Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TQ ngày 13/7/2026

Thị trường thép nội địa Trung Quốc ghi nhận trạng thái bế tắc và đi ngang trên diện rộng khi tâm lý lạc quan từ phiên trước nhanh chóng hạ nhiệt. Trên thị trường kỳ hạn, các hợp đồng tương lai biến động trong biên độ hẹp với mức tăng giảm không đáng kể. Áp lực tồn kho xã hội và tại các nhà máy tiếp tục đè nặng lên thị trường, trong khi nguồn cung vẫn ở mức cao và tốc độ cắt giảm sản lượng do bảo trì diễn ra chậm hơn kỳ vọng. Do đang trong mùa thấp điểm chịu ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết cực đoan như nắng nóng và mưa lũ, sức mua từ các ngành hạ nguồn suy yếu mạnh. Hệ quả là khối lượng giao dịch hiện vật sụt giảm nghiêm trọng, thử thách mạnh mẽ khả năng duy trì biên lợi nhuận của các doanh nghiệp thương mại khi phần lớn các nhà máy thép đều rơi vào trạng thái thua lỗ.

Thị trường thép trong nước

Thép xây dựng

Giá giao ngay và kỳ hạn: Giá bình quân thép thanh vằn (rebar) toàn quốc ổn định ở mức 3.219 NDT/tấn. Tại thị trường Thượng Hải, giá rebar giao tại kho giữ mức ổn định 3.060 NDT/tấn, trong khi giá thị trường nội địa tại các thành phố lớn dao động trong khoảng 3.050 – 3.100 NDT/tấn. Trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng rebar chủ lực tháng 10 giảm nhẹ 2 NDT/tấn, chốt phiên ở mức 3.087 NDT/tấn.  

Phôi thép (Billet): Giá phôi billet Đường Sơn giữ nguyên ở mức 2.970 NDT/tấn giao tại nhà máy. Biên lợi nhuận của các nhà máy sản xuất thép hình bị thu hẹp đáng kể từ 10 – 20 NDT/tấn do tốc độ tăng giá thành phẩm thấp hơn giá phôi. Khối lượng xuất hàng thép hình tại các nhà máy cán lại khu vực Đường Sơn đạt 18 vạn tấn, chủ yếu đến từ các hoạt động đầu cơ bổ sung kho theo kỳ vọng từ sàn tương lai, không xuất phát từ nhu cầu thực. Tồn kho tại các nhà máy thép hình đạt mức cao 2,037 triệu tấn.  

Yếu tố chi phí và Cung - Cầu: Khối lượng giao dịch vật liệu xây dựng toàn quốc duy trì ở mức thấp, đạt 9,40 vạn tấn đối với 224 doanh nghiệp thương mại tại 20 thành phố trọng điểm. Lượng tiêu thụ rebar hàng tuần giảm từ 2,4 triệu tấn (giữa tháng 5) xuống 1,9 triệu tấn (đầu tháng 7), trong khi sản lượng giảm nhẹ từ 2,1 – 2,2 triệu tấn xuống còn 2 – 2,1 triệu tấn, đẩy tồn kho rebar toàn quốc lên mức 7 triệu tấn. Mưa lớn và nhiệt độ cao tiếp tục làm gián đoạn tiến độ thi công ngoài trời. Hơn một nửa số nhà máy thép rebar Trung Quốc hiện đang hoạt động thua lỗ do chi phí nguyên vật liệu cao và giá thép yếu.  

Thép công nghiệp

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá HRC giao tại kho Thượng Hải giữ ổn định ở mốc 3.310 NDT/tấn trong bối cảnh giao dịch trên thị trường vật chất khá ảm đạm. Trên sàn kỳ hạn Thượng Hải, hợp đồng HRC tháng 10 đóng cửa tại 3.291 NDT/tấn, giảm 0,18%. Tổng khối lượng xuất hàng trong ngày của các đại lý lớn tại 18 thành phố trọng điểm đạt khoảng 49.200 tấn (giảm 3.340 tấn); trong đó Đường Sơn đạt 3.950 tấn và Vô Tích đạt 3.300 tấn. Biên lợi nhuận mặt hàng HRC dao động quanh điểm hòa vốn.

 Thép cuộn cán nguội (CRC) và Thép mạ: Giá bình quân thép cuộn cán nguội quy cách 1.0mm toàn quốc đạt 3.755 NDT/tấn, ghi nhận sự phân hóa hẹp tại các trung tâm giao dịch: Thượng Hải đạt 3.700 NDT/tấn (giảm 10 NDT/tấn), Thiên Tân đạt 3.640 NDT/tấn (tăng 10 NDT/tấn) và Quảng Châu ổn định ở mức 3.720 NDT/tấn. Do giá thép thành phẩm yếu và chi phí nguyên vật liệu cao, scissor difference (chênh lệch kéo) giữa chỉ số PPI (tăng 4,1%) và CPI (tăng 1,0%) tiếp tục gây áp lực trực tiếp lên biên lợi nhuận của các nhà máy.  

Nguyên liệu đầu vào và Phế: Giá quặng sắt bột PB tại cảng Kinh Đường tăng nhẹ 3 NDT/tấn lên mức 720 NDT/tấn; giá than cốc luyện kim loại chuẩn tại Đường Sơn giữ nguyên ở ngưỡng 1.885 NDT/tấn. Sự phản đối của các nhà máy thép trước đà tăng chi phí đã khiến việc thực hiện đợt tăng giá than cốc lần thứ 10 tiếp tục bị trì hoãn. Đối với phế liệu, giá thép phế nặng tại Giang Âm và Thanh Đảo đồng loạt giảm 20 NDT/tấn xuống lần lượt là 2.100 NDT/tấn và 2.025 NDT/tấn; khu vực Đường Sơn ổn định ở mức 2.030 NDT/tấn. Thời tiết bất lợi cản trở hoạt động thu gom, khiến lượng hàng về nhà máy không đạt kỳ vọng.  

Thị trường xuất khẩu

Thép dài và Phôi thanh: Giá chào xuất khẩu thép dài chịu áp lực giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ tại Đông Nam Á thấp. Chỉ số giá rebar FOB Trung Quốc ổn định ở mức 474 USD/tấn FOB (trọng lượng lý thuyết); tuy nhiên giá chào bán sang Singapore giảm xuống mức dưới 500 USD/tấn CFR (trọng lượng lý thuyết) và sang Hồng Kông đạt 500 – 505 USD/tấn CFR (trọng lượng thực tế). Giá xuất khẩu thép cuộn trơn giảm 1 USD/tấn xuống còn 498 USD/tấn FOB. Các nhà máy lớn duy trì giá chào mặt hàng này ở mức 505 – 515 USD/tấn FOB cho lô hàng tháng 8, song một số đơn vị sẵn sàng xả hàng ở mức 500 USD/tấn FOB do lượng đơn đặt hàng chậm kể từ tháng 6.  

Thép dẹt (HRC, CRC, HDG) và Thép tấm: Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc ổn định ở mức 485 USD/tấn FOB Trung Quốc. Các nhà máy nhỏ chào bán mác SS400 và Q235 ở ngưỡng 485 USD/tấn FOB, trong khi các nhà máy lớn ngần ngại nhận đơn dưới 490 USD/tấn FOB. Giá tham khảo mác Q235 đạt 485 USD/tấn FOB và SS400 đạt 490 USD/tấn FOB. Một số thương nhân chào giá Q235 ở mức 505 – 510 USD/tấn CFR Việt Nam nhưng không thu hút được người mua do giá kỳ vọng của khách hàng chỉ đạt 520 USD/tấn CFR hoặc thấp hơn. Giá chào xuất khẩu thép tấm thương mại mác SS400 độ dày 12–20mm giảm xuống mức 525 USD/tấn FOB Trung Quốc. Giá tham khảo CRC mác SPCC dao động trong khoảng 547,50 – 550 USD/tấn FOB; thép mạ mác SGCC đạt từ 560 – 590 USD/tấn FOB. Đối với phôi slab châu Á, giá FOB hàng tuần giảm 10 USD/tấn xuống còn 470 USD/tấn, giá tham khảo nguồn Trung Quốc ước tính ở mức 465 – 470 USD/tấn FOB.

Triển vọng thị trường

Thép xây dựng: Thị trường thép xây dựng ngắn hạn dự kiến duy trì trạng thái rung lắc và có xu hướng yếu đi. Việc các nhà máy thép chủ động tăng cường bảo trì dây chuyền cán và giảm sản lượng gang lỏng (sản lượng thép thô giai đoạn cuối tháng 6 đã giảm 3,6% xuống 2,024 triệu tấn/ngày) sẽ thắt chặt nhẹ nguồn cung. Tuy nhiên, mâu thuẫn cung - cầu vẫn gay gắt khi lượng tích lũy tồn kho xã hội tại 29 thành phố đã tăng lên mức 11,0069 triệu tấn. Sự cản trở của siêu bão Bavi và các yếu tố thời tiết mùa lũ tại miền Nam sẽ tiếp tục bóp nghẹt nhu cầu thực (xuất), kìm hãm hoàn toàn cơ hội hồi phục giá.  

Thép công nghiệp: Đối với mặt hàng HRC và thép dẹt nói chung, thị trường dự kiến tiếp tục dao động trong biên độ hẹp và điều chỉnh tích lũy. Biên lợi nhuận của các nhà máy nằm sát đường chi phí biên sẽ đóng vai trò là ngưỡng hỗ trợ cứng ngăn chặn rủi ro giảm sâu. Mặc dù vậy, sự suy yếu theo mùa của khối hạ nguồn ô tô, thiết bị gia dụng và kết cấu thép, kết hợp với các rào cản từ cuộc điều tra chống bán phá giá tại các thị trường xuất khẩu lớn (như Hàn Quốc, EU, Việt Nam) sẽ kìm hãm động lực bứt phá đơn biên của thành phẩm công nghiệp.