THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU ÂU & THỔ NHĨ KỲ
Thép dẹt (HRC, Thép tấm)
HRC khu vực EU: Thị trường trầm lắng do kỳ nghỉ hè. Chỉ số HRC Tây Bắc EU nhích nhẹ lên 719 EUR/tấn xuất xưởng, Ý tăng lên 722 EUR/tấn xuất xưởng. Các cuộc đàm phán chủ yếu tạm dừng. Mực nước sông Rhine thấp gây lo ngại về giao nguyên liệu thô. Tại Đức, giá giao dịch thực tế quanh mức 720-725 EUR/tấn xuất xưởng. Tại Ý, chào hàng giao tháng 10 ở mức khởi điểm 720 EUR/tấn xuất xưởng.
HDG khu vực EU: Giá nhập khẩu giảm. Đánh giá HDG cif Tây Ban Nha giảm 10 EUR/tấn xuống 740 EUR/tấn (vật liệu z140 0.57). Giá nội địa đi ngang tại Tây Bắc EU (820 EUR/tấn) và Ý (830 EUR/tấn). Chào hàng từ các nhà sản xuất EU tại Tây Ban Nha ở mức 820-850 EUR/tấn (giao hàng). Một số người mua Ý dự kiến giá HDG giao hàng ở mức 815-830 EUR/tấn.
Thép cây Đức: Giá giảm nhẹ, đánh giá hàng tháng giảm 5 EUR/tấn xuống 682,50 EUR/tấn giao đến, do nhu cầu suy yếu theo mùa. Kỳ vọng giá sẽ tăng vào tháng 9.
Thép cây Ý: Đánh giá hàng tuần không đổi ở mức 695 EUR/tấn xuất xưởng; dây thép cuộn ở mức 700 EUR/tấn giao đến.
Phôi thép & Phế
Phế nhập khẩu Thổ Nhĩ Kỳ: Thị trường trầm lắng, không có giao dịch mới. Các nhà máy thép Thổ Nhĩ Kỳ đối mặt với nhu cầu thép dài thành phẩm yếu. Đánh giá phế HMS 1&2 (80:20) xuất xứ Bờ Đông Hoa Kỳ giữ nguyên ở mức 375 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC BẮC MỸ (MỸ)
HRC: Giá tăng 14,50 USD/tấn ngắn (st) lên 1.193,75 USD/st (ex-works), dựa trên 11 giao dịch. Thời gian giao hàng trung bình rút ngắn xuống 7,4 tuần. Nguồn cung giao ngay trong nước thắt chặt khiến người mua tìm đến nhập khẩu. Giá nhập khẩu phục hồi 20 USD/st lên 1.000 USD/st.
Thép tấm (Plate): Giá ổn định ở mức 1.400 USD/st (giao hàng) và 1.370 USD/st (xuất xưởng). Nhu cầu được hỗ trợ bởi chi tiêu cơ sở hạ tầng nhưng nguồn cung hạn chế. Thời gian giao hàng ổn định ở mức 12 tuần.
CRC & HDG: Giá hội tụ và tăng nhẹ. CRC đạt 1.398,25 USD/st (tăng 2,75 USD/st); HDG cán nguội đạt 1.395,75 USD/st (tăng 5 USD/st); HDG cán nóng đạt 1.399,50 USD/st (tăng 6,75 USD/st). Hoạt động giao ngay tăng nhưng nguồn cung từ nhà máy trong nước khan hiếm.
Thép thanh thương mại (MBQ): Các nhà máy (Gerdau, Steel Dynamics, Nucor) tăng giá niêm yết thêm 30-80 USD/st, có hiệu lực từ 7/8.
Sản lượng thép Mỹ: Giảm 50.000 st xuống 1,82 triệu st trong tuần kết thúc ngày 8/8. Tỷ lệ sử dụng công suất giảm xuống 78,8%. Mức giảm lớn nhất tại khu vực Ngũ Đại Hồ và miền Nam.
THỊ TRƯỜNG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Trung Quốc
HRC xuất khẩu: Giá tăng nhẹ 2 USD/tấn lên 482 USD/tấn FOB. Các nhà máy nâng giá chào lên trên 485 USD/tấn FOB cho SS400, viện dẫn chi phí sản xuất vững chắc. Người mua chưa đuổi theo đà tăng. Các nhà máy nhỏ hơn không chấp nhận đơn hàng dưới 480 USD/tấn FOB cho Q235.
HRC nội địa: Giá giao kho tại Thượng Hải không đổi ở 3.270 CNY/tấn. Hợp đồng tương lai HRC (tháng 10) tăng 6 CNY/tấn lên 3.239 CNY/tấn. Nhu cầu ảm đạm, chịu ảnh hưởng bởi bão ở miền Nam. Lực đỡ từ chi phí nguyên liệu thô (quặng, than) vững chắc.
Thép cây (Rebar): Giá giao kho tại Thượng Hải không đổi ở 3.000 CNY/tấn. Hợp đồng tương lai (tháng 10) tăng 8 CNY/tấn lên 3.010 CNY/tấn. Đà tăng chững lại do nhu cầu hạ nguồn yếu. Giá xuất khẩu FOB Trung Quốc ổn định ở 468 USD/tấn. Chào hàng đến Đông Nam Á quanh mức 495-500 USD/tấn CFR.
Dây thép cuộn (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc không đổi ở 490 USD/tấn. Nhu cầu xuất khẩu yếu, triển vọng tăng giá hạn chế.
Phôi thép (Billet): Giá xuất xưởng Đường Sơn không đổi ở 2.940 CNY/tấn. Chào hàng FOB Trung Quốc quanh mức 455-460 USD/tấn.
Hợp đồng tương lai: Thép cây và HRC giảm nhẹ (6-5 CNY/tấn) do điều chỉnh sau đà tăng dẫn dắt bởi than cốc. Lo ngại về nguồn cung than tiếp tục hỗ trợ.
Việt Nam
HRC nhập khẩu: Giá HRC tại Asean ổn định ở 506 USD/tấn CFR Việt Nam. Người mua tập trung vào nhà máy Formosa Hà Tĩnh sau khi hãng cắt giá chào xuống khoảng 514 USD/tấn CIF (SAE1006, khoảng 10.000 tấn). Mức chào nhập khẩu khác ở 508-509 USD/tấn CFR.
Các thị trường khác
Thép dẹt Đài Loan (CSC): Giữ nguyên giá HRC, thép tấm, CRC và HDG cho giao hàng tháng 9, sau các đợt cắt giảm trước đó.
Phôi thép Iran: Giá xuất khẩu không đổi ở 400-415 USD/tấn FOB. Hoạt động trầm lắng do nghỉ lễ và bất ổn về các tuyến đường. Giao dịch chủ yếu bằng đường bộ với Iraq/Afghanistan.
Phôi thép các nguồn châu Á: Giá vững vàng do chi phí nguyên liệu thô. Chào phôi 3sp Trung Quốc: 455 USD/tấn FOB. Giá FOB Indonesia (Dexin) nâng lên 458 USD/tấn. Chào bán đến Đông Nam Á: ~485 USD/tấn CFR.
BẢNG TỔNG HỢP GIÁ GIAO DỊCH VÀ CHÀO BÁN ĐIỂN HÌNH
Sản phẩm | Thị trường / Điều kiện | Giá (USD/tấn) | Thay đổi (tuần/tuần) |
HRC | Mỹ (Ex-works) | 1.193,75 USD/st | +14,50 USD/st |
HRC | FOB Trung Quốc (SS400/Q235) | 480 - 490 | +2 USD/tấn |
HRC | CFR Việt Nam (SAE1006) | 506 (Chỉ số) | 0 |
HRC | Tây Bắc EU (Ex-works) | 719 EUR/tấn | +0,25 EUR/tấn |
Thép cây (Rebar) | FOB Trung Quốc | 468 | 0 |
Phôi thép (Billet) | FOB Trung Quốc (3sp) | 455 | 0 |
Phôi thép (Billet) | FOB Iran | 400 - 415 | 0 |
Phế (HMS 1&2) | CFR Thổ Nhĩ Kỳ | 375 | 0 |
TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT THỊ TRƯỜNG
Thị trường thép toàn cầu đang phân hóa rõ rệt giữa các khu vực.
Bắc Mỹ: Thị trường thép dẹt tiếp tục tăng giá mạnh (đặc biệt là HRC) do nguồn cung trong nước thắt chặt kéo dài, thời gian giao hàng kéo dài và người mua phải tìm đến nhập khẩu với giá cao hơn. Đây là khu vực có diễn biến tăng giá rõ rệt nhất.
Châu Á - Thái Bình Dương (Trung Quốc): Thị trường đang trong giai đoạn giằng co. Chi phí nguyên liệu thô (than cốc, quặng sắt) tăng cao và tình trạng thua lỗ của các nhà máy đang hỗ trợ giá, trong khi nhu cầu hạ nguồn (đầu tư bất động sản, xây dựng) vẫn yếu theo mùa và là yếu tố kìm hãm. Giá xuất khẩu có xu hướng ổn định hoặc tăng nhẹ, phản ánh nỗ lực của các nhà máy trong việc bảo vệ biên lợi nhuận.
Châu Âu & Thổ Nhĩ Kỳ: Thị trường trầm lắng do kỳ nghỉ hè, hoạt động giao dịch hạn chế. Giá tại châu Âu có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ. Thị trường đang hướng đến tháng 9 với kỳ vọng nhu cầu phục hồi, nhưng vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro từ nhu cầu yếu và chính sách tiền tệ.
Điểm đáng chú ý: Yếu tố chi phí nguyên liệu thô (đặc biệt là than cốc) và nguồn cung đang là những yếu tố chính tác động đến tâm lý và định giá trên toàn cầu. Trong khi nhu cầu ở hầu hết các thị trường vẫn chưa có sự bứt phá, thì việc thắt chặt nguồn cung nội địa tại Mỹ đang tạo ra một điểm nóng về giá trong bối cảnh thị trường thế giới nhìn chung trầm lắng.

