chí sẽ còn thấp hơn vào thời gian tới. Platts định giá thép cây BS460/HRB400 đường kính từ 16mm trở lên vẫn giữ ở mức 287-293 USD/tấn FOB trọng lượng thực tế.

Giá CRC tiếp tục giảm trong tuần này do đơn hàng ít ỏi và NDT mất giá. Platts định giá CRC SPCC 1.0mm ở mức 345-350 USD/tấn FOB Trung Quốc hôm thứ Ba, giảm 5 USD/tấn so với đầu tuần trước. Tính cho đến nay giá CRC đã giảm tổng cộng 12,5 USD/tấn.

Giá HRC xuất khẩu đã giảm khoảng 7 USD/tấn trong tuần qua do hệ quả từ động thái phá giá đồng nội tệ của Trung Quốc và những thị trường xuất khẩu chủ lực như Việt Nam, Ấn Độ và Malaysia. Bên cạnh đó, những rào cản thương mại ngày càng tăng từ các nước khác đã khiến việc xuất khẩu thép của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn hơn. Đến ngày thứ năm, đà giảm đã chững lại vì người mua chọn cách đứng đợi bên lề thị trường do sợ giá sẽ giảm sâu hơn. Platts định giá HRC SS400 3.0mm ở mức 300-306 USD/tấn FOB, đây là mức thấp nhất kể từ khi Platts bắt đầu định giá hồi tháng 01/2006.

 

 

 

 

 

Tổng quan thị trường thép thế giới tuần 33 

 

 

 

  Mỹ 

Thị trường HRC Mỹ tiếp tục đón nhận các cảnh báo về khả năng giá suy yếu do tiêu thụ thép thấp và các kiện chống bán phá giá gần đây không ảnh hưởng ngay lên sức mua.  Gía giao ngay HRC dao động từ 450-480 USD/tấn nhưng chủ yếu là 450-470 USD/tấn.

Gía thép cây Đông Nam Mỹ đã suy yếu trong tuần này do gặp áp lực từ hàng nhập khẩu và tiêu thụ suy yếu. Gía tại khu vực Đông Nam là 532 - 553 USD/tấn xuất xưởng trong khi giá tại Florida thấp hơn. Gía thép cây tại đây thấp hơn 500 USD/tấn xuất xưởng tới 550 USD/tấn xuất xưởng tùy thuộc vào khu vực. Gía thép cây số 5 có giá 500-505 USD/tấn xuất xưởng.

Trong khi đó, giá nhập khẩu thép cây là 460-470 USD/tấn đã tính phí giao hàng giao tháng 9 nhưng người mua do dự nhập hàng vì giá vẫn trên đà giảm.

Thổ Nhĩ Kỳ

Gía thép cây Thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu tới Mỹ giảm trở lại trong tuần này do các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ không hài lòng với lượng đơn hàng hiện tại nên giảm giá để kích cầu. Gía chào bán là 410  USD/tấn CFR Houston giao tháng 11 nhưng các thương nhân Mỹ không đặt hàng vì cho rằng giá không thể tăng nữa thậm chí nếu phế có tăng giá nên sẽ chọn giải pháp chờ đợi.

Đồng dolla tăng do các bất ổn chính trị và các cuộc xung đột tại Đông Thổ Nhĩ Kỳ đã kìm hãm tâm lý thị trường, gây áp lực cho thị trường thép cuộn. Gía chào xuất khẩu đã giảm thêm 5-10 USD/tấn trong tuần kèm chiết khấu, còn 355-365 USD/tấn FOB cho HRC trong khi CRC xuất khẩu giảm còn 460-470 USD/tấn FOB.

Giá chào nhập khẩu cũng giảm với giá từ Ukraina là 340-345 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ trong khi giá chào từ Nga là 345-350 USD/tấn CFR.

Các nhà máy trong nước vẫn gắng giữ giá niêm yết thép HDG 0.5mm tại mức 610-640 USD/tấn xuất xưởng tuần này trong khi PPGI 9002 0.5mm cũng tương đối bình ổn tại mức 710-740 USD/tấn xuất xưởng.

Giá chào xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tầm 15-20 USD/tấn nhưng giá dự thầu từ các thị trường khác vẫn thấp hơn giá chào bán của các nhà máy 20 USD/tấn.

CIS

Giá phôi thanh Trung Quốc giảm mạnh sau khi đồng NDT nước này rớt giá 3 ngày liên tiếp tuần qua đã gây áp lực cho thị trường phôi thanh CIS. Tuy nhiên, mộtMột nhà máy Ukraina vẫn giữ giá bình ổn tại mức 325 USD/tấn FOB Biển Đen nhưng các khách hàng Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Đông chưa sẵn sàng chấp nhận.

Châu Âu

Sản xuất ngành xây dựng EU tiếp tục giảm kéo giá thép cây rớt theo với mức giảm 15 Euro/tấn kể từ đầu tháng 6. Các nước Benelux đã bắt đầu chào bán tại mức giá 420-425 Euro/tấn đã tính phí giao hàng thực tế trong tuần này,  giảm từ mức 430 Euro/tấn trước đó. Gía tại Đức hiện tại đạt mức 420-430 Euro/tấn đã tính phí giao hàng thực tế.

Nhật Bản

Kyoei Steel- nhà sản xuất thép cây lớn nhất Nhật Bản đã quyết định sẽ giữ giá thép cây trong nước không đổi cho những hợp đồng tháng 9. Kyoei không tiết lộ giá niêm yết của mình nhưng mức giá trung bình mà công ty ký hợp đồng cho thép cây cỡ thường được sản xuất tại nhà máy Hirakata, Osaka tháng này khoảng 52.000 Yên/tấn (419 USD/tấn), giảm 2.000 Yên/tấn so với 1 tháng trước.

Thị trường thép dầm hình H ở Nhật đã suy yếu do hoạt động thị trường trì trệ hơn. Giá trên thị trường của thép dầm hình H cỡ lớn SS400 ở  Tokyo hiện tại là 75.000-76.000 Yên/tấn (603-611 USD/tấn) và ở Osaka khoảng 73.000-74.000 Yên/tấn, thấp hơn tương ứng 2.000 Yên/tấn (16 USD/tấn) và 1.000 Yên/tấn so với một tuần trước.

Châu Á

Giá thép cây nhập khẩu tới Châu Á duy trì ổn định trong tuần thứ hai liên tiếp nhưng hoạt động thu mua vẫn còn chậm. Người mua cho biết do họ đã tích trữ đủ hàng và cũng vì suy đoán giá thậm chí sẽ còn thấp hơn vào thời gian tới. Gía thép cây BS460/HRB400 đường kính từ 16mm trở lên không đổi so với tuần trước và giữ ở mức 287-293 USD/tấn FOB Trung Quốc trọng lượng thực tế.’

Trong khi đó, đà giảm của giá HRC giao ngay ở Châu Á đã chững lại vào cuối tuần do người mua chọn cách đứng đợi bên lề thị trường vì sợ giá sẽ giảm sâu hơn khi mà sức mua yếu và thị trường Trung Quốc cũng đang ảm đạm. HRC SS400 3.0mm ở mức 300-306 USD/tấn FOB.

Cuộn trơn nhập khẩu vào Châu Á quay đầu giảm trở lại trong tuần xuống mốc thấp nhất trong gần 10 năm qua. Tâm lý bi quan ngày càng bao trùm khắp khu vực này khi NDT bị phá giá và sức mua nhìn chung vẫn còn yếu. Cuộn trơn dạng lưới 6.5mm giảm 7 USD/tấn so với tuần trước còn 303-307 USD/tấn FOB Trung Quốc, đã chọc thủng mốc thấp kỷ lục trước đó.

Ấn Độ

Chào giá HRC nhập khẩu thấp đã gây sức ép cho các nhà máy Ấn Độ trong việc duy trì giá bán trong nước tuần này. HRC IS 2062 loại A/B dày 3mm duy trì từ 27.500-28.500 Rupees/tấn (421-435 USD/tấn) xuất xưởng.

Chào giá tuần này cho HRC SS400 loại thương phẩm dày 3 mm Trung Quốc giảm 5-10 USD/tấn so với tuần trước còn 315-320 USD/tấn CFR. Mức giá này tương đương  354-360 USD/tấn (22.819-23.47 Rupees/tấn) gồm thuế nhập khẩu 12,5%.

Đài Loan

Feng Hsin Iron & Steel đã nâng giá thép cây trong nước lên 300 Đài tệ/tấn (9,6 USD/tấn) hôm 17/8, đây là lần tăng giá đầu tiên sau gần 5 tháng. Nhưng động thái này chủ yếu là để bù đắp giá mua phế cao hơn suốt hơn hai tuần qua.

Với lần điều chỉnh mới đây nhất, giá niêm yết trong nước của Feng Hsin cho thép cây đường kính chuẩn 13mm hiện giờ là 12.000 Đài tệ/tấn xuất xưởng Taichung.