Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 29/9/2026

Thị trường thép Trung Quốc bước vào ngày 29/9 trong trạng thái giao dịch trầm lắng, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kỳ nghỉ Quốc khánh (1-7/10) đang đến gần. Các hoạt động giao ngay và xuất khẩu đều chậm lại rõ rệt khi người mua trong nước đã cơ bản hoàn tất dự trữ trước lễ. Giá thép dài và thép dẹt duy trì ổn định cục bộ, trong khi nguyên liệu thô chịu áp lực điều chỉnh giảm với thông tin về vòng giảm giá đầu tiên đối với cốc luyện kim đang được chuẩn bị khởi động.

TRONG NƯỚC

+ THÉP XÂY DỰNG

Giá giao kho thép cây tại Thượng Hải duy trì không đổi ở mức 3.130 NDT/tấn (466,06 USD/tấn) trong ngày 28/9. Trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải, hợp đồng thép cây kỳ hạn tháng 1 giảm 0,16% (tương đương 5 NDT/tấn) so với giá thanh toán phiên trước, đóng cửa tại 3.106 NDT/tấn. Thị trường vật lý duy trì ổn định với hoạt động giao dịch chậm lại so với ngày làm việc trước đó.

Tâm lý thị trường thép dài khu vực chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi kỳ vọng nguồn cung than luyện cốc tăng cao hơn. Chính quyền tỉnh Sơn Tây và khu tự trị Ninh Hạ đã yêu cầu các mỏ than duy trì sản xuất ổn định trong dịp nghỉ lễ, làm suy yếu hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu. Khung khổ giảm thuế song phương giữa Trung Quốc và Mỹ cũng gây áp lực lên tâm lý thị trường than luyện cốc.

Theo số liệu từ Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA), sản lượng thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên trong giai đoạn 11-20/9 đạt 1,922 triệu tấn/ngày, giảm 0,1% so với giai đoạn 1-10/9 và giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gang đạt 1,77 triệu tấn/ngày, giảm 1,4% so với trung tuần trước. Tồn kho thép của các nhà máy thành viên tính đến ngày 20/9 đạt 17,08 triệu tấn, tăng 3,4% so với trung tuần trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Tại các thị trường chủ đạo, giá thép cây Φ25mm bình quân đạt 3.251 NDT/tấn, tăng 5 NDT/tấn; giá thép cuộn vằn Φ8.0mm đạt 3.492 NDT/tấn, tăng 5 NDT/tấn.

Ghi nhận từ các thị trường khu vực: Giá thép cây tại Quảng Châu duy trì ổn định, giao dịch khả quan với khối lượng từ các nhà thương mại mẫu đạt 24.200 tấn. Tại Vũ Hán, giá giảm 10 NDT/tấn nhưng lượng giao dịch tăng vọt lên 10.850 tấn nhờ nhu cầu bổ sung hàng trước lễ. Khu vực Tây Nam (Tứ Xuyên-Trùng Khánh) giá giảm 10 NDT/tấn, lượng giao dịch đạt mức cao nhất kể từ cuối tháng 8. Trong khi đó, thị trường Nam Ninh ghi nhận giao dịch kém với khối lượng giảm 270 tấn so với phiên trước.

+ THÉP CÔNG NGHIỆP

Thép cuộn cán nóng (HRC)

Giá giao kho nhà bán buôn HRC chủ lực tại Thượng Hải giảm 10 NDT/tấn (tương đương 1,49 USD/tấn) xuống mức 3.290 NDT/tấn. Hợp đồng HRC giao tháng 1 trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải giảm 0,33% so với giá thanh toán ngày hôm trước, đóng cửa tại 3.282 NDT/tấn. Giá HRC 5.5*1500*C bình quân tại 10 thành phố trọng điểm đạt 3.295 NDT/tấn, giảm 8 NDT/tấn so với phiên trước và giảm 4 NDT/tấn so với tuần trước.

Các nhà máy thép Trung Quốc đang gánh khoản lỗ 250-300 NDT/tấn đối với HRC. Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 46.500 tấn, giảm 1.570 tấn so với phiên trước. Tồn kho HRC nắm giữ bởi các công ty thương mại và nhà máy thép giảm 120.000 tấn trong tuần này. Các nhà máy thép có thể giảm giá mua than cốc luyện kim vào tuần tới cùng với việc gia tăng cắt giảm sản lượng.

Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)

Giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.751 NDT/tấn, giảm 2 NDT/tấn so với phiên trước. Tại các thị trường trọng điểm: Thượng Hải 3.710 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn); Quảng Châu 3.740 NDT/tấn (đi ngang); Thiên Tân 3.650 NDT/tấn (đi ngang). Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.055 NDT/tấn, giảm 6 NDT/tấn; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.404 NDT/tấn, giảm 5 NDT/tấn.

Nhu cầu từ các ngành thiết bị gia dụng, ô tô vẫn yếu. Sản lượng ô tô tháng 8 đạt 268,4 nghìn chiếc, giảm 4,7% so với cùng kỳ; sản lượng điều hòa giảm 9,2%. Tồn kho xã hội CRC toàn quốc đạt 1,2963 triệu tấn, giảm 2.500 tấn so với tuần trước, nhưng tình trạng tích trữ hàng trước kỳ nghỉ lễ kép đã bắt đầu sớm. Tồn kho CRC toàn quốc duy trì ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây.

+ NGUYÊN LIỆU THÔ

Quặng sắt: Thị trường quặng sắt nhập khẩu chịu áp lực giảm. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu và Thanh Đảo ở mức 672 NDT/tấn, giảm 5 NDT/tấn so với phiên trước. Thiên Tân PB 61,5% ở mức 696 NDT/tấn, giảm 5 NDT/tấn. Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE giảm 0,91%. Trên thị trường hoán đổi, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Singapore đạt 94,55 USD/tấn, giảm 0,58%. Các nhà máy thép Trung Quốc đã mở rộng lượng tồn kho quặng sắt thêm 2,3 triệu tấn để đạt 90,4 triệu tấn trong tuần trước nhằm đảm bảo hoạt động lò cao diễn ra ổn định suốt kỳ nghỉ lễ.

Than cốc (Coke): Thị trường cốc luyện kim Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định. Cốc khô loại 1 tại Đường Sơn đạt 2.560 NDT/tấn; tại Trường Trị đạt 2.360 NDT/tấn; xuất xưởng tại Lâm Nghi đạt 2.460 NDT/tấn. Chi phí sản xuất cốc bình quân của các nhà máy cốc độc lập đạt 2.459 NDT/tấn, giá cốc thị trường đạt 2.390 NDT/tấn, lỗ lý thuyết 69 NDT/tấn (giảm 9 NDT/tấn so với tuần trước). Thị trường xuất hiện thông tin về việc chuẩn bị khởi động vòng giảm giá đầu tiên đối với cốc luyện kim với mức giảm 100-110 NDT/tấn, dự kiến khởi động sau Tết Trung thu và chính thức có hiệu lực trước Quốc khánh.

Than mỡ luyện cốc (Coking coal): Giá than mỡ luyện cốc ổn định và chịu áp lực giảm nhẹ. Tại Đường Sơn ở mức 2.205 NDT/tấn; than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần ở mức 2.400 NDT/tấn; than gầy Hàn Thành ở mức 1.550 NDT/tấn. Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than phục hồi sản xuất nhưng tốc độ chậm. Tuy nhiên, tâm lý thận trọng gia tăng sau thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành.

Phế liệu (Scrap): Giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định và giảm nhẹ. Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze đạt 2.076 NDT/tấn, giảm 3 NDT/tấn. Cụ thể theo khu vực: Đường Sơn 2.040 NDT/tấn; Trương Gia Cảng 2.060 NDT/tấn. Nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế.

Phôi thép (Billet): Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn ở mức 3.000 NDT/tấn, giảm 10 NDT/tấn so với phiên trước. Các nhà máy Trung Quốc chào bán phôi thép ở mức 470 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 10-11.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế và số ngày làm việc trước kỳ nghỉ lễ còn hạn chế.

HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc giảm 1 USD/tấn xuống mức 499 USD/tấn FOB Trung Quốc. Các nhà máy thép lớn vẫn giữ giá xuất khẩu đối với HRC mác Q235 và SS400 ổn định ở mức 498-515 USD/tấn FOB Trung Quốc. Tại khu vực ASEAN, giá HRC không đổi ở mức 537 USD/tấn CFR Việt Nam. Một nhà máy Indonesia đã chào giá HRC mác SAE1006 ở mức 540 USD/tấn CFR Việt Nam, nhưng mức giá đặt mua chỉ ở mức 536 USD/tấn.

Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Các nhà máy Trung Quốc đã nâng giá chào xuất khẩu thép cây B500B lên 500 USD/tấn theo phương thức giá FOB. Một số người mua có thể xem xét chốt các lô hàng nhỏ ở mức 485 USD/tấn FOB. Giá chào thép cây của Malaysia đứng ở mức 515 USD/tấn CFR Singapore.

Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống còn 499 USD/tấn FOB. Các nhà máy Trung Quốc duy trì giá chào thép dây SAE1008 ở mức 494-499 USD/tấn FOB. Một nhà máy của Malaysia chào bán thép dây ở mức 500 USD/tấn FOB. Giá chào dây cuộn của Indonesia ổn định ở mức 505 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.

Phôi dẹt (Slab): Đánh giá hàng tuần về phôi dẹt FOB Châu Á tăng 5 USD/tấn lên 485 USD/tấn. Một nhà máy của Indonesia đã nâng giá chào xuất khẩu phôi dẹt lên mức 490 USD/tấn FOB. Phôi dẹt mác dùng cho cán tấm có xuất xứ từ Trung Quốc được chào ở mức 510 USD/tấn FOB trở lên. Tại thị trường Mỹ, Nucor tăng giá HRC thêm 10 USD/tấn ngắn, kéo dài chuỗi tăng giá lên 10 tuần liên tiếp, đưa giá HRC lên 1.220 USD/tấn ngắn.

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Ngắn hạn ngày 29/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm trong bối cảnh kỳ nghỉ lễ Quốc khánh đang đến gần. Các yếu tố chi phối bao gồm:

Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; tuy nhiên, thông báo ổn định và đảm bảo nguồn cung than của ba bộ ngành đã làm suy yếu hỗ trợ chi phí từ nguyên liệu. Thị trường xuất hiện thông tin về việc vòng giảm giá đầu tiên đối với cốc luyện kim đang được chuẩn bị khởi động. Giá quặng sắt biến động yếu, dao động trong vùng 670-710 NDT/tấn.

Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng, các giao dịch chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế.

Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 8 tháng giảm 19,9%. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, tồn kho thép của các nhà máy thành viên trong trung tuần tháng 9 đạt 17,08 triệu tấn, tăng 560.000 tấn so với trung tuần trước (tăng 3,4%).

Chính sách và can thiệp thị trường: Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. Khả năng sinh lời của các nhà máy Trung Quốc đã giảm xuống dưới 10%; khoản lỗ 150-200 NDT/tấn dự kiến sẽ khuyến khích một số việc cắt giảm sản lượng. Tỷ lệ vận hành lò cao của các nhà máy thép chính đạt 77,55%, giảm 0,56% so với tuần trước. Lợi nhuận lũy kế của ngành luyện kim đen và cán thép Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 29,09 tỷ NDT, giảm 55% so với cùng kỳ năm trước.

Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài. Sản lượng thép thô toàn cầu tháng 8 đạt 144 triệu tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước.

Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm và khả năng triển khai vòng tăng thứ sáu; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại.

Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, thị trường dự kiến duy trì trạng thái ổn định với biên độ hẹp, giao dịch chậm. Sau kỳ nghỉ lễ, thị trường sẽ đối mặt với thách thức từ tồn kho tích lũy và nhu cầu cần được xác nhận.

Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.