Thị trường thép Trung Quốc ngày 22/7 tiếp tục vận hành trong trạng thái giằng co yếu, đà giảm giá tạm thời chững lại nhưng áp lực giao dịch trầm lắng bao trùm toàn thị trường. Biên độ biến động của các dòng thép thành phẩm thu hẹp, phần lớn các đô thị chủ đạo giữ giá đi ngang hoặc giảm nhẹ từ 1 - 10 NDT/tấn. Sự hỗ trợ từ phía chi phí tiếp tục suy yếu khi đợt giảm giá than cốc đầu tiên (50 - 55 NDT/tấn) được áp dụng toàn diện và giá quặng sắt nhập khẩu tiếp tục điều chỉnh giảm. Dù tâm lý thị trường được nâng đỡ ngắn hạn nhờ đà tăng trên sàn tương lai của nhóm nguyên liệu than và thông tin Sơn Tây lấy ý kiến về quy định an toàn mỏ than, mâu thuẫn cốt lõi từ nhu cầu thực tế mùa thấp điểm cùng đà cắt giảm sản lượng chưa đủ mạnh vẫn kìm hãm không gian hồi phục của giá thép.
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
+ Thép xây dựng
Thị trường thép xây dựng nội địa ngày 22/7 vận hành ổn định theo xu hướng yếu, giá giao ngay điều chỉnh giảm nhẹ tại một số khu vực chủ lực: Giá toàn quốc: Giá trung bình thép thanh vằn cấp 3 Φ25mm tại các thành phố trọng điểm đạt 3.212 NDT/tấn (giảm 3 NDT/tấn); thép cuộn vằn cấp 3 Φ8.0mm đạt 3.446 NDT/tấn (giảm 4 NDT/tấn).
Thượng Hải: Giá xuất kho thép cuộn vằn 8mm ở mức 3.330 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn); thép thanh vằn cấp 3 Φ25mm ở mức 3.060 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn), giá giao kho ổn định ở mốc 3.030 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai thép vằn rb2610 biến động hẹp, đóng cửa ở mức 3.083 NDT/tấn (giảm 1 NDT/tấn), biên độ trong ngày dao động từ 3.074 - 3.096 NDT/tấn; vị thế mở đạt 1,884 triệu hợp đồng (tăng 56.000 hợp đồng).
Bắc Kinh: Thị trường duy trì xu hướng yếu ổn định, thép cuộn vằn 8mm giữ mức 3.450 NDT/tấn; thép thanh vằn chủ lực Φ25mm giao dịch ở mốc 3.190 NDT/tấn (giá chủ đạo thép vằn toàn thị trường ở mức 3.070 NDT/tấn).
Các khu vực khác: Hàng Châu giảm xuống 3.050 - 3.070 NDT/tấn; Tây An giữ ổn định ở mức 2.990 - 3.000 NDT/tấn; phôi thép Đường Sơn giảm 10 NDT/tấn, giá xuất xưởng phôi Thiên An Đường Sơn giữ ở mức 2.960 NDT/tấn.
Tồn kho & Giao dịch: Tồn kho thép xây dựng toàn quốc ghi nhận tồn kho thương mại tiếp tục giảm nhẹ nhưng tồn kho nhà máy thép quay đầu tăng nhẹ (tồn kho tại xưởng của các nhà máy thép mẫu toàn quốc đạt 4,1388 triệu tấn, tăng 8,45 vạn tấn, tương đương +2,08%). Khối lượng giao dịch phiên sáng chậm, buổi chiều một số vùng hạ nhẹ 10 NDT/tấn để tập trung xuất hàng nhưng không khí giao dịch chung vẫn kém sôi động.
+ Thép công nghiệp
Mặt hàng thép dẹt và thép đặc chủng duy trì trạng thái tích cực giằng co, biến động giá thu hẹp nhưng thanh khoản sụt giảm do tác động mùa vụ:
Cuộn cán nóng (HRC): Giá trung bình toàn quốc đạt 3.288 NDT/tấn (giảm 1 NDT/tấn). Thượng Hải giao kho giữ mốc 3.300 NDT/tấn. Hợp đồng HRC tương lai 2610 đóng cửa 3.282 NDT/tấn (giảm 2 NDT/tấn, -0,06%). Giá phôi nền cán nguội đạt 3.200 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn). Xuất hàng của đại lý lớn tại 18 thành phố trọng điểm đạt 47.200 tấn (giảm 1.340 tấn). Hàm Đan đạt 3.550 tấn (-360 tấn); Vô Tích đạt 2.890 tấn (-290 tấn). Mua sắm hoàn toàn theo nhu cầu cơ bản.
Cuộn cán nguội (CRC): Giá trung bình 1.0mm toàn quốc đi ngang ở mức 3.742 NDT/tấn. Mười thành phố chủ đạo đồng loạt giữ giá: Thượng Hải 3.700 NDT/tấn, Quảng Châu 3.720 NDT/tấn, Thiên Tân 3.640 NDT/tấn. Thị trường bước vào "giai đoạn im ắng", người mua hạ nguồn chờ xem, hỏi hàng rất ít, xuất hàng dựa trên nhu cầu nhỏ lẻ rải rác. Ý chí bán tháo tháo chạy giảm nhưng tâm lý giữ giá thiếu tự tin.
Thép tấm & Lá dày: Giá giao ngay nhìn chung vững chắc, một số thị trường miền Bắc tăng nhẹ. Miền Nam giữ giá ổn định, tâm lý nhà thương mại Hoa Đông giữ giá mạnh. Tổng khối lượng xuất hàng 105 đại lý lớn tại 15 thành phố đạt 50.180 tấn (giảm 520 tấn). Hàm Đan bứt phá đạt 11.500 tấn (+1.350 tấn); Giang Âm giảm xuống 12.100 tấn (-2.100 tấn).
+ Nguyên liệu thô
Áp lực điều chỉnh hạ trục chi phí tiếp tục diễn ra khi các nhà máy thép chuyển giao áp lực thua lỗ lên khâu nguyên liệu:
Than cốc: Đợt giảm giá đầu tiên (50 - 55 NDT/tấn) đã áp dụng chính thức từ ngày 22/7. Giá than cốc luyện kim loại chuẩn cấp một tại Đường Sơn giữ mức 1.885 NDT/tấn. Đo lường ngày 22/7 cho thấy chi phí bình quân của doanh nghiệp luyện cốc độc lập đạt 1.957 NDT/tấn, giá bán 2.060 NDT/tấn, lợi nhuận lý thuyết đạt 103 NDT/tấn (tăng 6 NDT/tấn). Tỷ lệ vận hành lò cốc duy trì mức cao, trong khi nhà máy thép mở rộng đại tu lò cao khiến sản lượng gang lỏng giảm, đe dọa biên lợi nhuận than cốc trong các vòng đàm phán tới. Trên sàn tương lai, hợp đồng than cốc 09 tăng nhẹ 0,16% lên 1.824,5 NDT/tấn.
Than luyện cốc (Coking Coal): Hợp đồng tương lai than cốc 09 dẫn đầu đà tăng (+1,04%) đóng cửa ở mức 1.266 NDT/tấn. Tâm lý thị trường nguyên liệu than được nâng đỡ nhờ thông tin tỉnh Sơn Tây công bố lấy ý kiến về các quy định an toàn ngành than mới (siết chặt kiểm tra, đóng cửa mỏ trái phép, cấm lao động phái cử dưới hầm), làm chậm tiến độ khôi phục nguồn cung.
Quặng sắt: Thị trường quặng nhập khẩu vận hành thiên yếu. Hợp đồng hoán đổi quặng sắt Singapore giảm 1,04% xuống 97,35 USD/tấn. Hợp đồng tương lai quặng sắt 09 trên sàn Đại Liên giảm 1,0% xuống 739,5 NDT/tấn. Giá quặng bột PB tại cảng Kinh Đường giảm 4 NDT/tấn xuống 715 NDT/tấn; Nhật Chiếu giảm 4 NDT/tấn xuống 692 NDT/tấn; Thanh Đảo giảm 4 NDT/tấn xuống 693 NDT/tấn; Thiên Tân giảm 8 NDT/tấn xuống 704 NDT/tấn. Nguồn cung cảng ở mức cao trong khi lực mua từ nhà máy thép rất yếu do lợi nhuận bị ép hẹp.
Tồn kho tổng hợp: Tồn kho thép toàn khẩu kính tại các nhà máy thép mẫu đạt 6,6345 triệu tấn (tăng 0,87 vạn tấn, tương đương +0,13% so với tuần trước; +0,60% so với tháng trước; +29,00% so với cùng kỳ năm ngoái). Tốc độ tăng tồn kho đã chậm lại 1,04 phần trăm.
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc và diễn biến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương duy trì trạng thái trầm lắng, áp lực giằng co giá lan rộng:
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc đi ngang ở mức 484 USD/tấn FOB. Chào giá mác Q235 từ các nhà máy tư nhân ở mức 488 - 496 USD/tấn FOB; các nhà máy lớn giữ chào giá mác SS400 ở mức 500 - 510 USD/tấn FOB. Mức chào giá mác Q235 sang Việt Nam ở mức 515 USD/tấn CFR, công ty thương mại chào 489 - 496 USD/tấn FOB. Khách mua quốc tế và khu vực Đông Nam Á án binh bất động do nhu cầu thấp điểm, chỉ đưa ra giá thầu thấp (quanh 510 USD/tấn CFR Việt Nam) để thăm dò thị trường. Tại ASEAN, giá HRC giữ ở mức 514 USD/tấn CFR; giao dịch mác SAE1006 Indonesia tuần trước ghi nhận ở 517 USD/tấn CFR Việt Nam. Các nhà máy thép Trung Quốc không sẵn lòng giảm thêm vì đã chạm ngưỡng thua lỗ.
Thép cây & Thép cuộn trơn: Chỉ số thép cây FOB Trung Quốc không đổi ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Chào giá thép cây B500B miền Bắc đi ngang ở 485 - 486 USD/tấn FOB (giao tháng 9); mác HRB400 ở mức 474 - 475 USD/tấn FOB; thép cây cuộn HRB400 chào ở 516 USD/tấn FOB. Chỉ số cuộn trơn (Wire rod) FOB Trung Quốc giữ mốc 496 USD/tấn; chào giá SAE1008 từ nhà máy lớn ở mức 504 USD/tấn FOB (miền Đông chào 525 USD/tấn FOB). Phôi thanh 3SP xuất khẩu chào ở mức 460 - 465 USD/tấn FOB (Indonesia chào 465 USD/tấn FOB). Các thị trường lớn tại Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia) nhu cầu yếu, giá nội địa giảm khiến lực hấp thụ thép Trung Quốc chậm lại.
Thép tấm (Plate): Chào giá thép tấm mác SS400 từ nhà máy miền Đông Trung Quốc ở mức 560 USD/tấn FOB; chào giá sang Việt Nam mác Q235 ở mức 564 USD/tấn CFR, mác Q355 ở mức 584 USD/tấn CFR.
Thị trường UAE (Chứng nhận ECAS): Chi nhánh Đường Sơn thuộc Tập đoàn HBIS đã chính thức nhận chứng nhận ECAS cho phôi thanh B500B (hiệu lực từ 20/7/2026 đến 19/7/2029). Động thái này tiếp tục mở rộng dư địa xuất khẩu bán thành phẩm của Trung Quốc sang UAE (6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc xuất khẩu 328.700 tấn phôi thép sang UAE, tăng 450% so với cùng kỳ).
TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG
Nhìn nhận tổng thể ngày 23 tháng 7, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục vận hành trong thế giằng co, dao động theo chiều hướng yếu tại vùng đáy. Các nhân tố cốt lõi định hình thị trường bao gồm:
Về phía cung ứng: Tình trạng thua lỗ diện rộng (hơn 60% doanh nghiệp thép thua lỗ theo báo cáo bán niên) buộc các nhà máy thép phải chủ động cắt giảm sản lượng và mở rộng đại tu lò cao. Kết hợp với chính sách siết chặt an toàn mỏ than tại Sơn Tây và Nội Mông Cổ, áp lực nguồn cung tổng thể đang dần thu hẹp. Tồn kho nhà máy tuy tăng nhẹ (+0,13%) nhưng tốc độ đã chậm lại rõ rệt, áp lực tích lũy tồn kho xã hội được giải tỏa phần nào.
Về phía chi phí & Nguyên liệu: Việc đợt giảm giá than cốc thứ nhất được áp dụng cùng đà suy giảm liên tục của quặng sắt làm hạ trục chi phí sản xuất. Nếu đợt giảm giá thứ 2 và thứ 3 của than cốc tiếp tục diễn ra, nấc hỗ trợ chi phí sẽ bị loại bỏ, tạo thêm không gian ép giá thành phẩm xuống dưới.
Về phía nhu cầu & Tâm lý: Nhu cầu hạ nguồn vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi mùa thấp điểm truyền thống, thời tiết nắng nóng và mưa bão miền Nam làm chậm tiến độ thi công ngoài trời. Tâm lý người mua hạ nguồn cực kỳ thận trọng, giao dịch hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu mua bổ sung thiết yếu, nhu cầu đầu cơ vắng bóng. Dù vậy, lực đỡ từ mức định giá thấp và kỳ vọng chính sách kích thích kinh tế trung hạn sẽ ngăn chặn kịch bản giảm sâu.
Dự báo xu hướng giá ngày 23/07: Giá thép thành phẩm giao ngay (thép xây dựng, HRC, CRC, thép tấm) trên thị trường nội địa Trung Quốc ngày hôm nay dự kiến sẽ tiếp tục duy trì trạng thái dao động củng cố theo chiều hướng yếu trong biên độ hẹp (điều chỉnh vi mô từ 10 - 20 NDT/tấn). Thị trường thiếu động lực bứt phá do giao dịch ảm đạm và chi phí lỏng lẻo, nhưng dư địa giảm thêm không lớn nhờ bệ đỡ cắt giảm sản lượng từ phía nhà máy và vùng định giá đáy của ngành.


