Giá thép chịu áp lực biến động giảm do rơi vào mùa thấp điểm truyền thống kết hợp với các điều kiện thời tiết bất lợi như nắng nóng và mưa kéo dài. Sự suy giảm lực cầu từ các khối hộ tiêu thụ hạ nguồn dẫn đến tốc độ giải phóng hàng chậm và kích hoạt trạng thái tích lũy tồn kho trên diện rộng. Mặc dù nền tảng chi phí sản xuất (giá nguyên liệu đầu vào) neo cao cung cấp bệ đỡ kỹ thuật nhẹ, song thị trường nhìn chung vẫn chịu sự chi phối chủ đạo từ cấu trúc cung - cầu yếu và tâm lý thận trọng từ các nhà giao dịch.
Thị trường thép trong nước
Thép xây dựng
Tồn kho & Thị trường: Tổng khối lượng tồn kho toàn thị trường ghi nhận ở mức 5,6509 triệu tấn. Trong đó, tồn kho thép thanh (rebar) tại 35 thành phố lớn đạt 4,9683 triệu tấn (tăng 96.900 tấn); tồn kho thép cuộn trơn (wire rod) đạt 682.600 tấn (tăng 43.500 tấn). Thị trường duy trì trạng thái cung - cầu yếu, các yếu tố cơ bản xác lập thế cân bằng mong manh, tâm lý ảm đạm và xuất hiện áp lực xả hàng. Giá thép cây chịu động đất cấp III bình quân tại 31 thành phố lớn đạt 3.280 nhân dân tệ/tấn (giảm 5 nhân dân tệ/tấn) và chỉ số thép cây tính bằng USD tại Thượng Hải giảm 0,16% xuống 461,3. Giá thép xây dựng giao ngay nội địa dịch chuyển theo xu hướng biến động giảm và liên tục chạm mức thấp kỷ lục trong năm.
Kỳ hạn: Trên sàn giao dịch, hợp đồng tương lai thép thanh cốt thép chính đóng cửa phiên đêm ở mức 3.077 (tăng 0,39%), khối lượng giao dịch mở đạt 2,0862 triệu lô (giảm 0,49 triệu lô).
Phôi thép: Giá phôi thép vuông cacbon thông thường tại Đường Sơn phục hồi nhẹ vào cuối tuần lên 2.960 NDT/tấn (+20 NDT/tấn). Tuy nhiên, giao dịch thực tế tại kho trong sáng nay yếu, giá giao ngay quay đầu giảm 10 NDT/tấn, dao động trong khoảng 2.990–3.000 NDT/tấn. Thị trường thép thành phẩm từ phôi duy trì ổn định nhưng khối lượng giao dịch thấp.
Thép công nghiệp
Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá bình quân toàn quốc đạt 3.809 NDT/tấn (giảm 4 NDT/tấn), thanh khoản giao ngay ảm đạm. Do thời tiết nắng nóng và mưa kéo dài, tiến độ thi công hạ tầng và sản xuất hạ nguồn bị đình trệ, gây áp lực dư thừa tồn kho tập trung mạnh nhất tại miền Bắc. Lượng chế biến HRC hàng tuần (25/6 - 3/7) đạt 716.100 tấn, tăng 6,58% so với tuần trước nhưng sụt giảm 20,43% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính đến ngày 2/7, tồn kho HRC tại 33 thành phố lớn đạt 3,5835 triệu tấn (+88.100 tấn) và tại 55 thành phố lớn đạt 4,6757 triệu tấn (+83.800 tấn).
Thép cuộn cán nguội (CRC) & Thép dải: Giá CRC nội địa dịch chuyển giảm lũy kế 30–60 nhân dân tệ/tấn dưới áp lực kép từ suy thoái chi phí và nhu cầu yếu. Nền tảng chi phí giảm do giá giao ngay HRC nền giảm 40 nhân dân tệ/tấn xuống còn 3.200 nhân dân tệ/tấn vào cuối tuần. Biên lợi nhuận gia công CRC của các nhà máy thép quy trình dài (BF) tiếp tục âm. Dù vậy, nguồn cung vẫn dồi dào do tỷ lệ sử dụng công suất cán nguội toàn quốc đạt 84,3%, sản lượng duy trì 870.000 – 880.000 tấn/tuần. Đối với thép dải, giá thép dải cán nóng (2,5*355mm) giảm 5 NDT/tấn xuống còn 3.267 NDT/tấn, giao dịch chậm.
Thị trường xuất khẩu
Khối lượng xuất khẩu CRC có tính hồi phục về mặt kỹ thuật nhờ các đơn hàng từ khối cơ khí sản xuất máy móc, phần cứng và đồ dùng nhà bếp. Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu nhìn chung còn hạn chế và không đủ bù đắp cho sự sụt giảm tiêu thụ của thị trường nội địa.
Triển vọng
Vĩ mô & Chỉ số: Chỉ số Giá Hàng hóa Vận tải Hàng rời (CFLP) tháng 6 đạt 130,3 điểm (giảm 1,7% so với tháng trước; tăng 17,6% so với cùng kỳ), phản ánh sự giảm bớt căng thẳng địa chính trị, kỳ vọng lãi suất Fed và ảnh hưởng mùa thấp điểm. Trong nhóm hàng rời, than cốc ghi nhận tăng trưởng giá mạnh nhất (+20,3%). Trên thị trường dầu thô thế giới, giá dầu WTI tăng nhẹ 0,13% lên mức 68,78 USD/thùng.
Dự báo ngắn hạn:
Thép xây dựng: Biên độ biến động của thị trường dự kiến sẽ duy trì ở mức thấp do xu hướng thắt chặt sản lượng từ phía nhà máy kết hợp lực cầu hạ nguồn yếu. Giá thép xây dựng được dự báo sẽ đi ngang và biến động ở vùng đáy ngắn hạn trong tuần mới do không chịu áp lực lớn về nguồn cung mới.
Thép công nghiệp: Giá HRC dự kiến sẽ thiết lập trạng thái đi ngang, dao động trong biên độ hẹp ngắn hạn nhờ sự đan xen giữa bệ đỡ chi phí và áp lực suy thoái sức mua. Đối với CRC, giá thành phẩm tiếp tục biến động trong biên độ hẹp và giảm nhẹ do chịu áp lực trực tiếp từ mùa thấp điểm. Lực cầu từ khối sản xuất ô tô (OEM giảm lịch sản xuất, khối phụ tùng mua nhỏ giọt) và khối điện gia dụng (sản lượng tháng 6 giảm 11,8% so với cùng kỳ) duy trì ở mức đáy. Sức mua yếu và áp lực tích lũy tồn kho xã hội sẽ kìm hãm đà phục hồi, khiến thị trường khó có khả năng đảo chiều tổng thể.

