Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Bản tin thép xây dựng tuần 20/2016

 

THỊ TRƯỜNG THÉP XÂY DỰNG VIỆT NAM TUẦN 20/2016

Từ ngày 13 đến ngày 19-04-2016

1.              Thị trường thép xây dựng trong nước

Sau những tháng cao điểm tiêu thụ và tăng giá mạnh vào những tháng đầu năm, đến nay thị trường thép đã dần ổn định trở lại, đúng quy luật của nó. Với xu hướng tăng giá chung của thị trường nguyên liệu và thép thành phẩm thế giới, thị trường giá trong nước thời gian qua cũng đã có sự điều chỉnh. Giá phôi thép đã tăng từ 6,9 triệu đồng/tấn lên 9,3 triệu đồng/tấn; Giá thép dài thị trường ở mức 10,3 triệu đồng/tấn, tăng nhẹ so với tháng 4/2016.

Theo thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam, giá nguyên liệu sản xuất thép thế giới tăng liên tục kể từ những ngày đầu năm 2016. Cụ thể, giá quặng sắt loại 62% Fe từ mức 40 USD/tấn đã tăng lên đến 65 USD/tấn, và hiện đang ở mức 57 USD/tấn những ngày đầu tháng 5. Giá thép phế đầu tháng 1/2016 khoảng 190 USD/tấn, có xu hướng liên tục tăng cao và đang chào giá giao dịch ở mức 320 USD/tấn trong tuần đầu tiên của tháng 5.

Tác động của giá nguyên liệu sản xuất thép trên thế giới tăng nhanh khiến các nhà sản xuất trong nước phải điều chỉnh giá bán tương ứng. Bên cạnh đó quyết định áp thuế tự vệ thương mại tạm thời đối với sản phẩm phôi và thép dài nhập khẩu vào thị trường Việt Nam cũng có tác động đến thị trường.

Theo thống kê của VSA, top 5 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng dẫn đầu thị phần gồm: VnSteel, Hòa Phát, Pomina, Vinakyoei, Posco SS. Trong đó, Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel) bán được 664.645 tấn thép xây dựng trong 4 tháng đầu năm, chiếm 24,9% thị phần. Đứng thứ hai là Hòa Phát với 545.661 tấn, chiếm 19,7%. Bán được 321,573 tấn, chiếm 11,66% thị phần, Pomina đứng ở vị trí thứ ba. Hai doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ 4, 5 chiếm thị phần rất it. Cụ thể, Vinakyoei chiếm 9,49% và Posco SS chiếm 4,27%.

Theo tổng giám đốc một công ty thép tư nhân (TP.HCM), hiện giá thép giao tại nhà máy (đã tính VAT) đang giữ mức 11,2-11,4 triệu đồng/tấn, “nhưng sắp tới sẽ tăng lên mức 12,2-12,4 triệu đồng/tấn vì nhà máy chuẩn bị sử dụng nguồn nguyên liệu giá cao nhập khẩu từ cuối tháng 4”. Trong khi đó, giá thép bán lẻ trên thị trường được ghi nhận trong ngày 16-5 ở mức 12,2-12,7 triệu đồng/tấn (tùy thương hiệu).

Sở dĩ giá thép bán lẻ luôn cao hơn giá giao tại nhà máy trung bình trên 1 triệu đồng/tấn vì các doanh nghiệp sản xuất đang phân phối thép dưới hình thức mua đứt bán đoạn, nên khó kiểm soát được giá bán cuối cùng khi đến tay người tiêu dùng.

2.    Thông tin thị trường giá thép xây dựng các khu vực, nhà máy

Trong tháng 4, các doanh nghiệp thành viên của VSA đã sản xuất hơn 1,48 triệu tấn thép các loại, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó xuất khẩu đạt gần 192.000 tấn, tăng gần 50% so với cùng kỳ.  đến thời điểm này, thị trường tiêu thụ thép đã trở về đúng quy luật của nó, tính đến đầu tháng 5, sản lượng tiêu thụ thép đã giảm so với những tháng đầu năm. Cùng với việc sản lượng tiêu thụ thép tăng mạnh ở những tháng đầu năm do vào mùa tiêu thụ thì giá thành phẩm của các sản phẩm thép xây dựng cũng không ngừng tăng.

 Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm của Công ty thép Pomina. Giá bán tại khu vực trung tâm, đã bao gồm thuế VAT.

Bảng giá bán thép xây dựng Pomina

STT

Chủng loại

Mác Thép

Đvt

Giá

1

      Thép cuộn Ø6

CT3

      đ/kg

11.000

2

Thép cuộn Ø8

CB300

11.000

7

Thanh vằn D10

 

CB300

11.200

8

Thanh vằn D12

11.100

9

Thanh vằn D14

11.050

10

Thanh vằn D16

11.050

11

Thanh vằn D18

11.050

12

Thanh vằn D20

11.050

13

Thanh vằn D22

11.050

14

Thanh vằn D32

11.050

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm thép Việt Nhật. Giá bán chưa bao gồm thuế VAT.

Bảng giá bán thép xây dựng Việt Nhật

STT

Chủng loại

Mác Thép

Đvt

Giá

1

      Thép cuộn Ø6

Cuộn

      đ/kg

9.850

2

Thép cuộn Ø8

9.850

3

Thanh vằn D10

Cây

9.550

4

Thanh vằn D12

9.400

5

Thanh vằn D14

9.400

6

Thanh vằn D16

9.400

7

Thanh vằn D18

9.400

8

Thanh vằn D20

9.400

 

Giá bán thép cuộn tròn trơn xây dựng một số thị trường được tổng hợp theo các ngày trong tuần qua:

Bảng giá thép xây dựng

Ngày

Sản phẩm

Khu vực

Đvt

Giá

 

18-05-16

Thép cuộn Ø6 Pomina

Bình Dương

đ/kg

15.000

Thép cuộn Ø8 Pomina

15.000

Thép cuộn Ø6

Đồng Tháp

14.200

Thép cuộn Ø8

14.200

Thép cuộn Ø6 LD

Đồng Nai

14.000

Thép cuộn Ø8 LD

14.000

Thép cuộn Ø6 LD

Trà Vinh

13.800

Thép cuộn Ø8 LD

13.800

Thép cuộn Ø6

Long An

13.650

Thép cuộn Ø8

13.650

Thép cuộn Ø6

Bạc Liêu

13.600

Thép cuộn Ø8

13.500

Thép cuộn Ø6

An Giang

12.370

Thép cuộn Ø8

12.370

Thép cuộn Ø6

Hậu Giang

15.000

Thép cuộn Ø8

15.000

 

Thị trường Long An, giá bán sản phẩm thép cuộn có giá bán khá thấp trong các tuần qua, lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ ở mức khiêm tốn do nhu cầu từ thị trường vẫn ở mức thấp. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép cuộn Ø6 và Ø8 có giá là 13.650 ngàn đồng/kg tại các đại lý bán lẻ.

Thị trường Bình Dương, giá bán sản phẩm thép cuộn Pomina khá ổn định trong tuần qua, lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ ở mức khiêm tốn do nhu cầu từ thị trường vẫn ở mức thấp. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép cuộn Ø6 và Ø8 có giá là 15 ngàn đồng/kg.

Thị trường Đồng Nai, lượng tiêu thụ không có chuyển biến đáng kể nào trong tuần này, giá bán luôn được duy trì ở mức cao qua nhiều tuần. Giá bán thép xây dựng được công bố trong đầu tuần này là 14 ngàn đồng/kg đối với thép cuộn Ø6 và Ø8, giá bán khá cao ở thời điểm hiện tại.

Thị trường Trà Vinh, giá bán lẻ thép cuộn tròn trơn xây dựng LD duy trì mức giá bán thấp hơn các tuần trước đó. Giá bán công bố đối với các dòng sản phẩm thép xây dựng Ø6 là 12.8  ngàn đồng/kg và Ø8 là 13.8 ngàn đồng/kg. Lượng sản phầm bán ra đều đặn, có chiều hướng tăng dần. 

Bên cạnh các sản phẩm nhập khẩu, sản phẩm thép hình cũng đã được sản xuất ở trong nước bởi công ty Posco SS-Vina. Hiện nhà máy đã đi vào sản xuất ổn định và cung cấp với số lượng đa dạng sản phẩm thép hình điển hình là H-beam. Giá bán có sự chênh lệch giữa sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu, giá bán sản phẩm trong nước thấp hơn các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc...

 

Hiện tại, công ty đã tăng cướng quảng bá và tham gia các hội thảo giới thiệu sản phẩm mới tại Hà Nội và TP HCM, đã có nhiều đơn vị thăm quan và nhận được nhiều tín hiệu tích cực từ thị trường. Sản phẩm của công ty đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn khắt khe đảm bảo cung cấp cho các đơn vị khó tính trong các lĩnh vực như đóng tàu, chế tạo... 

 

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm thép hình của công ty Posco SS Vina. Giá bán đã bao gồm thuế VAT

 

Bảng giá thép xây dựng H-Beam

Sản phẩm

Kích thước

Chiều dài

Mác thép

Tiêu chuẩn

Giá

H-Beam

H 200x200x8x12

12m

SS400

JIS

11.300

H-Beam

H 200x100x5.5x8

12m

SS400

JIS

11.300

H-Beam

H 150x75x5x7

12m

SS400

JIS

11.300

H-Beam

H 150x150x7x10

12m

SS400

JIS

11.300

H-Beam

H 250x125x6x9

12m

SS400

JIS

11.500

H-Beam

H 300x150x6.5x9

12m

SS400

JIS

11.500

H-Beam

H 300x300x10x15

12m

SS400

JIS

11.500

H-Beam

H 350x175x10x11

12m

SS400

JIS

11.500

H-Beam

H 400x200x8x13

12m

SS400

JIS

11.500

H-Beam

H 450x200x9x14

12m

SS400

JIS

11.700

H-Beam

H 500x200x10x16

12m

SS400

JIS

11.700

H-Beam

H 588x300x12x20

12m

SS400

JIS

12.200

 

Bảng giá sau đây được tham khảo tại thị trường Miền Nam, sản phẩm thép hình nhập khẩu từ Trung Quốc được bán trên thị trường. Giá bán chưa bao gồm thuế VAT

 

Bảng giá thép xây dựng H-Beam

Sản phẩm

Kích thước

Chiều dài

Mác thép

Tiêu chuẩn

Giá

H-Beam

H 100x100x6x8

12m

SS400

JIS

12.900

H-Beam

H 125x125x6.5x9

12m

SS400

JIS

12.900

H-Beam

H 150x150x7x10

12m

SS400

JIS

13.100

H-Beam

H 200x200x8x12

12m

SS400

JIS

13.100

H-Beam

H 250x250x9x14

12m

SS400

JIS

13.100

H-Beam

H 300x300x10x15

12m

SS400

JIS

13.500

H-Beam

H 350x350x12x19

12m

SS400

JIS

14.000

H-Beam

H 400x400x13x21

12m

SS400

JIS

14.500

 

3.  Dự báo thị trường thép xây dựng

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) vừa dự báo trong tháng 5, giá thép sẽ tiếp tục tăng. Theo đó, giá thép có thể lên mức 11-11,5 triệu đồng/tấn, tăng khoảng 10% so với giá hiện tại.Bên cạnh đó, giá thép tăng do nhu cầu thị trường thép trong nước tốt, đang là mùa thuận lợi cho hoạt động xây dựng nên cầu tăng. Hơn nữa, cơ quan quản lý đã quyết định áp thuế tự vệ tạm thời đối với phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam khiến nhu cầu thép tăng lên.

Nguyên nhân khiến giá thép trong nước tăng là do giá nguyên liệu sản xuất thép thế giới tăng liên tục kể từ những ngày đầu năm 2016. Tác động của giá nguyên liệu sản xuất thép tăng nhanh khiến các nhà sản xuất trong nước phải điều chỉnh giá bán tương ứng.

Và theo những con số mới nhất vừa được Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) công bố thì trong tháng 4/2016, giá một số nguyên liệu thép trên thị trường thép thế giới cùng giá nguyên liệu đầu vào (phôi thép, thép phế) có biến động tăng nên các nhà máy sản xuất kinh doanh thép trong nước đã điều chỉnh tăng giá thép khoảng 100 - 500 đồng/kg tùy từng loại. Dự báo trong tháng 5/2016, giá bán lẻ thép xây dựng tại thị trường trong nước tăng nhẹ.

Đánh giá về việc giá thép tăng có ảnh hưởng, tác động như thế nào nền kinh tế, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, giá thép tăng không chỉ người tiêu dùng bị thiệt hại mà cả nhà nước, nền kinh tế cũng bị thiệt hại bởi nó kéo theo chi phí sản xuất cho thị trường bất động sản, thị trường xây dựng tăng.

Ngày 16-5, trước thông tin giá nguyên liệu đầu vào sản xuất thép như phôi thép, thép phế liệu, quặng sắt… đều tăng bình quân 15-20% so với tháng trước, một số doanh nghiệp sản xuất thép xác nhận thị trường sẽ có mặt bằng giá mới vào cuối tháng 5, đầu tháng 6 tới.

 

 

Lưu ý: Bảng giá trên đây được tham khảo tại các công ty, đại lý chuyên cung cấp thép xây dựng. Vì vậy bảng giá bán này chỉ để tham khảo không phải là giá cố định mà được điều chỉnh dựa trên số lượng lô hàng, khách hàng khi mua tại các công ty hay đại lý, phương tiện vận chuyển và hình thức thanh toán tùy thuộc vào vùng miền.

 

4.    Bảng giá các mặt hàng cơ bản Việt Nam tuần 20

 

 

 

Chào giá (đ/kg)

Xuất xứ

Giá

Tăng /giảm

Cuộn trơn Ø6.5

Trung Quốc

  9.500

Giảm 1.200

Cuộn trơn Ø8 

Trung Quốc

  9.500

Giảm 1.200

Thép tấm 3,4,5 mm

Trung Quốc

  9.200

Giảm 800

Thép tấm 6,8,10,12 mm

Trung Quốc

  9.200

Giảm 800

HRC 2mm

Trung Quốc

  9.500

Giảm 1.100

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng quan thị trường thép Trung Quốc tuần 20/2016

Thị trường trong nước

Thép xây dựng

Bất chấp những nỗ lực của Hegang để thực hiện giá sàn nhằm hỗ trợ thị trường giao ngay trong nước, vào đầu ngày thứ Hai các đại lý ở Bắc Kinh buộc phải bí mật hạ giá để thúc đẩy đơn đặt hàng trong bối cảnh sức mua trì trệ. Qua đó cho thấy có vẻ như chính sách giá lần này của Hegang có tác dụng rất hạn chế đến thị trường. Nhưng sau đó nhờ được hỗ trợ bởi giá phôi thanh và giá thép cây giao kỳ hạn mà thị trường giao ngay đã có 2 ngày phục hồi nhưng khi hai yếu tố hỗ trợ này biến mất thì ngay lập tức giá cũng quay lại xu hướng cũ. Chính sự trồi sụt liên tục của giá đã làm mất niềm tin thị trường và tạo tính biến động cao khiến không ai dám liều lĩnh mua vào lúc này. Như vậy tính đến thứ Năm, thép cây HRB400 đường kính 18-25mm được chốt tại 2.340-2.350 NDT/tấn (358-359 USD/tấn) xuất xưởng trọng lượng thực tế, gồm 17% VAT, giảm 145 NDT/tấn so với tuần trước.

Tại thị trường giao ngay Thượng Hải hôm 18/5, cuộn trơn Q195 6.5mm được định giá 2.350-2.400 NDT/tấn (360-367 USD/tấn), giảm 80 NDT/tấn (12 USD/tấn) so với tuần trước đó.

Thép công nghiệp

CRC trong nước được định giá 3.250-3.440 NDT/tấn (498-527 USD/tấn), giảm 30 NDT/tấn so với tuần trước đó. Được biết tồn kho CRC thấp, cùng với giá xuất xưởng cao hơn từ các nhà máy, có thể ngăn giá CRC khỏi giảm đáng kể trong tháng này hay tháng tới. Tuy nhiên, nhu cầu trực tiếp đã suy yếu, trong khi việc giao hàng tới thị trường giao ngay từ các nhà sản xuất sẽ làm tăng dần lượng hàng tồn trong những tháng tới, điều này sẽ dẫn đến sức ép giảm ngày càng tăng cho giá CRC trong tháng 7 hay tháng 8.

Thị trường HRC tuần này có sự biến động mạnh. Sau khi giảm mạnh tới 80 NDT/tấn (12 USD/tấn) hôm thứ Sáu tuần trước, giá HRC đã có sự phục hồi đáng kể trong hai ngày đầu tuần nhờ thị trường giao sau tăng. Những tưởng xu hướng này sẽ duy trì được lâu; nhưng không, sang đến hai ngày sau đó giá đã rớt trở lại vì nhìn chung sức mua vẫn chưa cải thiện nên sự phục hồi không bền vững. Dự báo sẽ có nhiều thép cuộn hơn về đến thị trường giao ngay trong tuần tới và tồn kho thép sẽ dần tăng nên giá thép có khả năng sẽ giảm thêm nữa. Như vậy tính chung lại HRC Q235 5.5mm đã giảm 35 NDT/tấn xuống 2.620-2.650 NDT/tấn (400-405 USD/tấn) xuất xưởng gồm 17% VAT.

Thị trường xuất khẩu

Giá xuất khẩu CRC Trung Quốc tiếp tục sụt giảm trong tuần này do nhu cầu ở nước ngoài suy yếu. Platts định giá CRC SPCC dày 1.0mm ở mức 440-445 USD/tấn FOB, mức trung bình 442,5 USD/tấn FOB, giảm 20 USD/tấn so với tuần trước đó. Trong khi người bán sẵn sàng thương lượng giá của họ nhưng giao dịch vẫn còn rất thưa thớt vì người mua không tin giá đã chạm đáy và chọn cách đứng đợi, điều này càng làm hạn chế thêm nhu cầu ở nước ngoài.

Gía giao ngay của cuộn trơn tới Châu Á tiếp tục giảm trong tuần thứ tư liên tiếp từ ngày 12-18/5. Các nhà cung cấp Trung Quốc đã hạ chào giá xuống hơn nữa nhằm mục đích thu hút người mua trong khi khách hàng vẫn đứng đợi bên ngoài thị trường. Hôm thứ Tư, Platts định giá thép dây dạng lưới 6.5mm ở mức 343-349 USD/tấn FOB, giảm 9 USD/tấn so với một tuần trước đó. Giá đã giảm tổng cộng 86,5 USD/tấn trong 4 tuần qua.

Thị trường HRC xuất khẩu tiếp tục suy yếu trong tuần này mặc dù các nhà cung cấp đã nhân nhượng nhiều lần để hạ chào giá xuống bớt nhằm thu hút người mua nhưng xem ra vẫn không hiệu quả. Tâm lý chung của người mua hiện nay là rất dè dặt và không ai muốn tham gia vào thị trường mà chỉ muốn đợi xu hướng rõ ràng vì nghĩ rằng giá sẽ xuống thấp hơn nữa. Do đó dù giá ngày càng lún sâu nhưng người mua vẫn tỏ vẻ thờ ơ khiến cho thị trường ngày càng thêm ảm đạm. Tính chung cả tuần HRC SS400 3.0mm đã giảm thêm 21 USD/tấn và hôm 19/5 xuống còn 365-370 USD/tấn.

Sau chuỗi giảm liên tục kéo dài từ tuần trước đến thứ Hai tuần này, giá giao ngay của thép cây tới khu vực Châu Á đã có hai ngày ngắn ngủi chững lại. Nguyên nhân là do các nhà máy Trung Quốc không sẵn sàng hạ chào giá thêm nữa mặc dù người mua nán lại để xem chuyện gì sắp xảy ra. Nhưng động thái này cũng chỉ cầm cự được trong hai ngày, sau đó giá lại tiếp tục xu hướng đi xuống một lần nữa do bị ảnh hưởng bởi thị trường trong nước suy yếu hơn. Có thể nói đến lúc này các nhà cung cấp phải lực bất tòng tâm nhìn giá lao dốc mà không thể cứu vãn nổi trong bối cảnh hiện nay, khi thị trường đang thuộc về người mua. Đến thứ Năm, Platts định giá thép cây BS500 đường kính 16-20mm ở mức 340-345 USD/tấn FOB, thấp hơn tuần trước 13,5 USD/tấn.

 

 

Tổng quan thị trường thép thế giới tuần 20/2016

Ấn Độ

Nhu cầu HRC trầm lắng từ người mua trong nước đã không thể làm giảm sự quyết tâm của các doanh nghiệp thép trong nước, họ vẫn tiếp tục đối phó lại sức ép của mình và duy trì giá xuất xưởng hiện nay. Vì họ tự tin rằng người mua có thể sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải mua thép trong nước do tất cả hoạt động đặt hàng nhập khẩu đã ngưng lại kể từ khi chính phủ áp dụng giá nhập khẩu tối thiểu (MIP) từ tháng 2.

Platts định giá  HRC IS 2062 loại A/B dày 3mm hôm thứ Tư không đổi so với tuần trước và giữ ở mức 29.500-30.500 Rupees/tấn (441-456 USD/tấn) xuất xưởng.

 

Đài Loan

Feng Hsin Iron & Steel đã giảm giá thép cây trong tuần thứ hai liên tiếp, và lần này điều chỉnh giảm 800 Đài tệ/tấn (24,5 USD/tấn) do tình trạng doanh số bán ra chậm lại khi người mua tránh né thị trường và chờ giá có khả năng giảm thêm nữa.

Sau thông báo này, giá thép cây trong tuần này của  Feng Hsin còn 13.800 Đài tệ/tấn xuất xưởng Taichung. Đây là lần giảm thứ ba liên tiếp, hai lần trước là vào ngày 10/5 và 14/5 với mỗi lần giảm 500 Đài tệ/tấn. Ngoài ra động thái này còn đến từ nguyên nhân giá phế suy yếu trong thời gian qua. Công ty bây giờ đang mua phế HMS 80:20 với giá 6.300 Đài tệ/tấn.

 

Nhật Bản

Tokyo Steel Manufacturing sẽ tăng giá niêm yết trong nước cho thép cây lên 3.000 Yên/tấn (28 USD/tấn) trong tháng 6, như vậy 2 tháng qua nhà máy đã nâng giá lên tổng cộng 10.000 Yên/tấn. Quyết định của Tokyo Steel đã gây ra phản ứng thị trường bởi vì thép cây chiếm một phần nhỏ trong tổng khối lượng sản phẩm của Tokyo Steel. Công ty vẫn giữ giá của tất cả các sản phẩm khác không đổi cho tháng 6.

Theo đó, giá thép cây 13-25mm của Tokyo Steel lên 54.000 Yên/tấn (495 USD/tấn). Thế nhưng giá thép dầm hình H SS400 cỡ lớn và HRC SPHC 1.7-22mm vẫn duy trì lần lượt ở mức 72.000 Yên/tấn và 53.000 Yên/tấn.

Trong khi đó, Nippon Steel & Sumitomo Metal Corp (NSSMC) đã quyết định sẽ tăng giá trong nước cho thép dầm hình H lên 5.000 Yên/tấn (46 USD/tấn) đối với những hợp đồng tháng 5 (sản xuất tháng 6). Đây là lần tăng giá đầu tiên của nhà máy kể từ tháng 01/2014 khi công ty tăng thêm 2.000 Yên/tấn. Do tình hình thị trường đang cải thiện và nhu cầu thép dầm hình H được cho là sẽ tăng từ quý tới nên đây được cho là động thái đón đầu xu hướng. Thậm chí NSSMC đang cân nhắc tới việc thông báo mức tăng còn lớn hơn cho giá thép dầm trong tháng tới. Trong khi đối thủ cạnh tranh- Tokyo Steel Manufacturing- cũng đã tăng giá niêm yết cho thép dầm hình H cỡ lớn lên 5.000 Yên/tấn cho những hợp đồng tháng 5 lên 72.000 Yên/tấn.

NSSMC không tiết lộ giá niêm yết của mình nhưng giá trên thị trường hiện nay cho thép dầm hình H SS400 cỡ lớn ở Tokyo là khoảng 70.000-71.000 Yên/tấn (642-651 USD/tấn), không đổi so với 1 tháng trước.

Ngoài ra, NSSMC còn quyết định sẽ tăng giá trong nước cho các sản phẩm tấm mỏng, trong đó có HRC, pickled và oiled. CRC và thép mạ để giao ngay, và cho các doanh nghiệp cấp II trong đó có các nhà sản xuất ống thép, lên trung bình 10.000 Yên/tấn (92 USD/tấn) tức khoảng 20% từ những lô hàng giao tháng 6.

 Mỹ

Tuần này HRC duy trì ổn định mức 600-620usd/tấn ngắn xuất xưởng Midwest (Indiana).

Phạm vi giá cho thép mạ đã mở rộng ra gần đây với giá từ 800usd/tấn ngắn đến 850usd/tấn ngắn, tùy thuộc vào thời gian giao hàng và loại sản phẩm. Giá HDG ở mức 840usd/tấn ngắn và cung  cũng đang thắt chặt lại.

Thép cuộn cán nguội sẵn có tại Mỹ thắt chặt hơn do các lựa chọn hàng giao ngay nội địa rất khan hiếm cũng như chào giá nhập khẩu rải rác. Vì vậy các nhà máy của Mỹ sẽ không bán CRC dưới ngưỡng 860-880usd/tấn ngắn cho đơn hàng giao ngay. Định giá CRC hàng ngày lên đến 810-820usd/tấn ngắn, tăng từ 800-820usd/tấn ngắn, xuất xưởng Midwest (Indiana).. Báo giá CRC đã nghe nói ở mức 840usd/tấn ngắn và cao hơn ở một số nơi nhưng không rõ giá giao dịch có diễn ra tại mức giá đó hay không.

Trong khi đó các nhà sản xuất thép của Mỹ đang từ chối giá chào bán phế giữa tháng 05 cho nguồn cung bổ sung tại mức giá hợp đồng tháng 05, trong khi ít nhất hai trường hợp nhà máy đang tìm kiếm tấn bổ nguồn cung phế vụn bổ sung có khả năng sẽ mua ở mức giá không chênh lệch tăng so với giá chốt trong tuần mua phế tháng 05 từ đầu tháng này cho thấy áp lực lên nguồn cung phế sẽ diễn ra trong tháng 06.

Platts định giá phế vụn Midwest ở 275-280usd/tấn dài đã giao Midwest thứ Năm, giảm 5usd/tấn dài trong ngày dựa trên giá thầu lặp lại hiện nay và chào giá trên thị trường.

Giá bán xuất khẩu phế container Mỹ đã giảm còn  210usd/tấn CFR Đài Loan, giảm 87usd/tấn trong suốt ba tuần qua. Platts định giá phế HMS container Bờ Tây Mỹ ở mức 180-190usd/tấn FAS Cảng Los Angeles hôm thứ Tư, giảm 27,50usd/tấn trong ngày và giảm 100usd/tấn trong ba tuần qua.

Giá thép tấm Mỹ tăng sau các thông báo của nhà máy cuối tuần trước. Tuy nhiên, các nguồn tin thị trường tiếp tục từ hỏi khả năng duy trì giá cao hơn được thúc đẩy bởi vấn đền nguồn cung này liệu có duy trì kéo dài hay không.

Với 680-700usd/tấn ngắn đã giao là mức giá “thực tế” hơn nhưng có thể vẫn còn một số giao dịch có giá thấp hơn khoảng 670usd/tấn ngắn. Platts nâng định giá ngày của tấm thương mại A36 lên mức 650-670usd/tấn ngắn, tăng từ  630-650usd/tấn ngắn, xuất xưởng đông nam nhà máy Mỹ.

Tại thị trường thép cây Nucor thông báo tăng giá giao dịch cho thép cây có độ dài 20-foot thêm 20usd/tấn ngắn, có hiệu lực hôm thứ Hai. Sau đó Steel Dynamics Inc. cũng đã tăng giá giao dịch của nhà máy cho thép cây có độ dài 20-foot thêm 20usd/tấn ngắn, tương tự như thông báo tăng giá của Nucor.

EU

Giá thép hình châu Âu tuần này duy trì ổn định do người mua chủ yếu đang trong vị thế chờ đợi do giá phế đang được điều chỉnh. Giá ở các khu vực thuộc châu Âu được cho biết tương tự nhau và bằng mức giá tuần trước, với các nhà máy vẫn muốn đạt được mức giá 560euro/tấn vào cuối tháng 06 đối với thép hình loại 1. Giá giao dịch thép hình loại 1 ở tây bắc châu Âu trong phạm vi 510-520euro/tấn đã giao và 520-540euro/tấn đã giao tại Italy.

Chào giá cho tấm dày vẫn khan hiếm trong suốt tuần này trong bối cảnh các nhà máy tiếp tục nhận đơn hàng  cho quý 3, trong khi vẫn thúc đẩy giá cao hơn, nguồn tin thị trường cho biết.

Các nhà máy ở Tây Bắc Âu chào giá từ 550-600euro/tấn hoặc thậm chí cao hơn cho thép tấm thương mại S235 trong tuần này. Sau những biến động thị trường, Platts tăng định giá ngày cho S235 (15-40mm) lên mức 520-530euro/tấn xuất xưởng Ruhr, tăng 10euro/tấn. Định giá nhập khẩu hàng ngày vẫn ổn định ở 450-460euro/tấn CIF Antwerp.

Định giá HRC Bắc Âu tuần này tăng 5-10euro/tấn lên mức 430-440euro/tấn xuất xưởng Ruhr.

Chào giá từ một nhà máy ở Đông Âu được nghe nói ở mức 430euro/tấn nhưng giá này là cho thép chất lượng thấp hơn. Thị trường ngày một quan ngại với chào giá nhà máy tăng liên tục ở mức 450-460euro/tấn xuất xưởng. Hầu hết mọi người cho biết thị trường trầm lắng nhưng thời gian giao hàng đang được nhà máy kéo dài hơn và trong khi chào giá nhập khẩu của Trung Quốc được biết ở mức 500euro/tấn CIF Antwerp không cạnh tranh được trong thị trường.

Sau ba tháng tăng giá cao bất thường, thị trường phế châu Âu tuần này dường như đã đạt đến một bước chuyển đảo ngược chiều giá.

Vào đầu tháng, giá chốt mua của tháng 05 đã tăng mạnh thêm 65-70euro/tấn so với giá tháng 04, nhưng tuần này chốt giá mua bán mới nhất đã giảm 30-35euro. Ở miền Nam châu Âu tuần trước giá đã giảm 10-15euro/tấn. Platts định giá chốt phế vụn NW châu Âu nội địa ở mức 250-270euro/tấn đã giao.

Thổ Nhĩ Kỳ

Tại thị trường thép tấm mỏng mặc dù các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đang cố gắng giữ giá niêm yết trong nước ổn định và chỉ cung cấp mức giảm giá nhẹ cho đơn đặt hàng khá lớn bất chấp kỳ vọng điều chỉnh giá giảm đáng kể của người mua, tuy nhiên chào giá phổ biến của nhà tích trữ cho thị trường trong nước đã suy yếu  do hoạt động thu mua ít ỏi.

Chào giá HRC của các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ cho thị trường trong nước vẫn ở mức 570-590usd/tấn xuất xưởng, trong khi giá của nhà tích trữ giảm khoảng 15-20usd/tấn còn 560-570usd/tấn do sức mua yếu.

Kéo theo đó kết hợp cùng với nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp đã tiếp tục gây áp lực lên giá chào của các nhà sản xuất thép cuộn mạ của Thổ Nhĩ Kỳ với mức giảm giá đáng kể cho khách hàng để thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ trong tuần.

Chào giá của các nhà sản xuất thép cuộn mạ hàng đầu cho HDG dày 0.5mm đến thị trường trong nước giảm xuống còn 720-740usd/tấn xuất xưởng với mức chiết khấu, trong khi chào giá trong nước PPGI 9002 dày 0.5mm ở mức 820 -840usd/tấn xuất xưởng, tùy thuộc vào điều khoản thanh toán và khối lượng đặt hàng, giảm khoảng 20usd/tấn trong tuần.

Chào giá xuất khẩu thép cuộn mạ của nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ cũng giảm một khoản tương ứng và hiện ở mức thấp hơn khoảng 20-30usd/tấn thấp so với giá niêm yết trong nước, do nhu cầu xuất khẩu chậm chạp.

Đối với thị trường thép cây trong nước tuần này Icdas, một trong những nhà sản xuất thép dài lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, đã giảm mạnh giá niêm yết trong nước cho thép cây và cuộn trơn hôm thứ Hai, đi theo xu hướng giảm của giá bán phổ biến của thép cây tại thị trường trong nước trong những ngày gần đây và trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ thấp và giá nguyên liệu thô giảm, đặc biệt là chào giá phôi thanh nhập khẩu.

Thép cây đường kính 12-32mm giảm 100TRY(34usd)/tấn còn 1.680TRY/tấn xuất xưởng cho Istanbul và 1.660TRY/tấn xuất xưởng cho Biga, Canakkale - tương đương với mức 480usd/tấn và 473usd/tấn tương ứng – không bao gồm VAT 18%. Thép cây đường kính 10mm giảm còn 1.690TRY(484usd)/tấn xuất xưởng, trong khi thép cây đường kính 8mm hiện ở mức 1.700TRY(487usd)/tấn xuất xưởng cho Istanbul.

Icdas cũng giảm giá thép cuộn trơn đường kính 7-8.5mm một khoảng tương tự còn 1.740-1.770TRY/tấn xuất xưởng, bao gồm VAT 18%.

Giá bán phổ biến thép cây đường kính 8-12mm của nhà tích trữ trong khu vực Marmara giảm còn 1.630-1.650TRY/tấn xuất xưởng (bao gồm VAT 18%), giảm 100TRY(34usd)/tấn trong tuần, trong khi giá tại các khu vực phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ còn thấp hơn nhiều.

Xuất khẩu thép cây Thổ Nhĩ Kỳ trì trệ trong tuần này do các nhà xuất khẩu địa phương đã từ chối cắt giảm giá đáng kể theo sự mong đợi của người mua.

Chào giá, mặc dù khan hiếm, được cho biết trong khoảng 470-480usd/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, trọng lượng thực tế, giao cuối tháng 06. Người mua ở UAE có thể trả 450-460usd/tấn CFR trọng lượng lý thuyết, một nguồn tin thương mại cho biết. Tại Mỹ, người này cho rằng, "người mua đang tìm kiếm 470usd/tấn CFR trọng lượng lý thuyết và tôi nghĩ rằng giá sẽ ổn định ở 470-475usd/tấn CFR". Platts đưa định giá thép cây Thổ Nhĩ Kỳ hàng ngày ở mức 470usd/tấn FOB Thổ Nhĩ Kỳ, giảm 10usd/tấn.

Giá mua phế DKP và phế nấu chảy từ tàu cũ của các nhà máy thép Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm mạnh hơn nữa trong tuần này, do các nhà máy tiếp tục giảm giá mua phế trong nước trong bối cảnh niềm tin thị trường thép thành phẩm trì trệ ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Phế nóng chảy từ tàu cũ bắt đầu được chào giá đến các nhà máy ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ (Ege Celik, IDC, Habas, Ozkan) trong phạm vi rộng là 210-245usd/tấn hôm thứ Tư, giảm khoảng 15-30/tấn trong tuần. Nhà máy Iskenderun của tập đoàn Erdemir ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, đã cắt giảm giá mua mạnh mẽ đối với phế DKP thêm 80TRY (27usd)/tấn còn 620TRY(208usd)/tấn, trong khi nhà máy Eregli cũng của tập đoàn này ở phía bắc Thổ Nhĩ Kỳ cũng hạ giá mua đáng kể thêm 95TRY (32usd)/tấn còn 645usd (216usd)/tấn.

Nhà sản xuất thép EAF Colakoglu, và nhà sản xuất thép hợp kim Asil Celik cũng đều giảm giá mua đáng kể thêm 15-30TRY (10-27usd) /tấn, còn 700TRY (235usd)/tấn trong tuần này. Giá mua DKP trong nước tại những  nhà sản xuất thép lò hồ quang điện khác ở Thổ Nhĩ Kỳ trong phạm vi là 660-700TRY (221-235usd)/tấn hôm thứ Tư, tùy thuộc vào khu vực và yêu cầu của nhà máy.

CIS

Tuần này không có doanh số bán thép cuộn xuất khẩu CIS được thực hiện. CIS đangduy trì chào giá ở mức 470usd/tấn FOB Biển Đen, nhưng chỉ về mặt tâm lý. Platts giảm định giá ngày của HRC nguồn gốc CIS còn 455-460usd/tấn FOB Biển Đen, giảm 7,5usd/tấn trong ngày, với định giá CRC cũng giảm 7,5usd/tấn, còn 515-520usd/tấn.

Các nhà máy CIS đã may mắn bán được sản lượng tháng 06 trước khi giá HRC đảo ngược chiều tại Trung Quốc trong tuần cuối cùng của tháng tư. Mặc dù giá thép cuộn và phôi tấm CIS  đang chứng minh khả năng chống lại được trước sự sụt giảm của phôi thanh và thép dài từ đầu tháng 05, tuy nhiên niềm tin thị trường cho thép cuộn cũng bị tác động không ít.

Phôi thanh Biển Đen tiếp tục điều chỉnh giảm trong tuần này để phù hợp với mức giá thấp hơn nhiều từ Trung Quốc cũng như tình cảnh thị trường thép thành phẩm Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục suy yếu. Mặc dù giá đã suy yếu hơn nhưng phôi thanh CIS vẫn còn quá cao đối với người mua, những người đang chờ đợi để đặt các đơn hàng mới.

Chào giá xuất khẩu CIS trong khoảng 360-365usd/tấn FOB Biển Đen cho hàng giao tháng 07 và 360usd/tấn FOB là mức giá “hợp lý”. Cũng trong tuần này có hai nhà máy tại Nga và Ukraine đang ở trong thị trường với mức giá đang tìm kiếm là 365usd/tấn FOB Biển Đen, các nguồn tin thương mại cho biết. Platts định giá phôi thanh hàng ngày của mình ở mức 360usd/tấn FOB Biển Đen hôm thứ Năm, giảm 5usd/tấn trong ngày.