Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Tổng hợp tin tức ngày 21/10/2026

Thị trường sắt thép toàn cầu trong phiên giao dịch ghi nhận trạng thái phân hóa và đi ngang trên diện rộng. Tại khu vực Châu Mỹ và Châu Âu, xu hướng tăng giá thép dẹt tiếp tục được củng cố nhờ nguồn cung nội địa bị siết chặt và thời gian giao hàng kéo dài, mặc dù lực cầu tiêu thụ thực tế ở các ngành hạ nguồn vẫn tương đối trầm lắng. Ngược lại, tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, giá thép cuộn cán nóng (HRC), thép xây dựng và phôi thép biến động trong biên độ hẹp. Người mua duy trì tâm lý thận trọng trong bối cảnh giá nguyên liệu thô (than cốc, quặng sắt) biến động khó lường và các rủi ro liên quan đến chi phí vận tải biển gia tăng.

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ

Châu Âu

Thép cuộn cán nóng (HRC) & cán nguội (CRC): Giá HRC nội địa nhích tăng nhẹ do nguồn cung từ các nhà máy bị thắt chặt, lịch giao hàng kéo dài và các phương án chào bán nhập khẩu thiếu tính cạnh tranh. Chỉ số HRC khu vực Tây Bắc Châu Âu đạt 739,50 EUR/tấn EXW (tăng 0,75 EUR/tấn); giá giao dịch khả thi thực tế ở mức 740–760 EUR/tấn cơ sở giao hàng. Tại Nam Âu, HRC nội địa Ý đạt 743,50 EUR/tấn EXW (tăng 2 EUR/tấn), CRC Ý tăng lên 860 EUR/tấn EXW. HRC nhập khẩu CIF Ý đạt 640 EUR/tấn CIF.   

Nguồn cung nội địa: Nguồn cung tại Ý tiếp tục căng thẳng do nhà sản xuất Acciaierie d'Italia (ADI) tạm dừng sản xuất để chờ phán quyết từ tòa án tối cao tại Rome, hiện chỉ duy trì trả hàng cho các đơn trong danh mục hiện tại đến hết tháng 11.   

Thương mại nhập khẩu: Hàng nhập khẩu chịu kiểm soát nghiêm ngặt bởi rào cản tự vệ thương mại. HRC Thổ Nhĩ Kỳ chào sang EU ở mức 630 USD/tấn FOB; HRC Ai Cập chào bán ở mức cao hơn so với mức 740–750 USD/tấn CFR của Ấn Độ; HRC Việt Nam ghi nhận chào bán ở mức 800 EUR/tấn DDP.   

Khu vực Iberia (Tây Ban Nha): Giá HRC xuất xưởng duy trì ổn định ở mức 740–760 EUR/tấn EXW, giá nhà phân phối vượt mức 800 EUR/tấn giao hàng. Chi phí sản xuất và vận chuyển tăng (100–120 EUR/tấn) đẩy giá các sản phẩm thép gia công vượt 810 EUR/tấn, khiến người mua thu hẹp quy mô đơn hàng.   

Hạn ngạch nhập khẩu Vương quốc Anh (UK): Tính đến ngày 20/10/2026, hạn ngạch HRC nhập từ EU đã sử dụng 19%, Ấn Độ dùng 94%, Hàn Quốc 20%; đối với thép mạ kim loại, Việt Nam đã sử dụng 30% hạn ngạch (dư lượng còn 30.337 tấn).   

Thổ Nhĩ Kỳ

Thép cây (Rebar): Giá xuất khẩu chịu áp lực suy yếu do cầu thị trường nội địa chậm lại. Đánh giá giá xuất khẩu giảm 6,50 USD/tấn xuống 602,50 USD/tấn FOB (mức giá chào thực tế từ các nhà máy dao động trong khoảng 610–630 USD/tấn FOB). Giá thép cây nội địa giảm xuống mức 606 USD/tấn EXW (chưa VAT).   

Phôi thép (Billet): Giá phôi nhập khẩu CFR Thổ Nhĩ Kỳ tăng 2,50 USD/tấn lên 522,50 USD/tấn CFR. Một nhà máy lớn khu vực Izmir đã chốt lô 50.000 tấn phôi Trung Quốc ở mức giá tương đương 520–525 USD/tấn CFR do vắng bóng nguồn cung phôi Biển Đen (giá FOB Biển Đen đi ngang ở 460 USD/tấn).   

Phế liệu (Scrap): Giá phế liệu đường dài nhập khẩu ổn định với loại HMS 1/2 (80:20) giữ mức 398 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà máy thép Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì bảng giá thu mua phế nội địa (như Kardemir ở mức 20.100 lira/tấn ~ 406 USD/tấn cho loại DKP) bất chấp biên lợi nhuận cán thép suy giảm.   

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU MỸ

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá HRC giao ngay tại Mỹ tiếp tục đà tăng, đạt 1.298,75 USD/tấn ngắn EXW (tăng 13,50 USD/tấn ngắn). Thời gian giao hàng duy trì ở mức 7,8 tuần.   

Các nhà máy nước ngoài đồng loạt nâng giá chào nhập khẩu HRC lên mức 1.010 USD/tấn ngắn DDP Houston (tăng 10 USD/tấn ngắn) do công suất phân bổ cho thị trường Mỹ chạm trần, lịch cán bị lấp đầy nhanh chóng và lo ngại các biện pháp hạn chế nhập khẩu mới từ chính quyền Mỹ.   

Thép tấm (Plate): Tình trạng thiếu hụt nguồn cung giao ngay giúp các nhà sản xuất gia tăng quyền lực thương lượng. Giá thép tấm tăng tuần thứ 5 liên tiếp, đạt 1.560 USD/tấn ngắn (giao hàng) và 1.530 USD/tấn EXW (đều tăng 40 USD/tấn ngắn), tiệm cận mốc 1.600 USD/tấn ngắn. Thời gian giao hàng kéo dài lên 12,5 tuần.   

Thép mạ & Cán nguội (HDG & CRC): Giá HDG cán nguội tăng lên 1.511 USD/tấn ngắn EXW; HDG cán nóng đạt 1.515,50 USD/tấn ngắn EXW; CRC đạt 1.509,75 USD/tấn ngắn EXW.   

Các nhà máy thu hẹp phạm vi chào hàng giao ngay, ưu tiên phục vụ nhóm "khách hàng cốt lõi", khiến nhiều trung tâm dịch vụ gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn cung nội địa.   

Hoạt động bảo trì lò luân phiên giới hạn tổng công suất sản xuất đến đầu tháng 12. Nhằm giảm bớt tình trạng tồn đọng đơn hàng, Cleveland-Cliffs quyết định trì hoãn đại tu lò cao C tại Burns Harbor sang tháng 4/2028, giúp bảo toàn khoảng 500.000 tấn ngắn sản lượng trong năm 2027.   

THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

Trung Quốc

Thép dẹt (HRC & CRC): Giá HRC giao tại kho Thượng Hải giữ vững ở 3.260 nhân dân tệ/tấn (488,02 USD/tấn); loại Q235B 5,75mm ở mức 3.270 nhân dân tệ/tấn. Giá xuất khẩu HRC chủ đạo ổn định ở mức 487 USD/tấn FOB. Các nhà máy lớn duy trì giá chào mác SS400 ở 500 USD/tấn FOB, trong khi nhà máy nhỏ và thương nhân chào mác Q235 ở 485–490 USD/tấn FOB. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên sàn SHFE chốt ở 3.240 nhân dân tệ/tấn. Giá CRC mác SPCC 1mm đi ngang ở mức 554 USD/tấn FOB; giá ex-stock Thượng Hải đạt 3.640 nhân dân tệ/tấn.   

Thép dài & Phôi thép: Giá thép cây xuất kho Thượng Hải giảm nhẹ xuống 3.110 nhân dân tệ/tấn; giá xuất khẩu đạt 478 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết. Dây thép carbon thấp SAE1008 duy trì ở mức 496 USD/tấn FOB. Giá phôi thép xuất xưởng Đường Sơn giảm xuống 2.940 nhân dân tệ/tấn (ex-stock 3.010 nhân dân tệ/tấn); phôi 3SP xuất khẩu đạt 462 USD/tấn FOB.   

Sản lượng & Dữ liệu kinh tế: Sản lượng thép thô tháng 9 đạt 73,59 triệu tấn (+0,1% so với cùng kỳ); lũy kế 9 tháng đạt 724,77 triệu tấn (-2,9%). Xuất khẩu thép bán thành phẩm tháng 9 đạt 1,61 triệu tấn (-16% so với tháng 8). Các nhà máy phải gánh chịu mức lỗ 150–300 nhân dân tệ/tấn vào giữa tháng 9 do chi phí than cốc tăng. GDP quý 3 của Trung Quốc đạt mức tăng trưởng 4,5%.   

Nguyên liệu thô: Giá quặng sắt 62% Fe CFR Bắc Trung Quốc dao động quanh 91,10–92,95 USD/tấn. Giá than luyện cốc PLV HCC FOB Australia giảm xuống 265,40 USD/tấn, CFR Trung Quốc đạt 287,70 USD/tấn. Một doanh nghiệp than cốc lớn đề xuất tăng giá nội địa thêm 50–55 nhân dân tệ/tấn. Tập đoàn Vale cảnh báo chi phí năng lượng và vận tải tăng cao khiến khoảng 10% (160 triệu tấn) sản lượng quặng sắt đường biển toàn cầu rơi vào tình trạng thua lỗ.   

Việt Nam

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá HRC mác SAE1006 nhập khẩu khu vực ASEAN giữ mức 533–535 USD/tấn CFR Việt Nam.   

Diễn biến giao dịch: Một nhà máy Indonesia đã bán khoảng 100.000 tấn HRC (chủ yếu mác SAE1006) vào Việt Nam trong những tuần gần đây ở mức 535–536 USD/tấn CFR. Tuy nhiên, thị trường suy yếu khiến giá chào hạ xuống 534 USD/tấn CFR; thương nhân sẵn sàng chấp nhận mức 530–532 USD/tấn CFR đối với các giá thầu chắc chắn nhưng chưa có giao dịch mới.   

Động thái từ nhà sản xuất: Formosa đã tăng giá HRC cho đợt giao hàng mùa đông nhằm bù đắp chi phí sản xuất tăng. HRC xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được ghi nhận chào bán ở mức 800 EUR/tấn DDP.   

Các thị trường khác

Nhật Bản: Tokyo Steel thông báo tăng giá bán các sản phẩm HRC, thép cây và dầm H thêm 3.000 Yên/tấn (19 USD/tấn) cho đợt bán hàng tháng 11 (đưa HRC lên 670 USD/tấn, thép cây D13–25 lên 606 USD/tấn) do chi phí năng lượng gia tăng.   

Ấn Độ: Giá thép cây nội địa nhích tăng nhẹ lên 51.300 Rupee/tấn EXW Raipur. Giá HRC ổn định ở mức 63.800 Rupee/tấn EXW Mumbai. Phế liệu băm đóng container nhập khẩu CFR Nhava Sheva giữ mức 395 USD/tấn.   

Đông Nam Á & Trung Đông: Giá phôi 5SP CFR Manila đạt 491–495 USD/tấn CFR. Giá thép cây mác BS4449/BS500B CFR Singapore và Hồng Kông dao động ở mức 507–510 USD/tấn CFR. Các thương vụ bán phôi thép Trung Quốc sang UAE và Ả Rập Xê-út được chốt ở mức 465–470 USD/tấn FOB.   

BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH

Sản phẩm / Mác thép

Thị trường / Điều kiện giao hàng

Giá giao dịch / Chào bán

Thay đổi so với phiên trước

HRC SS400

FOB Trung Quốc

487 – 500 USD/tấn

Đi ngang

HRC Q235B (5.75mm)

EXW Thượng Hải (Trung Quốc)

3.270 Nhân dân tệ/tấn

Đi ngang

HRC SAE1006

CFR Việt Nam

530 – 534 USD/tấn

Giảm nhẹ (thương lượng)

HRC Nội địa

EXW Tây Bắc Châu Âu

739,50 EUR/tấn

+0,75 EUR/tấn

HRC Nội địa

EXW Mỹ

1.298,75 USD/tấn ngắn

+13,50 USD/tấn ngắn

HRC Nhập khẩu

DDP Houston (Mỹ)

1.010 USD/tấn ngắn

+10,00 USD/tấn ngắn

Thép tấm (HRP) SS400

FOB Trung Quốc

536,50 – 570 USD/tấn

Đi ngang

Thép tấm (Plate)

Giao hàng tại Mỹ

1.560 USD/tấn ngắn

+40,00 USD/tấn ngắn

CRC SPCC (1mm)

FOB Trung Quốc

554 USD/tấn

Đi ngang

HDG Cán nguội

EXW Mỹ

1.511 USD/tấn ngắn

+10,00 USD/tấn ngắn

Thép cây (Rebar)

FOB Trung Quốc

478 USD/tấn

Đi ngang

Thép cây (Rebar)

FOB Thổ Nhĩ Kỳ

602,50 – 610 USD/tấn

Biến động hẹp

Phôi thép (Billet 3SP)

FOB Trung Quốc

462 – 470 USD/tấn

Đi ngang / -1 USD/tấn

Phôi thép (Billet)

CFR Thổ Nhĩ Kỳ

522,50 USD/tấn

+2,50 USD/tấn

Quặng sắt 62% Fe

CFR Bắc Trung Quốc

91,10 – 92,95 USD/tấn

-0,30 USD/tấn

Than PLV HCC

FOB Australia

265,40 USD/tấn

-1,20 USD/tấn

Phế liệu HMS 1/2 (80:20)

CFR Thổ Nhĩ Kỳ

398 USD/tấn

Đi ngang

TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG

Phân hóa nguồn cung và áp lực chi phí: Thị trường thép dẹt khu vực Âu - Mỹ giữ đà tăng giá nhờ sự chủ động tiết giảm sản lượng và các đợt bảo trì định kỳ của các lò luyện nội địa, kết hợp với các rào cản tự vệ thương mại nghiêm ngặt. Ngược lại, chi phí vận tải biển tăng cao cùng áp lực từ chi phí năng lượng đang bào mòn biên lợi nhuận của các nhà sản xuất thép lẫn doanh nghiệp khai khoáng.   

Thị trường Châu Á trầm lắng: Nhu cầu tiêu thụ hạ nguồn tại Trung Quốc và khu vực ASEAN chưa xuất hiện điểm đột phá rõ rệt. Dù vậy, giá xuất khẩu của các nhà máy Trung Quốc và khu vực tạm thời tìm thấy điểm cân bằng nhờ sự hỗ trợ từ việc đồng Nhân dân tệ mạnh lên và tâm lý giữ giá của các nhà máy lớn sau khi đã chốt xong các đơn hàng giao tháng 11.   

Triển vọng ngắn hạn: Xu hướng giá nhiều khả năng sẽ tiếp tục đi ngang biến động trong biên độ hẹp. Thị trường đang chờ đón thêm các tín hiệu từ việc triển khai chính sách bổ sung của chính phủ Trung Quốc cũng như diễn biến điều chỉnh giá nguyên liệu thô (than cốc, quặng sắt) trong đợt chốt hợp đồng mùa đông sắp tới.