THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ
Thép dẹt (HRC, Thép tấm)
Xu hướng giá nội địa: Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại châu Âu tăng nhẹ do các mức chào giá cao hơn từ nhà máy, mặc dù hoạt động giao dịch trên thị trường giao ngay vẫn chậm chạp. Đánh giá hàng ngày về giá HRC tại Tây Bắc Âu tăng 1,25 EUR/tấn lên mức 704,75 EUR/tấn (tại kho nhà máy) và tại Ý tăng 1 EUR/tấn lên mức 702,25 EUR/tấn (tại kho nhà máy). Một nhà máy tích hợp lớn đã giao dịch thành công một khối lượng không xác định ở mức 710 EUR/tấn cơ sở (tại kho nhà máy). Một nhà sản xuất khác chào bán ở mức 730-740 EUR/tấn cơ sở (giao hàng vào Đức) và đã chốt được một số lô nhỏ.
Tình hình nhập khẩu và hạn ngạch: Kể từ khi EU áp dụng biện pháp nhập khẩu mới từ ngày 1/7 (giảm hạn ngạch miễn thuế và tăng thuế vượt hạn ngạch lên 50%), các thương nhân đang phải chuyển hướng gấp các lô hàng đang trên đường vận chuyển. Nhiều lô hàng HRC từ Indonesia và Thái Lan đã bị hủy hoặc chuyển hướng chào bán sang Bắc Phi do các nhà kho tại cảng EU đã đầy hàng và lo ngại rủi ro rỉ sét khi lưu kho ngoài trời. Đối với thép tấm, các loại tấm dày của Thổ Nhĩ Kỳ nhập khẩu qua Antwerp nay bị tính gộp vào hạn ngạch HRC bị siết chặt. Tính đến ngày 14/7, dữ liệu hải quan cho thấy lượng HRC Thổ Nhĩ Kỳ đang chờ thông quan đã lên tới 370.000 tấn, gấp hơn hai lần hạn ngạch thực tế (160.000 tấn). Đối với thép cán nguội (CRC), một tàu hàng từ Brazil (quốc gia có hạn ngạch hẹp 3.534 tấn/quý) đang được chuyển hướng sang Vương quốc Anh.
Thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG): Giá nhập khẩu và nội địa tại châu Âu ghi nhận đà tăng sau các giao dịch chốt thành công từ Việt Nam. Đánh giá hàng tuần cho HDG (cif Tây Ban Nha) tăng 15 EUR/tấn lên mức 740 EUR/tấn đối với vật liệu z140 độ dày 0,57. Các giao dịch nhập khẩu từ Việt Nam được chốt ở mức 830–860 USD/tấn (cfr) vào EU; tính đến giữa tháng 7, Việt Nam mới chỉ sử dụng 19.000 tấn trên tổng hạn ngạch gần 119.000 tấn cho quý này. Các mức chào giá HDG của Ấn Độ đạt mức 850-860 USD/tấn (cfr) nhưng có rủi ro hạn ngạch rất cao. Giá HDG từ Thổ Nhĩ Kỳ chào ở mức trên 770 EUR/tấn (cif, chưa gồm thuế chống bán phá giá). Tại nội địa, giá chào tại Ý đạt mức 840 EUR/tấn xuất xưởng và một số giao dịch ở mức 845-850 EUR/tấn cơ sở giao hàng đã được chấp nhận. Đánh giá tuần cho HDG Ý tăng 10 EUR/tấn lên mức 820 EUR/tấn xuất xưởng; chỉ số HDG Tây Bắc EU tăng lên 810 EUR/tấn xuất xưởng.
Thép dài & Nguyên liệu bán thành phẩm
Biến động thị trường Nam Âu: Giá thép dài tại Ý tiếp tục đà giảm sâu hơn do nhu cầu xây dựng nội địa trì trệ và tồn kho tại nhà máy dồi dào. Đánh giá hàng tuần của thép thanh (rebar) nội địa Ý giảm 5 EUR/tấn xuống còn 685 EUR/tấn xuất xưởng, và cuộn trơn rút dây nội địa giảm 5 EUR/tấn xuống còn 700 EUR/tấn giao hàng. Các nhà máy Ý đang phải hạ giá chào bán nhằm tìm kiếm người mua, đưa mức giá giao dịch thực tế về khoảng 580-590 EUR/tấn xuất xưởng.
Xu hướng xuất khẩu: Để giải phóng lượng tồn kho tích lũy, một số nhà sản xuất lớn của Ý chuyển hướng xuất khẩu sang khu vực Đông Nam Âu (Romania) với giá chào thép thanh ngày 15/7 đạt 570 EUR/tấn fob Ý và thép thanh dạng cuộn (spooled coils) chào ở mức 600 EUR/tấn fob. Dự kiến thị trường thép dài châu Âu sẽ có đợt tăng giá vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9 nhờ tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và mức thuế vượt hạn ngạch ước tính khoảng 20% đối với hàng nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ.
Phôi thép & Phế
Phế liệu: Biên lợi nhuận sản xuất thép dài của các nhà máy Ý được hỗ trợ khi giá phế liệu nội địa tại nước này ghi nhận mức giảm hơn 20 EUR/tấn trong tháng qua.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC BẮC MỸ (MỸ)
Hiện tại, báo cáo ngày hôm nay không ghi nhận các số liệu giao dịch mới hoặc sự thay đổi giá cụ thể tại thị trường nội địa Mỹ.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Trung Quốc
Thép thanh (Rebar): Giá thép thanh giao ngay tại Thượng Hải tăng 20 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.060 nhân dân tệ/tấn. Giá kỳ hạn tháng 10 tăng 45 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.115 nhân dân tệ/tấn. Động lực tăng giá ngắn hạn đến từ việc một số lò cao tại Đường Sơn công bố kế hoạch bảo trì từ ngày 15 đến 30 tháng 7 (dự kiến làm giảm sản lượng gang lỏng khoảng 60.000 tấn/ngày). Tuy nhiên, đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm 2,4% cùng đà tăng của tồn kho đang kìm hãm đà hồi phục của giá thép. Về xuất khẩu, chỉ số giá thép thanh (fob) ổn định ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Các nhà máy Trung Quốc bán thành công 30.000 tấn sang Hồng Kông với giá 502 USD/tấn (cfr, trọng lượng thực tế), tương đương khoảng 472 USD/tấn (fob, trọng lượng lý thuyết), thúc đẩy nâng giá chào xuất khẩu mới lên 505 USD/tấn (cfr) trở lên.
Thép cuộn trơn và Phôi thép dẹt/Billet: Chỉ số giá thép cuộn trơn xuất khẩu không đổi ở mức 497 USD/tấn (fob). Giá chào thép cuộn trơn SAE1008 từ miền Bắc Trung Quốc ổn định ở mức 505 USD/tấn (fob), trong khi nhà máy ở miền Đông chào giá cuộn trơn carbon cao ở mức 530 USD/tấn (fob). Giá phôi thép billet xuất xưởng tại Đường Sơn tăng 20 nhân dân tệ/tấn lên mức 2.990 nhân dân tệ/tấn. Giá chào xuất khẩu phôi billet của các nhà cung cấp Trung Quốc tăng lên mức 463-465 USD/tấn (fob) so với mức 458-460 USD/tấn (fob) hồi đầu tuần, mặc dù tâm lý mua hàng của đối tác ngoại vẫn tương đối yếu.
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao ngay tại kho Thượng Hải tăng 20 nhân dân tệ/tấn lên mức 3.330 nhân dân tệ/tấn, kéo theo hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 10 tăng 1,12% lên mức 3.327 nhân dân tệ/tấn nhờ kỳ vọng vào chính sách kích thích kinh tế quý 3. Giá HRC xuất khẩu của Trung Quốc tăng 2 USD/tấn lên mức 487 USD/tấn (fob). Các nhà máy tư nhân ở miền Bắc tăng giá chào khả thi cho mác Q235 và Q195 lên trên 490 USD/tấn (fob). Tuy nhiên, phần lớn người mua đường biển chỉ chấp nhận mức giá mua thấp từ 480-485 USD/tấn (fob) cho mác SS400 và Q235.
Nguyên liệu quặng sắt: Ngày 14/7, giá quặng sắt mịn Úc hàm lượng 62% Fe tăng 1.5 USD/tấn lên mức 100,5 USD/tấn (cfr) - vượt mốc 100 USD/tấn lần đầu tiên sau gần một tháng. Đà tăng được hỗ trợ nhờ hoạt động mua tại cảng gia tăng và nguồn cung xuất khẩu từ Úc và Brazil trong tuần trước sụt giảm 21,3% xuống còn 21,5 triệu tấn. Về nhập khẩu, Trung Quốc nhập khẩu 112,69 triệu tấn quặng sắt trong tháng 6 (tăng 15,3% so với tháng trước; tăng 6,4% so với cùng kỳ). Lũy kế nhập khẩu nửa đầu năm đạt 628,87 triệu tấn (tăng 6,3%). Sự phân kỳ giữa nhập khẩu quặng tăng và sản lượng thép giảm là do các cam kết hợp đồng dài hạn, chất lượng quặng nước ngoài suy giảm buộc các nhà máy phải tăng khối lượng nhập để đạt hiệu suất gang, cùng với đợt sụt giảm sản lượng khai thác quặng nội địa (tháng 5 giảm 14,5% so với cùng kỳ).
Số liệu sản xuất thép và Vĩ mô: Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong tháng 6 tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ đạt 83,67 triệu tấn, nhưng lũy kế 6 tháng đầu năm giảm 3% xuống còn 499,95 triệu tấn. Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp tháng 6 tăng 5,3% so với cùng kỳ (trong đó chế tạo tăng 6%), hỗ trợ một phần nhu cầu thép dẹt. Tuy nhiên, các chỉ số bất động sản 6 tháng đầu năm tiếp tục sụt giảm sâu: tổng đầu tư bất động sản giảm 18%, diện tích khởi công mới giảm 23,4% và doanh số sàn xây dựng giảm 11,6%.
Việt Nam
Giá thép dẹt nhập khẩu: Các hoạt động giao dịch HRC mác SAE1006 thương mại từ Indonesia khá ổn định ở mức 520-530 USD/tấn (cfr Việt Nam) tùy theo độ dày. Trong tuần ghi nhận hai lô giao dịch SAE1006 của Indonesia được chốt ở mức 520 USD/tấn (cfr) và một giao dịch ở mức 517 USD/tấn (cfr) bởi khách hàng hạ nguồn. Các công ty thương mại cũng nâng giá chào đối với mác SS400 của Ấn Độ và Indonesia lên mức 522 USD/tấn (cfr Việt Nam) sau khi chốt thành công một số đơn hàng ở mức 517 USD/tấn (cfr). Chỉ số giá HRC ASEAN tại Việt Nam giảm nhẹ 1 USD/tấn xuống còn 520 USD/tấn (cfr).
Hoạt động xuất khẩu nội địa: Một nhà máy thép tại Việt Nam đã hoàn tất xuất khẩu các lô hàng HRC sang thị trường Hàn Quốc cho tiến độ giao hàng tháng 8-9 với mức giá 545-550 USD/tấn (cfr Hàn Quốc) nhằm giải tỏa áp lực tiêu thụ nội địa chậm và rào cản hạn ngạch ngặt nghèo tại thị trường EU.
Thống kê nhập khẩu: Theo số liệu Tổng cục Hải quan, nhập khẩu thép thành phẩm của Việt Nam trong nửa đầu năm 2026 đạt 7,77 triệu tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, lượng nhập khẩu từ Ấn Độ tăng đột biến gấp 98 lần đạt 780 nghìn tấn (so với mức 8 nghìn tấn của nửa đầu năm 2025) do các nhà sản xuất Ấn Độ dịch chuyển dòng hàng khỏi châu Âu do rào cản CBAM. Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với 3,819 triệu tấn nhưng giảm 13,8% so với cùng kỳ do ảnh hưởng từ các biện pháp phòng vệ thương mại đối với HRC từ Việt Nam. Lượng nhập khẩu từ Nhật Bản cũng giảm 20,4% đạt 961 nghìn tấn do mất lợi thế cạnh tranh về chi phí nguyên liệu thô.
Các thị trường khác
Ấn Độ: Các nhà sản xuất lớn buộc phải hạ giá chào HRC nội địa xuống còn 55.000-57.000 INR/tấn (572-592 USD/tấn) tại kho Mumbai (giảm mạnh từ mức 58.000-61.000 INR/tấn hồi đầu tháng 6) do ảnh hưởng tiêu cực của mùa mưa và tồn kho của nhà phân phối ở mức cao. Hãng NMDC Steel chào giá ở mức khoảng 54.500 INR/tấn (567 USD/tấn) giao đến nơi. Hoạt động xuất khẩu sang EU và Anh gặp khó khăn do điều chỉnh hạn ngạch tự vệ, trong khi nhập khẩu thép thành phẩm quý 1 (tháng 4-6) của Ấn Độ tăng vọt 49% đạt 2,06 triệu tấn, chủ yếu từ các nước châu Á (chiếm 90,6% thị phần).
Iran: Hoạt động xuất khẩu sắt thép đường biển bị đình trệ hoàn toàn sau khi eo biển Hormuz bị đóng cửa thực tế do căng thẳng địa chính trị và sự cố chìm tàu chở hàng rời Luni (chở 43.000 tấn phôi). Khuzestan Steel mở thầu xuất khẩu 30.000-50.000 tấn phôi phiến (slab) và nhận giá thầu ở mức 420-423 USD/tấn (fob cảng BIK) nhưng không thể chốt đơn. Giá slab nội địa bán trên sàn IME đạt mức 450 USD/tấn tại kho nhà máy. Đối với thép dài, xuất khẩu đường biển dừng lại hoàn toàn; giá phôi billet nội địa tăng khoảng 16 USD/tấn lên mức 635.400 rial/kg (423 USD/tấn) do mất điện nghiêm trọng gây thắt chặt nguồn cung trong nước.
Ả Rập Xê Út: Giá thép cuộn chính thức tháng 7 được niêm yết ở mức 2.850 SAR/tấn (760 USD/tấn) giao đến nơi (chưa gồm 15% VAT). Tuy nhiên, do tiêu thụ mùa hè đặc biệt yếu, mức giá giao dịch thực tế đã chiết khấu sâu tới 550 SAR/tấn (147 USD/tấn) so với giá niêm yết. Thép cuộn nhập khẩu từ Ai Cập giảm giá chào xuống còn khoảng 620 USD/tấn (fob), tương đương 655-660 USD/tấn (cfr) nhưng vẫn khó thu hút người mua giao ngay.
Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia, Bangladesh: Các nhà cung cấp Indonesia duy trì giá chào thép cuộn trơn ở mức 485 USD/tấn (fob) cho các lô hàng giao tháng 9. Giá chào xuất khẩu HRC của Nhật Bản giữ ở mức 490-500 USD/tấn (fob).
BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH
Thị trường / Quốc gia | Loại sản phẩm / Mác thép | Mức giá giao dịch hoặc chào bán điển hình | Điều kiện giao hàng |
Trung Quốc (Nội địa) | Thép thanh (Rebar) | 3.060 CNY/tấn | Xuất kho Thượng Hải |
Trung Quốc (Xuất khẩu) | Thép thanh B500B | 500 – 505 USD/tấn | Fob Trung Quốc / Cfr Hồng Kông |
Trung Quốc (Nội địa) | Thép cuộn cán nóng (HRC) | 3.330 CNY/tấn | Xuất kho Thượng Hải |
Trung Quốc (Xuất khẩu) | HRC (Q235 / SS400 / Q195) | 487 – 490 USD/tấn | Fob Trung Quốc |
Indonesia (Xuất khẩu) | Thép cuộn trơn SAE1008 | 485 USD/tấn | Fob Indonesia (Tháng 9) |
Việt Nam (Nhập khẩu) | HRC mác SAE1006 (Indonesia) | 517 – 520 USD/tấn | Cfr Việt Nam |
Việt Nam (Nhập khẩu) | HRC mác SS400 (Ấn Độ/Indonesia) | 517 – 522 USD/tấn | Cfr Việt Nam |
Việt Nam (Xuất khẩu) | HRC mác SAE1006 | 545 – 550 USD/tấn | Cfr Hàn Quốc (Tháng 8-9) |
Ý (Nội địa) | Thép thanh (Rebar) | 580 – 590 EUR/tấn | Xuất xưởng Ý |
Ý (Xuất khẩu) | Thép thanh / Thép thanh dạng cuộn | 570 / 600 EUR/tấn | Fob Ý (Sang Romania) |
EU (Nhập khẩu) | HDG (Z140 0,57 từ Việt Nam) | 830 – 860 USD/tấn | Cfr Tây Ban Nha / EU |
EU (Nội địa) | HDG | 840 – 850 EUR/tấn | Xuất xưởng Ý / Giao đến Đức |
Ấn Độ (Nội địa) | HRC | 55.000 – 57.000 INR/tấn | Tại kho Mumbai |
Ả Rập Xê Út (Nội địa) | Thép cuộn | 2.300 SAR/tấn (Sau chiết khấu) | Giao đến nơi (Chưa VAT) |
Châu Á (Xuất khẩu) | Quặng sắt mịn Úc (62% Fe) | 100,5 USD/tấn | CFR Trung Quốc (Ngày 14/7) |
NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép toàn cầu ngày hôm nay thể hiện sự giằng co và phân hóa sâu sắc giữa các khu vực do ảnh hưởng từ chính sách thương mại và rủi ro địa chính trị:
Rào cản thuế quan và hạn ngạch tái định hình dòng chảy thương mại: Việc EU thắt chặt kiểm soát nhập khẩu từ ngày 1/7 và áp dụng CBAM đã làm đảo lộn kế hoạch cung ứng của nhiều thương nhân quốc tế. Hàng loạt lô hàng thép dẹt từ Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil phải tìm đường quay đầu hoặc chuyển hướng sang các khu vực ngoài EU như Bắc Phi hay Vương quốc Anh. Điều này vô hình trung tạo cơ hội cho các nhà sản xuất nội địa EU (đặc biệt là mảng HDG và thép dài) nâng giá chào bán và lấp đầy các khoảng trống sản xuất quý 3 và quý 4.
Sự mất kết nối giữa cung - cầu thực tế: Tại cả Trung Quốc và Ả Rập Xê Út, các mức giá giao dịch thực tế đang chịu áp lực lớn từ sự sụt giảm tiêu thụ mang tính mùa vụ (mùa hè nóng bức tại Trung Đông và mùa mưa lũ tại Nam Á). Dù các nhà máy Trung Quốc nỗ lực bảo dưỡng thiết bị để giảm sản lượng gang lỏng và hỗ trợ giá thép kỳ hạn, các số liệu đầu tư bất động sản cực kỳ yếu kém vẫn tiếp tục cản trở sự hồi phục bền vững của giá thép giao ngay.
Sự linh hoạt từ thị trường Việt Nam: Trong bối cảnh nguồn cung nhập khẩu chuyển dịch (Ấn Độ tăng mạnh tỷ trọng tại Việt Nam để bù đắp thị trường EU), các nhà sản xuất Việt Nam đã có những bước đi linh hoạt như đẩy mạnh xuất khẩu HRC sang các phân khúc thị trường mới (Hàn Quốc) và chủ động tận dụng hạn ngạch HDG còn dư thừa tại thị trường châu Âu để tối ưu hóa hiệu quả vận hành nhà máy.






