Thị trường thép xây dựng
Thép thanh (Rebar)
Giá thép thanh nội địa ghi nhận xu hướng tăng trong tuần kết thúc ngày 28/8, với mức điều chỉnh 20-80 NDT/tấn tại các khu vực trọng điểm. Giá giao kho tại Thượng Hải kết thúc tuần ở mức 3.080 NDT/tấn, tăng 90 NDT/tấn so với mức đáy đầu tháng 8 và chạm mức cao nhất kể từ ngày 1/7. Hợp đồng tương lai thép thanh kỳ hạn tháng 10 đóng cửa ở mức 3.112 NDT/tấn, tăng 32 NDT/tấn trong phiên ngày 28/8.
Sản lượng thép thanh của các nhà máy lớn trong tuần ghi nhận mức giảm 73.000 tấn so với tuần trước, xuống còn 1,73 triệu tấn - mức thấp nhất trong những năm gần đây. Biên lợi nhuận của nhà máy bị thu hẹp đáng kể do chi phí nguyên liệu thô tăng, buộc các nhà máy duy trì kiểm soát sản lượng chặt chẽ.
Tồn kho thép thanh do nhà máy và thương nhân nắm giữ đã giảm 80.000 tấn trong tuần, xuống còn 6,75 triệu tấn. Tồn kho tại 35 thành phố chính đạt 511,32 nghìn tấn, tăng nhẹ 6,62 nghìn tấn so với tuần trước, phản ánh đặc điểm tích lũy có cấu trúc tại một số khu vực.
Về chi phí, ngành than cốc ghi nhận ba đợt tăng giá liên tiếp trong tuần 34. Đợt tăng thứ hai có hiệu lực từ ngày 26/8 với mức 100-110 NDT/tấn. Ngày 28/8, các nhà sản xuất cốc chính thức thông báo đợt tăng giá thứ ba, mức 100-110 NDT/tấn, dự kiến có hiệu lực từ ngày 31/8. Chi phí sản xuất của các nhà máy thép dự kiến tăng thêm 40-60 NDT/tấn khi đợt tăng giá thứ ba được thực thi. Đợt tăng giá thứ tư đang được các nhà sản xuất cốc lên kế hoạch với mức tăng tương tự, dự kiến diễn ra ngay sau đó.
Thị trường thép thanh được dự báo tiếp tục xu hướng tăng trong tuần 31/8 nhưng biên độ có thể thu hẹp. Các yếu tố hỗ trợ bao gồm: (i) chi phí nguyên liệu thô tăng mạnh (than cốc đợt 3 có hiệu lực từ 31/8 và đợt 4 đang được chuẩn bị); (ii) sản lượng duy trì ở mức thấp do biên lợi nhuận bị bóp nghẹt, nhiều nhà máy có kế hoạch cắt giảm sản lượng thêm trong tháng 9; (iii) tồn kho tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng; (iv) kỳ vọng nhu cầu cải thiện khi bước vào mùa cao điểm "Tháng 9 Vàng".
Tuy nhiên, đà tăng sẽ bị hạn chế bởi: (i) nhu cầu thực tế vẫn ở mức khiêm tốn, khối lượng giao dịch tại các thành phố lớn đạt trung bình 10,72 vạn tấn/ngày trong tuần 34, giảm 0,9 vạn tấn so với tuần trước; (ii) tồn kho xã hội vẫn cao hơn 9,95% so với cùng kỳ năm trước; (iii) đầu tư bất động sản 7 tháng đầu năm giảm 19,2% so với cùng kỳ, hạn chế khả năng bật tăng của nhu cầu thép dài.
Về xuất khẩu, chỉ số giá thép cây FOB Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên 473 USD/tấn theo trọng lượng lý thuyết. Các nhà máy đã nâng giá chào lên 489 USD/tấn FOB đối với mác B500B. Tuy nhiên, người mua Đông Nam Á chỉ thể hiện sự quan tâm hạn chế ở mức 490-500 USD/tấn CFR theo trọng lượng lý thuyết. Hoạt động giao dịch xuất khẩu dự báo tiếp tục trầm lắng do khoảng cách giá chào mua - chào bán và tâm lý thận trọng từ người mua khu vực.
Cuộn trơn (Wire rod)
Thị trường cuộn trơn nội địa biến động đồng pha với thép thanh. Giá giao kho tại Thượng Hải kết thúc tuần ở mức 3.390 NDT/tấn, tăng 60 NDT/tấn so với tuần trước. Giá trung bình toàn quốc cuộn trơn HPB300 φ6.5mm ghi nhận mức tăng 30-80 NDT/tấn tại các thành phố trọng điểm.
Tồn kho cuộn trơn tại 35 thành phố chính đạt 65,76 nghìn tấn, tăng 0,87 nghìn tấn so với tuần trước. Tổng tồn kho thép xây dựng xã hội đạt 577,08 nghìn tấn.
Chỉ số giá xuất khẩu dây cuộn FOB Trung Quốc tăng nhẹ lên 496 USD/tấn, với các nhà máy lớn giữ giá chào SAE1008 ở mức 500-515 USD/tấn FOB. Giá chào dây cuộn Indonesia ổn định ở mức 495 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 11. Nhu cầu xuất khẩu vẫn yếu, người mua đường biển đặt mục tiêu giá không cao hơn 495 USD/tấn FOB.
Thị trường cuộn trơn dự báo duy trì xu hướng tăng nhẹ trong tuần 31/8, diễn biến bám sát thép thanh. Đà tăng được kỳ vọng nhưng ở mức khiêm tốn, phụ thuộc vào: (i) mức độ phục hồi của nhu cầu từ các dự án hạ nguồn; (ii) chi phí nguyên liệu thô tăng tiếp tục tác động đến giá chào; (iii) tâm lý thị trường về mùa cao điểm tháng 9.
Các nhà máy khó có khả năng bán dây cuộn dưới mức 495 USD/tấn FOB sau khi giá nội địa củng cố và giá dây cuộn Indonesia tăng. Giá chào xuất khẩu dự kiến dao động trong khoảng 495-505 USD/tấn FOB, triển vọng giao dịch phụ thuộc vào nhu cầu từ thị trường Đông Nam Á.
Thị trường thép công nghiệp
Cuộn cán nóng (HRC)
Thị trường HRC nội địa ghi nhận xu hướng tăng mạnh trong tuần kết thúc ngày 28/8, với giá trung bình loại 4,75mm đạt 3.353 NDT/tấn, tăng 57 NDT/tấn so với tuần trước. Giá giao kho tại Thượng Hải kết thúc tuần ở mức 3.360 NDT/tấn, tăng 60 NDT/tấn so với tuần trước và là mức cao nhất trong gần hai tháng. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 10 trên Sàn giao dịch Tương lai Thượng Hải đóng cửa ở mức 3.371 NDT/tấn, tăng 0,96% trong phiên ngày 28/8.
Động lực chính đến từ hỗ trợ chi phí nguyên liệu thô (giá than cốc và than mỡ tăng mạnh) và kỳ vọng mùa cao điểm. Tuy nhiên, sau khi tăng giá, giao dịch ghi nhận sự ì ạch, cho thấy sức cầu cuối cùng vẫn yếu.
Tồn kho HRC toàn quốc ghi nhận xu hướng phân hóa theo khu vực. Tồn kho xã hội giảm khoảng 2.000 tấn trong tuần này, so với mức giảm 10.000 tấn của tuần trước, cho thấy tốc độ giảm tồn kho chậm lại đáng kể. Khu vực Hoa Bắc ghi nhận các nhà máy bảo trì và cắt giảm sản lượng, trong khi thị trường phía Nam đối mặt với áp lực hàng đến tập trung. Sản lượng HRC tuần giảm 40.000 tấn so với tuần trước. Các nhà máy đang chịu mức lỗ 70-100 NDT/tấn đối với HRC sau khi giá nguyên liệu thô tăng liên tục.
Về xuất khẩu, chỉ số giá HRC FOB Trung Quốc tăng lên 494 USD/tấn. Các nhà máy lớn nâng giá chào lên 501-510 USD/tấn FOB đối với mác SS400 và Q235. Một số nhà máy có thể chấp nhận mức 495 USD/tấn FOB cho đơn hàng từ 10.000 tấn trở lên. Tại ASEAN, giá HRC duy trì ở mức 525 USD/tấn CFR Việt Nam. Người mua Việt Nam không vội vàng đặt đơn hàng mới, thích chờ các nhà máy nội địa công bố đợt giá chào mới vào tuần tới.
Thị trường HRC dự báo tiếp tục duy trì trạng thái dao động với xu hướng tăng nhẹ trong tuần 35. Các yếu tố tác động bao gồm:
Hỗ trợ phía dưới: (i) chi phí nguyên liệu thô tăng (đợt tăng than cốc thứ ba có hiệu lực từ 31/8, đợt thứ tư đang được lên kế hoạch); (ii) kỳ vọng cắt giảm sản lượng của nhà máy khi biên lợi nhuận bị thu hẹp; (iii) tâm lý kỳ vọng mùa cao điểm "Tháng 9 Vàng" ngày càng rõ nét.
Áp lực phía trên: (i) giao dịch giao ngay trầm lắng, các doanh nghiệp cuối tiếp tục mua theo nhu cầu thực tế, chưa có đợt bổ sung tồn kho tập trung; (ii) tồn kho xã hội vẫn ở mức cao, áp lực tích lũy tại thị trường phía Nam; (iii) hoạt động sản xuất cuối cùng bị kìm hãm bởi thời tiết nắng nóng chưa phục hồi hoàn toàn.
Khu vực Hoa Bắc có thể tiếp tục ghi nhận cắt giảm sản lượng, trong khi thị trường phía Nam đối mặt với áp lực hàng đến tương đối tập trung. Về xuất khẩu, giá chào HRC dự kiến duy trì ở mức 495-505 USD/tấn FOB đối với các nhà máy lớn. Tại ASEAN, giá HRC có thể tiếp tục tăng nhẹ khi các nhà máy nội địa Việt Nam chuẩn bị công bố giá tháng 10.
Cuộn cán nguội (CRC)
Thị trường CRC nội địa tiếp tục xu hướng tăng theo chi phí đẩy trong tuần kết thúc ngày 28/8, với đặc điểm ổn định trước, tăng sau. Giá giao kho tại các thị trường trọng điểm ghi nhận mức tăng 30-50 NDT/tấn, phản ánh sự điều chỉnh theo giá HRC cơ sở. Các nhà máy thép chủ đạo đã ban hành chính sách đặt hàng tháng 9, điều chỉnh tăng giá xuất xưởng CRC thêm 40-60 NDT/tấn.
Tỷ lệ sử dụng công suất sản xuất CRC của các nhà máy trong mẫu khảo sát duy trì ở mức 70-73%. Một số dây chuyền sản xuất tiến hành bảo dưỡng định kỳ, nguồn cung thép cuộn cơ sở cán nóng tương đối ổn. Tồn kho CRC tiếp tục xu hướng giảm nhẹ, nhưng mức tuyệt đối vẫn cao hơn so với cùng kỳ các năm gần đây. Tồn kho tại nhà máy không lớn, nhưng tốc độ giảm tồn kho chậm.
Các ngành hạ nguồn như ô tô, thiết bị gia dụng duy trì mức độ sản xuất cơ bản, nhưng các doanh nghiệp cuối cùng có thái độ thận trọng trong việc bổ sung tồn kho, chủ yếu mua theo nhu cầu thực tế. Đơn hàng xe năng lượng mới vẫn có sức bền; ngành thiết bị gia dụng đang chờ sự phục hồi theo mùa. Ngành điều hòa không khí có tồn kho kênh phân phối cao, kế hoạch sản xuất giảm rõ rệt. Tủ lạnh và máy giặt tương đối ổn định, xuất khẩu có hỗ trợ nhất định.
Về xuất khẩu, giá chào CRC mác SPCC dao động ở mức 558-560 USD/tấn FOB. Giá chào HDG mác SGCC ở mức 567-570 USD/tấn FOB.
Thị trường CRC được dự báo tiếp tục xu hướng tăng nhẹ trong tuần 31/8. Các yếu tố định hướng bao gồm:
Hỗ trợ phía dưới: (i) chi phí nguyên liệu thô tăng (HRC tăng và than cốc điều chỉnh) giúp củng cố nền giá; (ii) kỳ vọng nhu cầu cải thiện khi bước sang tháng 9; (iii) nhà máy có ý định giữ giá quanh mức chi phí, không đủ động lực để giảm giá mạnh.
Áp lực phía trên: (i) nhu cầu thực tế yếu, cường độ giải phóng tiêu dùng tổng thể chưa đủ mạnh; (ii) tồn kho ở mức cao, áp lực giảm tồn kho vẫn chưa được giải tỏa hoàn toàn; (iii) cạnh tranh từ hàng nhập khẩu và các nhà cung cấp nội địa.
Giao dịch thị trường có thể cải thiện nhẹ so với giai đoạn trước nhưng chưa ghi nhận sự bùng nổ rõ rệt. Điểm sáng mang tính cấu trúc đến từ đơn hàng xe năng lượng mới vẫn có sức bền; ngành thiết bị gia dụng đang chờ sự phục hồi theo mùa. Chênh lệch giá giữa cán nguội và cán nóng đã trở về mức hợp lý, chi phí gia công cán nguội bị nén, lợi nhuận của hầu hết các nhà máy thép đều ở quanh mức hòa vốn.
Các yếu tố cần theo dõi trong tuần 31/8
Động lực chi phí: Thị trường thép Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn biến động quan trọng khi yếu tố chi phí nguyên liệu thô tiếp tục đóng vai trò là động lực chính định hình xu hướng giá. Đợt tăng giá than cốc luyện kim lần thứ ba sẽ có hiệu lực từ ngày 31/8 với mức tăng 100-110 NDT/tấn, nâng tổng mức tăng cộng dồn trong tháng 8 lên 250-275 NDT/tấn. Các nhà sản xuất cốc đã bắt đầu thông báo đợt tăng giá thứ tư, phản ánh tình trạng mất cân đối cung-cầu nghiêm trọng trên thị trường than cốc.
Nguồn cung than nội địa tiếp tục bị thắt chặt do các cuộc kiểm tra an toàn mỏ tại Sơn Tây và Nội Mông. Sản lượng than Sơn Tây tháng 6 và tháng 7 giảm lần lượt 31% và 35,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguồn cung than Mông Cổ thông quan qua biên giới duy trì ở mức thấp, lượng tồn kho than cốc tại các cảng chính tiếp tục giảm. Các nhà máy luyện cốc đang chịu mức lỗ sâu (ước tính 180-370 NDT/tấn tùy khu vực), thúc đẩy hành động cắt giảm sản lượng và tăng giá bù lỗ.
Tác động đến nhà máy thép: Giá nguyên liệu thô tăng mạnh đang siết chặt biên lợi nhuận của các nhà máy thép Trung Quốc. Các nhà máy sản xuất thép thanh đang gánh mức lỗ từ 70-150 NDT/tấn, trong khi các nhà máy HRC chịu lỗ 70-100 NDT/tấn. Tình trạng thua lỗ kéo dài đã buộc nhiều nhà máy phải cắt giảm sản lượng hoặc cân nhắc các phương án đình lò.
Dữ liệu từ Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) cho thấy sản lượng thép thô hàng ngày của các nhà máy thành viên trong giai đoạn 11-20/8 đạt 1,97 triệu tấn/ngày, giảm 0,4% so với giai đoạn 1-10/8 và giảm 7,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Tồn kho thép của các thành viên Cisa đạt 18,33 triệu tấn tính đến ngày 20/8, tăng 6,7% so với đầu tháng và tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh áp lực tiêu thụ vẫn còn hiện hữu.
Triển vọng nhu cầu tháng 9: Tháng 9 được xem là giai đoạn then chốt để kiểm chứng khả năng phục hồi của nhu cầu thép sau mùa thấp điểm. Nếu lượng tiêu thụ trong mùa cao điểm không đáp ứng được kỳ vọng của thị trường, giá thép có thể quay đầu điều chỉnh và giá nguyên liệu thô cũng có thể chịu áp lực giảm.
Các thành viên thị trường cho rằng sự cải thiện nhu cầu trong tháng 9 sẽ diễn ra không đồng đều giữa các phân khúc sản phẩm. Thép dẹt (flat steel) sẽ tiếp tục hưởng lợi từ mức tiêu thụ tương đối vững chắc trong các ngành công nghiệp ô tô, máy móc và thiết bị gia dụng. Trong khi đó, thép xây dựng (rebar và wire rod) có thể phục hồi chậm hơn do sự suy yếu của lĩnh vực bất động sản tiếp tục đè nặng lên sức mua.
Định hướng xuất khẩu: Giá chào xuất khẩu thép Trung Quốc dự kiến tiếp tục được hỗ trợ từ chi phí nguyên liệu thô. Các nhà máy Trung Quốc sẽ duy trì giá chào ở mức cao để bảo vệ biên lợi nhuận, nhưng sức cầu từ thị trường quốc tế sẽ là yếu tố quyết định khối lượng giao dịch thực tế.
Người mua Đông Nam Á được dự báo tiếp tục áp dụng chiến lược mua chậm, chờ đợi các tín hiệu rõ ràng hơn về xu hướng giá và phản ứng của các nhà máy nội địa. Nhu cầu từ Thổ Nhĩ Kỳ đối với phôi thép Trung Quốc được kỳ vọng duy trì ở mức tích cực do nguồn cung từ Nga bị gián đoạn.
Rủi ro cần theo dõi: Đà tăng của giá than cốc có thể tạo ra hiệu ứng "tăng chi phí" kéo dài, đẩy giá thép đi lên ngay cả khi nhu cầu chưa phục hồi. Tuy nhiên, nguy cơ thoái lui vẫn hiện hữu nếu lượng tiêu thụ tháng 9 không đáp ứng kỳ vọng.
Khả năng các nhà máy thép đẩy mạnh cắt giảm sản lượng sẽ là yếu tố hỗ trợ quan trọng cho giá thép, nhưng cũng có thể tạo ra áp lực lên giá nguyên liệu thô khi nhu cầu đầu vào giảm.
Diễn biến tồn kho tiếp tục là chỉ báo quan trọng về trạng thái cân bằng cung-cầu. Tồn kho thép thanh tại các thành phố chính tăng nhẹ trong tuần 34, đặt ra câu hỏi về sức hấp thụ của kênh lưu thông trong bối cảnh nguồn cung từ nhà máy đã giảm.
Lưu ý: Báo cáo trên được tổng hợp từ các nguồn thông tin thị trường tuần 34/2026 (24/8-28/8), phản ánh tình hình đến ngày 28/8/2026 và triển vọng dự báo cho tuần 35 (31/8-4/9). Các mức giá, tồn kho và dự báo dựa trên dữ liệu thị trường và đánh giá của các thành viên tham gia thị trường tại thời điểm báo cáo.

