Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 29/10/2026

Thị trường thép Trung Quốc ghi nhận đà giảm chậm lại và chủ yếu biến động trong biên độ hẹp. Tâm lý thị trường có sự giằng co giữa kỳ vọng cắt giảm sản lượng do các biện pháp bảo vệ môi trường mùa thu đông tại miền Bắc (Vũ An, Hàm Đan) và thực tế nhu cầu tiêu thụ hạ nguồn thiếu ổn định. Hoạt động giao dịch tổng thể duy trì ở mức trung bình, người mua chủ yếu nhập hàng nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết và thiếu vắng các đợt bổ sung tồn kho quy mô lớn.

TRONG NƯỚC

+ THÉP XÂY DỰNG

Hợp đồng thép vằn kỳ hạn chủ lực (RB2701) đóng cửa ở mức 3.043 điểm, tăng 17 điểm so với phiên trước.   

Trên thị trường giao ngay, giá thép vằn tại Thượng Hải đi ngang ở mức 3.070 NDT/tấn.   

Khối lượng giao dịch thép thanh tại các thành phố lớn đạt hơn 90.000 tấn do kỳ vọng giá đã chạm đáy ngắn hạn.   

Tại các khu vực trọng điểm, giá thép vằn biến động nhẹ hoặc đi ngang: Bắc Kinh dao động quanh mức 3.070 - 3.090 NDT/tấn. Nam Ninh tăng 10 - 20 NDT/tấn. Hợp Phê, Quảng Châu, Thái Nguyên, Trường Sa và Bao Đầu duy trì mức giá ổn định.   

Giá thép cuộn dây tại một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc tăng 5 NDT/tấn lên mức 3.230 NDT/tấn đối với giá xuất xưởng.

+ THÉP CÔNG NGHIỆP

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá trung bình loại 5.5mm tại 10 thành phố lớn đạt 3.211 NDT/tấn, giảm 2 NDT/tấn. Tại Thượng Hải, giá HRC tăng 10 NDT/tấn lên mức 3.220 NDT/tấn. Hợp đồng HRC kỳ hạn giao tháng 1 chốt phiên ở mức 3.177 điểm, tăng 9 điểm.   

Thép cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình toàn quốc loại 1.0mm giữ ổn định ở mức 3.691 NDT/tấn. Giá tại Thượng Hải (3.640 NDT/tấn), Quảng Châu (3.650 NDT/tấn) và Thiên Tân (3.610 NDT/tấn) đồng loạt đi ngang.   

Thép mạ/Sơn phủ: Giá thép mạ kẽm 1.0mm bình quân đi ngang ở mức 4.013 NDT/tấn. Thép mạ màu loại 0.47mm giảm nhẹ 4 NDT/tấn, xuống còn 5.356 NDT/tấn.  

+ THÉP BÁN THÀNH PHẨM

Phôi thép: Giá phôi vuông thông thường xuất xưởng tại nhà máy Tùng Đình (Đường Sơn) giữ ổn định ở mức 2.910 NDT/tấn (đã bao gồm thuế). Tại miền Bắc Trung Quốc, một nhà máy chào giá phôi 3sp ở mức 3.100 NDT/tấn giao tại cảng.   

Phôi ống: Giá phôi ống cán nóng 20# có sự phân hóa; tại Lâm Nghi tăng 10 NDT/tấn lên 3.260 NDT/tấn, Thường Châu đi ngang ở mức 3.440 NDT/tấn, trong khi tại miền Bắc (Tân Thiên Thép) giảm 10 NDT/tấn xuống 3.160 NDT/tấn.

+ NGUYÊN LIỆU THÔ

Quặng sắt: Chỉ số IODEX đường biển giảm 80 cent xuống mức thấp nhất trong hai năm là 89,50 USD/tấn khô. Tại cảng nội địa, quặng bột PB (60.8%) tại Nhật Chiếu và Thanh Đảo đi ngang lần lượt ở mức 640 NDT/tấn và 636 NDT/tấn. Định giá hoán đổi quặng sắt Singapore tăng 0,76% lên 90,20 USD.   

Than và Than cốc: Giá than luyện cốc cứng cao cấp (PHCC) CFR Trung Quốc giảm 1,50 USD/tấn xuống 287,20 USD/tấn. Tại thị trường nội địa, than cốc luyện kim tôi khô cấp 1 tại Đường Sơn ổn định ở mức 2.340 NDT/tấn. Các nhà máy luyện cốc đã đề xuất tăng giá nhưng vẫn chưa nhận được sự chấp thuận từ các nhà máy thép.   

Thép phế liệu: Chỉ số giá phế liệu giảm 4 điểm xuống mức 2.028. Giá phế liệu nặng tại Đường Sơn (2.030 NDT/tấn) và Trương Gia Cảng (2.040 NDT/tấn) không thay đổi, thị trường duy trì trạng thái yếu và ổn định.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Thép dài: Định giá thép vằn FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 475 USD/tấn theo trọng lượng lý thuyết. Thép cuộn dây (wire rod) mác SAE1008 được chào bán ở mức 530 USD/tấn FOB miền Đông Trung Quốc, trong khi loại carbon cao được chào ở mức 535 USD/tấn FOB.   

Thép dẹt: Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 1 USD/tấn xuống 482 USD/tấn FOB do người mua hạ mức giá mục tiêu. Các nhà máy lớn duy trì giá chào HRC mác SS400 ở mức 495 - 500 USD/tấn FOB, trong khi các nhà máy tư nhân chào giá ở mức 480 - 492 USD/tấn FOB.   

Phôi thép: Hơn 50.000 tấn phôi thép của Trung Quốc đã được bán cho Thổ Nhĩ Kỳ với giá 458 - 460 USD/tấn FOB. Báo giá phôi thép 5sp sang Philippines nằm ở mức 495 - 500 USD/tấn CFR, nhưng mục tiêu của người mua ước tính chỉ dưới mức 485 - 490 USD/tấn CFR.  

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Thị trường thép dự kiến sẽ tiếp tục xu hướng biến động hẹp hoặc đi ngang trong ngắn hạn do thiếu các yếu tố bứt phá.

Nhu cầu tiêu thụ dự báo sẽ suy yếu trong tháng 11 khi thời tiết mùa đông đến gần, làm giảm hoạt động thi công. Áp lực thua lỗ và chi phí hiện tại có thể buộc các nhà máy thép phải tiếp tục thu hẹp quy mô sản xuất để bù đắp sự suy giảm của lực cầu.

Mặc dù tin đồn về việc hạn chế sản lượng phục vụ bảo vệ môi trường đang hỗ trợ phần nào tâm lý thị trường, đà tăng giá bền vững vẫn bị kìm hãm bởi khối lượng giao dịch thực tế kém khả quan và chi phí nguyên liệu thô thiếu lực đẩy.

Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.