Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 16/9/2026

Bước sang ngày 16/9/2026, thị trường thép Trung Quốc ghi nhận sự phân hóa rõ nét sau phiên 15/9. Thép xây dựng có dấu hiệu phục hồi nhẹ với giá giao kho Thượng Hải tăng 10 NDT/t lên 3.110 NDT/t và hợp đồng kỳ hạn tháng 1 tăng 13 NDT/t, đóng cửa quanh mức 3.100 NDT/t. Trong khi đó, thép dẹt tiếp tục suy yếu do tâm lý thận trọng của người mua và lo ngại về sức mạnh nhu cầu. Đáng chú ý, Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho, trong bối cảnh sản lượng thép thô tháng 8 giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 74,61 triệu tấn.

TRONG NƯỚC

+ THÉP XÂY DỰNG

Ngày 15/9, thị trường thép xây dựng Trung Quốc ghi nhận sự phục hồi nhẹ sau đợt sụt giảm đầu tuần. Giá thép cây giao kho tại Thượng Hải tăng 10 NDT/t lên 3.110 NDT/t. Hợp đồng tương lai thép cây kỳ hạn tháng 1 trên SHFE tăng 13 NDT/t, đóng cửa tại 3.100 NDT/t, dao động trong biên độ 3.089-3.115 NDT/t. Khối lượng giao dịch đạt 723.000 lô, lượng hợp đồng mở đạt 1,594 triệu lô, giảm 13.000 lô.

Tổng khối lượng giao dịch thép tại các thành phố trọng điểm toàn quốc ngày 15/9 đạt 229.500 tấn, tăng 19.100 tấn (tương đương 9,12%) so với phiên trước; trong đó thép xây dựng đạt 122.500 tấn, tăng 9,21%. So với tuần trước, khối lượng giao dịch thép xây dựng tăng 0,32%; so với tháng trước tăng 5,98%; so với cùng kỳ năm ngoái giảm 22,09%.

Tại các thị trường trọng điểm: Wuhan, giá HRB400E Φ18mm của Baowu Egang và Baowu Wugang ở mức 3.200 NDT/t, Wugang Hangang 3.170 NDT/t, đi ngang so với phiên trước. Hoạt động giao dịch tại Wuhan đạt 9.050 tấn từ 13 mẫu thương nhân, tăng 950 tấn. Nanchang, giá HRB400E Φ18mm của Nanchang Steel ở mức 3.040 NDT/t, Wugang Hangang 3.030 NDT/t, đi ngang. Taiyuan, giá thép cây chủ lực của Shougang ở mức 3.260 NDT/t, thép cuộn vằn 3.440 NDT/t, đi ngang; giao dịch đạt 4.160 tấn từ 10 mẫu doanh nghiệp, tăng 530 tấn. Hàng Châu, giá thép cây của Zhongtian tăng 10 NDT/t lên 3.140 NDT/t, thép cuộn vằn tăng 10 NDT/t lên 3.450 NDT/t. Trường Sa, giá thép cây của Pinggang và Lenggang ở mức 3.190 NDT/t, Xianggang 3.210 NDT/t, Liangang 3.240 NDT/t, tăng 10 NDT/t; giao dịch đạt 2.857 tấn, tăng 315 tấn. Quảng Châu, giá chủ lực của Shaoxiang ở mức 3.300 NDT/t, Guangjigang và Guixin 3.180-3.280 NDT/t, đi ngang; giao dịch đạt 18.900 tấn, tăng 1.300 tấn. Hải Khẩu, giá thép cây của Guiwan 3.490 NDT/t, Liugang 3.460 NDT/t, Dadonghai 3.440 NDT/t, đi ngang; giao dịch chỉ đạt 1.200 tấn. Bắc Kinh, thị trường ghi nhận tâm lý cải thiện so với phiên trước, lượng hỏi hàng tăng nhưng tỷ lệ chốt đơn không cao, người mua vẫn thận trọng; giá báo cơ bản ổn định.

Về cung ứng, tính đến ngày 9/9, trong tổng số 201 nhà máy, có 50 nhà máy với 91 lò cao đang bảo trì, tổng dung tích 98.810 m³, tăng 7.600 m³ so với tuần trước. Tỷ lệ vận hành lò cao của các doanh nghiệp thép chính đạt 78,08%, giảm 0,66 điểm phần trăm so với tuần trước. Tại Sơn Tây, 12 nhà máy thép xây dựng được khảo sát có 10 dây chuyền thép cây hoạt động bình thường, tỷ lệ vận hành 67%; 17 dây chuyền thép cuộn vằn hoạt động, tỷ lệ 63%. Sản lượng thép cây hàng ngày khoảng 21.000 tấn, đi ngang; sản lượng thép cuộn vằn 38.500 tấn, giảm 500 tấn. Tồn kho thép xây dựng tại các nhà máy Sơn Tây khoảng 564.000 tấn, giảm 29.800 tấn so với tuần trước.

Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Sản lượng thép thô tháng 8 của Trung Quốc đạt 74,61 triệu tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái; sản lượng gang đạt 67,65 triệu tấn, giảm 3,5%; sản lượng thép thành phẩm đạt 114,75 triệu tấn, giảm 5,5%. Lũy kế 8 tháng, sản lượng thép thô đạt 651,85 triệu tấn, giảm 3,1%; gang đạt 563,40 triệu tấn, giảm 3,1%; thép thành phẩm đạt 950,75 triệu tấn, giảm 1,7%. Sản lượng thép thô bình quân ngày tháng 8 đạt 2,407 triệu tấn, giảm 3,0% so với tháng 7; gang đạt 2,182 triệu tấn, giảm 1,0%; thép thành phẩm đạt 3,702 triệu tấn, giảm 1,5%. Các doanh nghiệp thép lớn: sản lượng gang bình quân ngày đạt 1,812 triệu tấn, giảm 0,5% so với tháng trước và giảm 4,1% so với cùng kỳ; thép thô đạt 1,941 triệu tấn, giảm 1,3% so với tháng trước và giảm 5,1% so với cùng kỳ; thép thành phẩm đạt 1,914 triệu tấn, giảm 0,9% so với tháng trước và giảm 7,3% so với cùng kỳ.

Đầu tư bất động sản 8 tháng đầu năm giảm 19,9% so với cùng kỳ; đầu tư cơ sở hạ tầng giảm nhẹ; đầu tư tài sản cố định giảm 7,2%. Nhu cầu thép xây dựng vẫn chịu áp lực từ lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, hoạt động tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh và hiệu ứng từ chính sách kiểm soát sản lượng của CISA được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giá trong ngắn hạn.

Dự báo ngày 16/9: Giá thép xây dựng duy trì xu hướng ổn định/yếu, dao động trong vùng 3.050-3.150 NDT/t. Các nhà máy có thể giữ hoặc điều chỉnh giảm nhẹ giá để kích cầu; người mua duy trì chiến lược mua theo nhu cầu thực tế. Lực cầu từ hoạt động tích trữ trước kỳ nghỉ Quốc khánh được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giá trong ngắn hạn, nhưng mức độ còn phụ thuộc vào tiến độ giải ngân của các dự án xây dựng.

+ THÉP CÔNG NGHIỆP

Thép cuộn cán nóng (HRC)

Ngày 15/9, giá HRC chủ đạo giao kho tại Thượng Hải giảm 10 NDT/t xuống 3.320 NDT/t. Một số người bán đã giảm giá 10 NDT/t để thu hút đơn hàng, nhưng người mua chỉ hạn chế mua ở mức đáp ứng nhu cầu tức thời. Hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 trên SHFE giảm 0,09% so với giá thanh toán phiên trước, xuống 3.309 NDT/t. Giá HRC bình quân 10 thành phố trọng điểm đạt 3.310 NDT/t, giảm 4 NDT/t so với phiên trước và giảm 43 NDT/t so với cùng kỳ tuần trước.

Khối lượng giao dịch HRC tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 52.110 tấn, tăng 3.910 tấn so với phiên trước. Trong đó, khu vực phía Bắc (Hàm Đan) đạt 4.210 tấn, tăng 660 tấn; khu vực phía Nam (Vô Tích) đạt 3.350 tấn, tăng 400 tấn. Giao dịch chủ yếu tập trung vào các đơn hàng nhỏ, mua theo nhu cầu thực tế; hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng.

Về cung cầu, các nhà máy thép Trung Quốc hiện đang gánh khoản lỗ 250-300 NDT/t đối với HRC. Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc đã ra lời kêu gọi vào cuối ngày 15/9 yêu cầu các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng. Các thành viên thị trường cho rằng các nhà sản xuất cần giảm sản lượng HRC để cân bằng cung cầu. Tồn kho HRC tiếp tục giảm nhưng với tốc độ chậm. Các thành viên thị trường bày tỏ lo ngại về mức độ nhu cầu tích trữ hàng từ các ngành hạ nguồn trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh kéo dài bảy ngày; nếu hoạt động tích trữ không đạt kỳ vọng, thị trường thép cuộn nội địa sẽ chịu thêm áp lực.

Dự báo ngày 16/9: HRC tiếp tục đi ngang hoặc giảm nhẹ, vùng 3.290-3.350 NDT/t; áp lực từ nguồn cung và tốc độ giải phóng tồn kho chậm. Tâm lý thị trường chịu ảnh hưởng từ đà giảm của hợp đồng kỳ hạn và nhu cầu hạ nguồn yếu.

Thép cuộn cán nguội (CRC) và thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG)

Ngày 15/9, giá CRC 1.0mm bình quân toàn quốc đạt 3.767 NDT/t, giảm 1 NDT/t so với phiên trước. Tại các thị trường trọng điểm: Thượng Hải 3.740 NDT/t (giảm 10 NDT/t); Quảng Châu 3.760 NDT/t (đi ngang); Thiên Tân 3.670 NDT/t (đi ngang).

Giá HDG 1.0mm bình quân đạt 4.069 NDT/t, giảm 3 NDT/t; tôn phủ màu 0.47mm bình quân đạt 5.411 NDT/t, giảm 1 NDT/t. Giao dịch duy trì trạng thái trầm lắng.

Thị trường ghi nhận sự phân hóa: khu vực Hoa Đông chịu áp lực giảm giá (Thượng Hải giảm 10 NDT/t), trong khi khu vực Hoa Nam và Hoa Bắc thể hiện khả năng chống giảm tốt hơn (Quảng Châu và Thiên Tân đi ngang). Nhu cầu từ các ngành thiết bị gia dụng, ô tô vẫn yếu, người mua duy trì chiến lược mua cầm chừng, chỉ bổ sung các loại quy cách cần thiết cho sản xuất. Tồn kho CRC toàn quốc duy trì ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây, gây áp lực lên giá. Các nhà máy duy trì sản xuất ổn định, nguồn cung không có biến động lớn.

Dự báo ngày 16/9: CRC/HDG phân hóa; CRC yếu, HDG/tôn phủ màu có thể ổn định nhờ nhà máy giữ giá, nhưng chi phí đầu vào hạ nhiệt.

Thép tấm (Plate)

Ngày 15/9, giá thép tấm trung dày tiếp tục chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào và nhu cầu yếu. Khối lượng giao dịch duy trì ở mức thấp. Tồn kho xã hội tại Vũ An có xu hướng giảm nhẹ so với tuần trước. Các nhà máy duy trì sản lượng ổn định, chưa có kế hoạch cắt giảm mạnh.

Dự báo ngày 16/9: Thép tấm đi ngang hoặc giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào, nhu cầu yếu.

Thép hình (Section steel)

Ngày 15/9, giá thép hình trong nước tiếp tục xu hướng suy yếu. Các chủng loại thép hình chịu áp lực giảm giá từ nhu cầu yếu và tồn kho cao. Chênh lệch giá phôi - thành phẩm thu hẹp.

Tồn kho thành phẩm thép hình toàn quốc có xu hướng giảm nhẹ, chủ yếu nhờ cắt giảm nguồn cung. Tỷ lệ vận hành của các nhà máy thép hình dài duy trì ở mức thấp. Khối lượng xuất xưởng hàng tuần của các nhà máy phôi tại Đường Sơn giảm so với tuần trước.

Dự báo ngày 16/9: Thép hình duy trì xu hướng ổn định/yếu, chịu áp lực từ nhu cầu yếu và tồn kho cao.

+ NGUYÊN LIỆU THÔ

Cốc luyện kim (Coke)

Ngày 15/9, thị trường cốc luyện kim Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định sau khi vòng tăng giá thứ năm với mức tăng 100-110 NDT/t đã chính thức được chấp nhận và có hiệu lực. Cụ thể: cốc khô loại 1 tại Đường Sơn (Hà Bắc) đạt 2.560 NDT/t; cốc khô loại 1 tại Trường Trị (Sơn Tây) đạt 2.360 NDT/t; cốc khô loại 1 xuất xưởng tại Lâm Nghi (Sơn Đông) đạt 2.460 NDT/t. Giá cốc khô loại 1 tại cảng (xuất kho) ở mức 1.980 NDT/t.

Về chi phí và lợi nhuận, lỗ bình quân của các nhà máy cốc độc lập ở mức cao. Chi phí sản xuất cốc bình quân đạt 2.512 NDT/t, giá thị trường 2.390 NDT/t, lỗ lý thuyết 123 NDT/t, mức lỗ tăng 2 NDT/t so với tuần trước. Cụ thể: Thiểm Tây lỗ 263 NDT/t; Nội Mông lỗ 254 NDT/t; Ninh Hạ lỗ 266 NDT/t (tăng 12 NDT/t); Hà Bắc lỗ 81 NDT/t; Sơn Tây lãi 70 NDT/t; Sơn Đông lãi 58 NDT/t. Vòng tăng giá thứ năm đã giúp các nhà máy cốc giảm bớt thua lỗ, một số doanh nghiệp đã chủ động tăng sản lượng, tỷ lệ vận hành của các nhà máy cốc tăng nhẹ. Tồn kho cốc duy trì ở mức thấp và tiếp tục xu hướng giảm.

Hợp đồng cốc kỳ hạn tháng 1 trên Sở Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 0,27% trong ngày 15/9, đóng cửa tại 2.232 NDT/t, giảm 47 NDT/t so với phiên trước, gây áp lực trực tiếp lên tâm lý thị trường. Về cung cầu, một số nhà máy cốc đã chủ động cắt giảm sản lượng sau giai đoạn thua lỗ sâu, duy trì tồn kho ở mức thấp. Phía cầu, một số nhà máy thép thực hiện bảo trì do thua lỗ, sản lượng gang lỏng giảm, nhưng nhu cầu cốc cơ bản vẫn còn. Nhu cầu mua than luyện cốc của các nhà máy thép vẫn duy trì, tồn kho than luyện cốc trong chuỗi tiếp tục xu hướng giảm. Hiện tại, các nhà máy cốc và nhà máy thép chưa đạt được đồng thuận về vòng tăng giá thứ sáu.

Dự báo ngày 16/9: Giá cốc tiếp tục duy trì xu hướng ổn định, nhưng rủi ro phản hồi tiêu cực từ nhu cầu thép vẫn hiện hữu. Khả năng tiếp tục tăng giá được đánh giá không cao do tâm lý thị trường yếu và nhu cầu hạ nguồn ảm đạm. Thị trường đang trong giai đoạn giằng co vùng cao.

Than mỡ luyện cốc (Coking coal)

Ngày 15/9, giá than mỡ luyện cốc ổn định. Tại Đường Sơn: 2.265 NDT/t (ổn định); than mỡ luyện cốc lưu huỳnh thấp tại Lâm Phần: 2.620 NDT/t (ổn định); than gầy Hàn Thành: 1.760 NDT/t (tăng 60 NDT/t). Than nguyên khai mác 5 Mông Cổ: 1.657 NDT/t.

Nguồn cung than luyện cốc vẫn tương đối thắt chặt do một số mỏ than phục hồi sản xuất nhưng tốc độ chậm, một số mỏ than tại Sơn Tây vẫn đang tạm dừng hoạt động. Tâm lý thận trọng gia tăng, giá đấu giá trực tuyến một số chủng loại than giảm, tỷ lệ đấu giá thất bại tăng. Các thương nhân trung gian lo ngại giá giảm trong tương lai nên chủ yếu tập trung vào việc xuất hàng.

Nhập khẩu than Mông Cổ: lượng thông quan qua biên giới duy trì ở mức thấp, phổ biến khoảng 500-800 xe/ngày, chưa phục hồi về mức bình thường. Mặc dù vậy, đà phục hồi của thông quan đã bắt đầu xuất hiện sau khi các hạn chế về nguồn cung nhiên liệu của Mông Cổ được giải tỏa. Chính quyền tỉnh Sơn Tây đã yêu cầu các mỏ than địa phương đẩy nhanh việc nối lại sản xuất và đảm bảo nguồn cung than ổn định đồng thời đảm bảo an toàn.

Dự báo ngày 16/9: Than mỡ luyện cốc duy trì vùng giá cao, đi ngang hoặc tăng nhẹ. Thị trường bước vào chu kỳ biến động mạnh với đà tăng bị hạn chế bởi nguồn cung phục hồi, trong khi đà giảm bị hạn chế bởi tồn kho thấp và kỳ vọng nhu cầu mùa cao điểm.

Quặng sắt (Iron ore)

Ngày 15/9, quặng sắt nhập khẩu suy yếu. Giá quặng PB 60,8% tại Nhật Chiếu: 679 NDT/t (đi ngang); Thanh Đảo PB: 675 NDT/t (đi ngang); Thiên Tân PB 61,5%: 694 NDT/t (giảm 10 NDT/t). Hợp đồng quặng sắt 2701 trên DCE giảm 0,56% trong ngày, đóng cửa tại 805 NDT/t, giảm 22 NDT/t so với phiên trước. Trên thị trường hoán đổi, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên Sàn Singapore đạt 95,4 USD/tấn, giảm 0,20%.

Thị trường quặng sắt đang chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào, tồn kho cảng ở mức cao, nhu cầu mua của nhà máy thận trọng. Các nhà máy duy trì chiến lược mua cầm chừng, chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế, không có hoạt động tích trữ quy mô lớn. Thị trường quặng sắt nội địa cũng ghi nhận sự phân hóa khi một số khu vực chịu áp lực giảm giá từ nhu cầu yếu và nguồn cung tăng. Nguồn cung từ các mỏ quặng nội địa duy trì ổn định, các mỏ và nhà máy tuyển quặng duy trì sản xuất không đầy đủ để tránh tồn kho, ưu tiên giao hàng theo hợp đồng dài hạn.

Dự báo ngày 16/9: Quặng sắt tiếp tục yếu, còn rủi ro giảm; nhu cầu mua của nhà máy thận trọng. Giá quặng sắt có thể dao động trong vùng 670-710 NDT/t. Thị trường thiếu động lực tăng trong ngắn hạn do nguồn cung dồi dào và nhu cầu thép yếu.

Phế liệu (Scrap)

Ngày 15/9, giá phế liệu trong nước Trung Quốc duy trì xu hướng ổn định đến yếu. Chỉ số giá phế liệu lưu thông của Lanze đạt 2.081 NDT/t, giảm 1 NDT/t; chỉ số giá phế liệu nặng 2.055 NDT/t (giảm 2 NDT/t); chỉ số giá phế liệu vụn 2.107 NDT/t (giảm 1 NDT/t).

Cụ thể theo khu vực: Đường Sơn 2.040 NDT/t (đi ngang); Trương Gia Cảng 2.060 NDT/t (đi ngang).

Về cung cầu, nguồn cung phế liệu trên thị trường thắt chặt, tâm lý giữ giá của các cơ sở thu mua suy yếu. Nhu cầu từ các nhà máy thép chủ yếu là mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu thực tế, tiến độ thu mua chậm lại. Tồn kho phế liệu ở mức thấp lành mạnh, duy trì xu hướng giảm nhẹ. Các nhà máy thép hạ giá thu mua phế liệu để kiểm soát chi phí trong bối cảnh lợi nhuận bị thu hẹp. Thị trường phế liệu chịu áp lực từ triển vọng nhu cầu thép thành phẩm yếu.

Dự báo ngày 16/9: Giá phế liệu duy trì ổn định, dao động trong biên độ hẹp. Áp lực giảm giá có thể gia tăng nếu giá thép thành phẩm tiếp tục suy yếu.

Phôi thép (Billet)

Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn ngày 15/9 ở mức 3.000 NDT/t, tăng 10 NDT/t so với phiên trước. Một số nhà máy Indonesia duy trì giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 480-485 USD/tấn FOB cho lô hàng giao tháng 12.

Dự báo ngày 16/9: Phôi thép duy trì xu hướng ổn định/yếu, chịu áp lực từ giá quặng sắt và than luyện cốc giảm. Các nhà máy có thể điều chỉnh giảm nhẹ giá phôi để kích cầu.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Ngày 15/9, thị trường xuất khẩu thép Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh nhẹ. Giá chào được giữ ở mức cao do chi phí sản xuất leo thang, nhưng giao dịch bị hạn chế bởi tâm lý thận trọng của người mua quốc tế. Triển vọng thị trường không chắc chắn đã khiến người mua chần chừ không mua hàng.

HRC: Giá xuất khẩu HRC Trung Quốc giảm 1 USD/tấn xuống còn 496 USD/tấn FOB. Một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc trong tuần này đã hạ giá chào xuất khẩu HRC mác SS400 thêm 5 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 510 USD/tấn FOB; một số mức chiết khấu có thể được áp dụng tùy thuộc vào các giá thầu chắc chắn. Giá chào từ các nhà máy thép tư nhân ở mức 496-497 USD/tấn FOB đối với HRC mác Q235. Nhu cầu vận tải biển vẫn trầm lắng với rất ít sự quan tâm mua sắm được ghi nhận.

Tại khu vực ASEAN, giá HRC tăng 1 USD/tấn lên mức 536 USD/tấn CFR Việt Nam do các mức giá giao dịch cao hơn. Một giao dịch HRC mác SAE1006 có xuất xứ từ Indonesia đã được chốt ở mức 536 USD/tấn CFR Việt Nam trong tuần này, so với các mức giá chào ở mức 535-540 USD/tấn CFR Việt Nam. HRC xuất xứ từ Ấn Độ được chào ở mức 545 USD/tấn CFR Việt Nam trở lên, thu hút rất ít sự quan tâm mua sắm vì mức giá này cao hơn nhiều so với mục tiêu 530-535 USD/tấn CFR của người mua.

Thép cây (Rebar): Chỉ số FOB Trung Quốc giữ nguyên ở mức 482 USD/tấn (theo trọng lượng lý thuyết). Một nhà máy lớn ở miền Bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu thép cây B500B thêm 3 USD/tấn so với ngày hôm qua, xuống còn 482 USD/tấn FOB trọng lượng lý thuyết. Một người mua ở Đông Nam Á cho biết hầu hết các nhà máy Trung Quốc đang bán thép cây trong tình trạng thua lỗ, để lại ít dư địa cho việc đàm phán giá.

Thép dây (Wire rod): Giá FOB Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống còn 500 USD/tấn FOB. Một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu thép cuộn dây từ 1-3 USD/tấn so với ngày hôm trước, xuống còn 497-502 USD/tấn FOB đối với mác chất lượng dùng làm lưới thép. Một nhà máy Indonesia giữ nguyên giá chào thép cuộn dây ở mức 510 USD/tấn FOB cho chuyến hàng giao tháng 12.

Phôi thép (Billet): Giá phôi thép xuất xưởng tại Đường Sơn tăng 10 NDT/t lên 3.000 NDT/t. Một nhà máy Indonesia đã giảm giá chào xuất khẩu phôi thép 5 USD/tấn xuống còn 480 USD/tấn FOB cho chuyến hàng giao tháng 12. Một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc đã giảm giá chào phôi thép mác cơ bản 5 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 475 USD/tấn FOB cho chuyến hàng giao tháng 11. Các thương nhân Trung Quốc đã hạ giá chào phôi thép xuống mức 467-470 USD/tấn FOB sau khi giá phôi thép nội địa giảm 5-6 USD/tấn trong tuần. Các thành viên thị trường cho biết mục tiêu giá mua của người mua nằm dưới mức 465 USD/tấn FOB trong bối cảnh tâm lý thị trường lung lay.

CRC/HDG: CRC mác SPCC chào 560-585 USD/tấn FOB; HDG mác SGCC chào 555-618 USD/tấn FOB.

Thép tấm (Plate): Giá chào phổ biến đối với thép tấm xuất xứ Trung Quốc dao động ở mức 560-565 USD/tấn FOB đối với mác SS400; mác Q355 chào 580 USD/tấn CFR Việt Nam.

Bối cảnh quốc tế: Giá HRC tại Tây Bắc EU đạt 735,5 EUR/tấn ex-works, Ý đạt 737 EUR/tấn; giao dịch 1.500 tấn được chốt ở mức 750 EUR/tấn ex-works Tây Bắc EU cho lô hàng giao tháng 11. Nhập khẩu CFR Ý 590 EUR/tấn. Thổ Nhĩ Kỳ: phôi thép CFR 515 USD/tấn (đi ngang); phôi thép nội địa 560 USD/tấn ex-works (tăng 10 USD/tấn). Mỹ: HRC giao ngay 1.241,75 USD/tấn ngắn (tăng 8,25 USD/tấn); Nucor tăng giá HRC thêm 10 USD/tấn ngắn lên 1.200 USD/tấn ngắn; HRC nhập khẩu 1.040 USD/tấn ddp Houston. Đài Loan: Chung Hung Steel tăng giá nội địa tháng 10 đối với HRC/CRC thêm 600 Đài tệ/tấn và tôn mạ kẽm thêm 800 Đài tệ/tấn.

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Ngắn hạn ngày 16/9 và những ngày tới, thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục điều chỉnh biên độ hẹp, phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Các yếu tố chi phối bao gồm:

Chi phí nguyên liệu và chính sách điều tiết: Vòng tăng giá cốc luyện kim thứ năm đã có hiệu lực, đẩy chi phí sản xuất thép tăng thêm 50-60 NDT/tấn; giá than mỡ luyện cốc duy trì vùng cao; quặng sắt biến động yếu. Tuy nhiên, NDRC đã họp về tăng cường vận chuyển than từ Tân Cương và DCE áp hạn mức giao dịch quặng sắt trong ngày nhằm hạn chế đầu cơ, tạo áp lực lên nguyên liệu. Giá cốc và quặng sắt trên thị trường kỳ hạn đang có dấu hiệu suy yếu, phản ánh kỳ vọng thị trường về nguồn cung nguyên liệu gia tăng trong thời gian tới.

Kỳ vọng mùa tiêu thụ và tâm lý: Thị trường chuyển từ mùa thấp điểm hè sang cao điểm tháng 9, nhưng giao dịch thép cây và HRC vẫn trầm lắng; người mua không sẵn sàng chấp nhận tăng giá liên tục. Kỳ vọng Fed tăng lãi suất đang gây áp lực lên tâm lý thị trường. Hoạt động đầu cơ gần như vắng bóng, các giao dịch chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực từ hoạt động giao dịch ngày 15/9 khi tổng khối lượng giao dịch tại các thành phố trọng điểm tăng 9,12% so với phiên trước, cho thấy nhu cầu thực tế có dấu hiệu cải thiện.

Nhu cầu hạ nguồn và tồn kho: Nhu cầu bất động sản, xây dựng chưa cải thiện; đầu tư bất động sản 8 tháng giảm 19,9%, diện tích khởi công mới giảm mạnh. Tồn kho thép cây giảm chủ yếu do sản lượng giảm; tồn kho HRC giảm chậm. Theo CISA, sản lượng gang và thép thô bình quân ngày của các nhà máy thành viên giảm 3% và 4% so với giữa tháng 8. Sản lượng thép thô tháng 8 giảm 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tồn kho vẫn tương đối cao.

Chính sách và can thiệp thị trường: Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc (CISA) đã ra lời kêu gọi các nhà sản xuất thép thực hiện kỷ luật tự giác trong việc hạn chế sản lượng và giảm tồn kho. CISA nhấn mạnh ngành thép đã bước vào giai đoạn "giảm lượng và tối ưu hóa", với đặc điểm "cung mạnh, cầu yếu, giá thấp, lợi nhuận yếu". CISA kêu gọi các doanh nghiệp thép tuân thủ nguyên tắc "tam định tam bất yếu" (ba xác định, ba không), kiên trì ưu tiên hiệu quả, tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, và giảm tồn kho cao. Đây là yếu tố hỗ trợ tâm lý thị trường trong ngắn hạn.

Phân hóa sản phẩm: Thép dài và HRC được hỗ trợ bởi chi phí và kỳ vọng mùa vụ, nhưng đà tăng bị hạn chế bởi nhu cầu. CRC/HDG tăng chậm hơn; thép tấm chịu áp lực từ cung dồi dào, cầu yếu. Thép hình duy trì xu hướng yếu do tồn kho cao và nhu cầu xây dựng chưa phục hồi.

Yếu tố quốc tế: Giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc và HRC tại EU, Mỹ tăng hỗ trợ giá xuất khẩu Trung Quốc; rào cản thương mại gia tăng gây áp lực lên khối lượng xuất khẩu. Căng thẳng Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải và rủi ro logistics. Cước vận tải cho các lô hàng phôi thép từ Trung Quốc đi Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng lên 50-55 USD/tấn. Thị trường Mỹ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung HRC, HDG, CRC và thép tấm, với thời gian giao hàng kéo dài, tạo cơ hội cho thép nhập khẩu.

Khuyến nghị: Thành viên thị trường duy trì thận trọng, giao dịch theo nhu cầu thực tế, tránh đuổi mua ở vùng giá cao. Theo dõi tiến trình chấp nhận vòng tăng cốc thứ năm và khả năng triển khai vòng tăng thứ sáu; diễn biến quặng sắt và phản ứng nhà máy; tốc độ giải phóng tồn kho; chính sách điều tiết nguyên liệu; tỷ giá NDT/USD; biện pháp bảo hộ thương mại. Đối với các nhà máy, cần cân nhắc kỹ chiến lược bảo trì và cắt giảm sản lượng để tránh thua lỗ sâu, đặc biệt trong bối cảnh CISA kêu gọi kiểm soát sản lượng.

Tổng thể: Giá thép Trung Quốc tháng 9 được dự báo tăng vừa phải, dư địa hạn chế. Nếu nhu cầu thực tế thấp hơn kỳ vọng, nhà máy có thể bảo trì nhiều hơn do thua lỗ, cắt giảm sản lượng sẽ làm suy yếu giá nguyên liệu và giảm hỗ trợ chi phí cho thép. Nếu nhà máy không tiếp tục cắt giảm sản lượng, dư địa tăng giá trong tháng 9 càng bị hạn chế. Thị trường đang trong giai đoạn không có xu hướng đơn phương rõ ràng, với các yếu tố hỗ trợ và áp lực đan xen.

Lưu ý: Thông tin trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn số liệu thị trường và nhận định của các thành viên tham gia thị trường, chỉ mang tính chất tham khảo, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.