Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 14/7/2026

Thị trường thép nội địa Trung Quốc tiếp tục chìm trong bầu không khí bi quan đậm đặc và chịu áp lực suy yếu trên diện rộng khi các xung lực vĩ mô hoàn toàn phai nhạt. Trên thị trường kỳ hạn, bảng điện tử liên tục lao dốc đơn phương, các hợp đồng chủ lực đóng cửa giảm sâu và thiết lập các mức đáy mới, tạo áp lực tâm lý nặng nề lên thị trường giao ngay. Áp lực tồn kho tích lũy cao và áp lực dòng vốn buộc các thương nhân phải chủ động giảm giá chào bán hoặc áp dụng các thao tác giảm giá ngầm để đẩy nhanh nhịp độ xuất hàng. Logic mùa thấp điểm truyền thống với các yếu tố thời tiết bất lợi như nắng nóng gay gắt và mưa bão lớn từ siêu bão Bavi và mùa mưa dầm tiếp tục bóp nghẹt các hoạt động thi công ngoài trời. Hệ quả là nhu cầu từ các ngành hạ nguồn sụp đổ, khối lượng giao dịch vật chất co hẹp nghiêm trọng. Trong khi đó, phía nguồn cung vẫn duy trì sản lượng ở mức cao dù các nhà máy thép quy trình dài và lò điện có xu hướng tăng cường bảo trì rải rác. Tình trạng thua lỗ diện rộng kéo dài tại các nhà máy thép đang kích hoạt áp lực giảm giá ngược lên thị trường nguyên liệu thượng nguồn nhằm tìm kiếm dư địa chống đỡ chi phí.

Thị trường thép trong nước

Thép xây dựng

Giá giao ngay và kỳ hạn: Giá bình quân toàn quốc của thép thanh vằn (rebar) đạt 3.210 NDT/tấn, ghi nhận mức giảm từ 9 – 10 NDT/tấn. Tại thị trường Thượng Hải, giá rebar giao tại kho giảm 20 NDT/tấn xuống còn 3.040 NDT/tấn, trong khi giá chào bán chính thống tại các thành phố lớn như Bắc Kinh dao động ở mức 3.050 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn). Tại khu vực Quảng Đông, giá các tài nguyên Shao-Xiang duy trì ổn định trong xu hướng yếu ở mốc 3.170 NDT/tấn; các thương hiệu Guang-Jin-Gang và Gui-Xin dao động khoảng 3.050 – 3.130 NDT/tấn. Tại Vũ Hán, giá rebar HRB400E Φ18mm giảm nhẹ 10 NDT/tấn, đưa sản phẩm Bảo Vũ Ngạc Cương và Bảo Vũ Vũ Cương về mức 3.170 NDT/tấn, Vũ Cương Hán Cương về mốc 3.140 NDT/tấn. Thị trường Hợp Phì ghi nhận giá sản phẩm Mã Cương ở mức 3.400 NDT/tấn, Bảo Vũ Trường Giang đạt 3.330 NDT/tấn và Mân Nguyên đạt 3.300 NDT/tấn. Khu vực Hàng Châu chứng kiến mức giảm đồng loạt 20 NDT/tấn, đưa giá rebar phi chống động đất Trung Thiên về mốc 3.080 NDT/tấn và Bình Cương kháng chấn đạt 3.050 NDT/tấn. Tại Khuê Đồn, rebar cấp 3 Φ22mm của Bát Cương giữ ổn định ở mức 3.020 NDT/tấn và Côn Ngọc đạt 3.000 NDT/tấn. Trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng rebar chủ lực tháng 10 (RB2610) giảm mạnh 32 NDT/tấn (tương đương -1,04%), chốt phiên ở mức 3.054 NDT/tấn, phá vỡ mức đáy cũ với mức thấp nhất trong phiên chạm 3.052 NDT/tấn.

Phôi thép (Billet): Giá phôi billet vuông phổ thông xuất xưởng tại các nhà máy thép chủ đạo ở Thiên An, Đường Sơn quay đầu giảm mạnh 20 NDT/tấn, chốt ở mức 2.950 NDT/tấn giao tại nhà máy (đã bao gồm thuế).

Yếu tố chi phí và Cung - Cầu: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc thuộc 224 doanh nghiệp kinh doanh tại 20 thành phố trọng điểm sụt giảm xuống còn 81.500 tấn (giảm 7,47% so với ngày giao dịch trước và co hẹp 19,46% so với tuần trước). Khảo sát tại các khu vực tiêu thụ lớn cho thấy sản lượng và lượng hàng về kho vẫn dồi dào do chi phí dừng sản xuất của các lò cao quy trình dài tại Hoa Đông ở mức cao, trong khi các lò điện chỉ bảo trì rải rác. Trái lại, phía cầu ghi nhận trạng thái đình trệ nghiêm trọng: lượng nguyên liệu nhập vào của các trạm trộn bê tông tại Hàng Châu giảm một nửa; tại Hợp Phì, mưa lớn do hoàn lưu bão khiến các công trường ngừng thi công hoàn toàn, khối lượng giao dịch của 12 thương nhân mẫu chỉ đạt 1.799 tấn (giảm mạnh 2.281 tấn). Tại Bắc Kinh, hoạt động xả hàng giá thấp của các đơn vị kỳ - hiện giúp lượng giao dịch mẫu tăng 1.960 tấn lên mức 5.810 tấn. Tại Vũ Hán, hoạt động bắt đáy nguồn hàng giá thấp đưa tổng khối lượng xuất hàng đạt 3.940 tấn (tăng 240 tấn). Do giá thép thành phẩm liên tục lao dốc trong khi giá quặng và than cốc vẫn ở mức cao, biên lợi nhuận của các nhà máy thép chịu áp lực thua lỗ mạnh, thúc đẩy xu hướng gia tăng bảo trì sản xuất.

Thép công nghiệp

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá bình quan quy cách 5.51500C tại 10 thành phố trọng điểm đạt 3.293 NDT/tấn (giảm 4 NDT/tấn so với ngày trước đó). Tại các kho giao ngay Thượng Hải, giá HRC sụt giảm 20 NDT/tấn xuống còn 3.290 NDT/tấn, giao dịch vật chất ảm đạm khi các công ty thương mại do dự ôm hàng do áp lực tồn kho cao. Tại Thiên An và Đường Sơn, giá bình quân HRC giảm 5 NDT/tấn xuống mốc 3.292 NDT/tấn. Trên sàn kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng HRC tháng 10 đóng cửa tại 3.272 NDT/tấn, giảm 0,64%, ghi nhận dòng vốn bán khống chiếm ưu thế và ép giá xuống mức thấp nhất phiên tại 3.270 NDT/tấn. Tổng khối lượng giao dịch tại 18 thành phố trọng điểm co hẹp rõ rệt. Nhà sản xuất hàng đầu Baosteel công bố tăng giá xuất xưởng các sản phẩm thép dẹt (bao gồm HRC) thêm 50 NDT/tấn cho lô hàng tháng 8 nhằm đón đầu kỳ vọng cắt giảm sản lượng.

Thép cuộn cán nguội (CRC) và Thép mạ: Thị trường thép mạ phủ vận hành ổn định chủ đạo nhưng phân hóa và suy yếu nhẹ. Giá bình quân thép tấm mạ kẽm 1.0mm tại các thành phố trọng điểm đạt 4.085 NDT/tấn (giảm nhẹ 1 NDT/tấn); giá bình quân thép tấm phủ màu 0.47mm giữ nguyên ở ngưỡng 5.416 NDT/tấn nhờ sự cứng cáp từ nhu cầu thiết yếu. Đối với thép cuộn (盤 螺) tại Bắc Kinh, giá giảm 10 NDT/tấn xuống còn 3.430 NDT/tấn, kéo chênh lệch giá thép thanh - thép cuộn về mức 380 NDT/tấn. Tại Hàng Châu, giá thép cuộn phi chống động đất Trung Thiên đạt 3.350 NDT/tấn và Bình Cương kháng chấn đạt 3.290 NDT/tấn (đều giảm 20 NDT/tấn). Tại Khuê Đồn, thép cuộn cấp 3 Φ8-10mm của Bát Cương ổn định ở mức 3.270 NDT/tấn, Côn Ngọc đạt 3.250 NDT/tấn. Lực hỗ trợ chi phí cho dòng sản phẩm này lỏng lẻo khi giá nguyên liệu cơ sở cán nguội tại Đường Sơn quay đầu giảm giá.

Nguyên liệu đầu vào và Phế: Thị trường quặng sắt nội địa duy trì ổn định với bột quặng axit 66% tại Đường Sơn đạt 775 NDT/tấn, bột quặng axit 65%-66% tại Kiến Bình đạt 737 NDT/tấn và tại Truy Bác đạt 742 NDT/tấn (tăng nhẹ 1 NDT/tấn). Tại các cảng nhập khẩu, giá quặng sắt bột PB tại cảng Kinh Đường giảm nhẹ 2 NDT/tấn xuống mức 718 NDT/tấn. Giá than cốc luyện kim chuẩn loại 1 tại Đường Sơn đi ngang ở ngưỡng 1.885 NDT/tấn; tuy nhiên, đợt tăng giá lần thứ 10 hoàn toàn thất bại và thị trường xuất hiện áp lực đòi giảm giá thu mua từ phía nhà máy thép, trong khi giá than luyện kim loại lưu huỳnh cao tại Liễu Lâm đã giảm mạnh 52 NDT/tấn. Đối với phế liệu, chỉ số giá cơ sở lưu thông thép phế liệu tăng nhẹ 1 điểm lên mức 2.063 NDT/tấn, với phế nặng đạt 2.043 NDT/tấn và phế vụn đạt 2.083 NDT/tấn. Giá chào bán thép phế liệu nặng tại Đường Sơn duy trì ở mốc 2.030 NDT/tấn và tại Trương Gia Cảng đạt 2.080 NDT/tấn. Phía cung phế liệu thu hẹp do thời tiết nắng nóng, mưa bão cản trở thu gom ngoài trời và tình trạng thiếu hụt hóa đơn phổ biến.

Thị trường xuất khẩu

Thép dài và Phôi thanh: Giá xuất khẩu thép dài duy trì xu hướng yếu do giao dịch trì trệ. Chỉ số giá rebar xuất khẩu FOB Trung Quốc đi ngang ở mức 474 USD/tấn (trọng lượng lý thuyết). Giá rebar xuất khẩu tại các thành phố lớn dao động trong khoảng 3.040 – 3.080 NDT/tấn (448 – 454 USD/tấn). Một nhà máy tại Bắc Trung Quốc đã hạ giá chào rebar mác B500B xuống 1 USD/tấn, còn 484 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết), trong khi giá chào cho mác HRB400 đạt 473 USD/tấn FOB và cuộn gân HRB400 đạt 518 USD/tấn FOB. Áp lực giảm giá tăng mạnh khi các nhà mua nước ngoài chỉ kỳ vọng đặt hàng rebar quanh mức 470 – 475 USD/tấn FOB. Chỉ số giá cuộn trơn xuất khẩu giảm 1 USD/tấn xuống còn 497 USD/tấn FOB. Các nhà máy vùng Đông Trung Quốc chào giá cuộn trơn SAE1008 ở mức 525 USD/tấn FOB và hàm lượng carbon cao ở mức 530 USD/tấn FOB, trong khi nhà máy Bắc Trung Quốc hạ giá chào SAE1008 xuống còn 506 USD/tấn FOB. Cạnh tranh quốc tế gia tăng khi nhà máy Indonesia giảm giá chào cuộn trơn SAE1008 lô hàng tháng 9 xuống còn 485 USD/tấn FOB (thấp hơn hàng Trung Quốc từ 15 – 20 USD/tấn). Giá chào phôi thép từ thương nhân Trung Quốc ước tính lùi về 455 – 456 USD/tấn FOB để bám sát giá nội địa, trong khi Indonesia chào phôi 3sp sang Đông Nam Á ở mức 460 USD/tấn FOB.

Thép dẹt (HRC, CRC, HDG) và Thép tấm: Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc giảm 2 USD/tấn xuống mức 483 USD/tấn FOB Trung Quốc do chênh lệch cung cầu lớn. Các nhà máy lớn chào HRC mác SS400 ở mức 495 – 500 USD/tấn FOB, các đơn vị tư nhân chào mác Q235 và Q195 ở ngưỡng 485 – 490 USD/tấn FOB, một công ty thương mại vùng Đông Trung Quốc chào mác Q235 ở các mức giá phân hóa 479 NDT/tấn, 487 USD/tấn và 496 USD/tấn FOB. Phía người mua nước ngoài ép giá sâu ở mốc 470 USD/tấn FOB đối với mác Q235 và Q195. Tại thị trường Đông Nam Á, giá HRC tại ASEAN giảm 2 USD/tấn xuống 523 USD/tấn CFR. Tại Việt Nam, nhu cầu ảm đạm buộc một nhà sản xuất nội địa giảm giá tới 12 USD/tấn, đưa giá HRC mác SAE1006 giao trong nước về mức 526 – 529 USD/tấn CIF (hoặc 512,50 USD/tấn FOB và 527,50 USD/tấn CIF); tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu từ Ấn Độ và Indonesia (vốn chào mác SAE1006 ở mức 525 – 531 USD/tấn CFR tuần trước). Các nhà cung cấp Indonesia đã chủ động hạ giá chỉ định xuống 518 – 520 USD/tấn CFR Việt Nam đối với mác SS400 và SAE1006 (phụ phí 10 USD/tấn cho độ dày 2mm). Giá chào mác SAE1006 từ Ấn Độ duy trì ở mức 505 USD/tấn FOB Ấn Độ (tương đương 530 – 535 USD/tấn CFR Việt Nam). Đối với các sản phẩm khác, giá chào xuất khẩu thép tấm mác SS400 từ Đông Trung Quốc dao động từ 533 – 560 USD/tấn FOB, giá thép mạ kẽm nhúng nóng mác SGCC đạt 560 USD/tấn FOB.

Triển vọng thị trường

Thép xây dựng: Thị trường ngắn hạn dự kiến duy trì xu hướng vận hành theo hướng yếu và tiếp tục giảm nhẹ do áp lực lan truyền từ bảng điện tử kỳ hạn chưa xuất hiện tín hiệu dừng giảm. Mặc dù các chính sách kiểm soát tổng lượng, cắt giảm sản lượng theo định hướng thị trường và hạn chế sản xuất theo giai đoạn tại Đường Sơn mang lại kỳ vọng co hẹp nguồn cung, hỗ trợ phần nào giá đáy, nhưng mâu thuẫn cơ bản từ phía cầu suy yếu trong mùa thấp điểm nắng nóng và mưa bão sẽ kìm hãm hoàn toàn động lực phục hồi. Thị trường chủ yếu vận hành thận trọng dò đáy trong biên độ hẹp.

Thép công nghiệp: Đối với mặt hàng HRC và thép dẹt nói chung, giá thị trường được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng biến động yếu trong phạm vi hẹp. Logic mùa thấp điểm về cung cầu quay trở lại chiếm ưu thế chủ đạo khi sản lượng phía nguồn cung duy trì ở mức cao và áp lực tồn kho hiện hữu. Sự suy yếu cơ cấu từ ngành sản xuất hạ nguồn (sản lượng và doanh số xe du lịch tháng 6 giảm lần lượt 2,8% và 5,3% so với cùng kỳ) phản ánh nhu cầu tiêu thụ nội địa tiếp tục chịu áp lực. Thêm vào đó, việc thắt chặt quy định nhập khẩu thép của EU gây rủi ro hạn chế kênh xuất khẩu. Giá thép ngắn hạn khó có cơ hội bứt phá và sẽ tiếp tục điều chỉnh tích lũy quanh đường đáy chi phí biên.