Để sử dụng Satthep.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Satthep.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Dự báo thị trường TG ngày 15/7/2026

THỊ TRƯỜNG THÉP DẸT

Khu vực Châu Âu (EU)

Thép cuộn cán nóng (HRC): Giá giao dịch nội địa tiếp tục giảm nhẹ do hoạt động mua hàng yếu ớt và tâm lý do dự đặt hàng của người mua. Chỉ số HRC hàng ngày tại Tây Bắc Âu giảm xuống còn 703,5 EUR/tấn xuất xưởng, trong khi tại Ý giảm xuống 701,25 EUR/tấn xuất xưởng. Tại Bắc Âu, một trung tâm dịch vụ ghi nhận giá chào hàng ở mức 704 EUR/tấn cơ sở giao hàng cho sản xuất tháng 9 nhưng chọn cách trì hoãn mua hàng và nhắm tới mức giá mục tiêu 700 EUR/tấn. Ở thị trường miền Nam (Tây Ban Nha), HRC đã xuất hiện ở mức 690 - 700 EUR/tấn cơ sở giao hàng nhưng hiện không còn khả dụng. Trên kênh nhập khẩu, các nhà cung cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ có giá chào thấp hơn nhiều do áp lực hạn ngạch. Giá hàng Ấn Độ đạt khoảng 650 USD/tấn CFR Nam Âu, trong khi hàng Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 580 USD/tấn FOB cho lô lớn và tối đa 600 USD/tấn FOB. Một nhà cung cấp từ Việt Nam chào giá 730 - 735 USD/tấn CIF Nam Âu nhưng hiện không còn tích cực chào bán. Hàng Nhật Bản chào ở mức 720 - 740 EUR/tấn DDP nhưng không khả thi do ngang bằng hoặc cao hơn giá nhà máy EU.

Thép mạ kẽm (HDG) và Thép cán nguội (CRC): Nguồn cung giao ngay bị thắt chặt do ảnh hưởng từ hệ thống hạn ngạch mới của EU. Hạn ngạch HRC và HDG của Thổ Nhĩ Kỳ đã cạn kiệt nhanh chóng, kéo theo lượng hàng chờ thông quan đọng tại cảng tăng cao (hàng chờ thông quan HRC Thổ Nhĩ Kỳ đạt 376.570 tấn, HDG 4A đạt 118.593 tấn tính đến ngày 10/07). Đối với hàng nhập khẩu cán nguội, sản phẩm tẩy gỉ và bôi dầu của Hàn Quốc được chào ở mức 760 EUR/tấn DDP cho kỳ hạn giao hàng quý cuối năm hoặc quý 1/2027.

Thị trường Ukraine: Xuất khẩu thép cuộn cán nóng và cán nguội trong tháng 6 sụt giảm mạnh 18% so với tháng trước, xuống còn 89.100 tấn. Nguyên nhân chính là do hạn chế từ hạn ngạch thuế quan mới của EU có hiệu lực từ 1/7 (giới hạn riêng cho Ukraine khoảng 483.700 tấn/năm, tương đương dưới 40% sản lượng xuất khẩu năm 2025). Nhà sản xuất Metinvest đã phải chủ động giảm khối lượng xuất khẩu sang EU trong tháng 6 để làm chậm tốc độ sử dụng hạn ngạch cụ thể của quốc gia (hạn ngạch quý 3 là 120.900 tấn).

Khu vực Mỹ

Nền giá các sản phẩm thép dẹt (HRC, CRC, HDG và Thép tấm): Tiếp tục xu hướng tăng vững chắc do nguồn cung giao ngay bị thắt chặt. Giá HRC nội địa xuất xưởng tăng mạnh lên mức 1.165 USD/st. Nhà sản xuất Nucor tăng giá niêm yết HRC thêm 5 USD/st lên mức 1.135 USD/st (riêng California Steel Industries tăng lên 1.185 USD/st) để ngăn chặn hàng nhập khẩu. Thời gian giao hàng trung bình đạt 7,4 tuần. Trong khi đó, giá chào nhập khẩu HRC vào Mỹ giảm 20 USD/st xuống mức 1.040 USD/st DDP Houston.  

Đối với nhóm sản phẩm mạ và cán nguội, giá cán nguội (CRC) xuất xưởng tăng nhẹ lên 1.363,75 USD/st, thời gian giao hàng đạt 8,5 tuần. Giá thép HDG cán nguội tăng lên 1.365,75 USD/st. Thép HDG cán nóng tăng vọt 16,75 USD/st lên mức 1.366 USD/st.  

Giá thép tấm (Plate) giữ nguyên ở mức 1.320 USD/st (giao hàng) và 1.290 USD/st (xuất xưởng) trong bối cảnh thời gian giao hàng kéo dài tới 12 tuần do các đợt dừng sản xuất bảo trì.  

Khu vực Châu Á và các thị trường khác

Đông Nam Á (đặc biệt là Việt Nam): Giá HRC tại ASEAN giảm 2 USD/tấn xuống mức 521 USD/tấn CFR Việt Nam do nhu cầu ảm đạm. Nhà sản xuất nội địa Việt Nam giảm giá tới 12 USD/tấn cho các khách hàng lớn, đưa giá HRC giao trong nước về mức 526 - 529 USD/tấn CIF. Điều này ép trực tiếp lên phân khúc nhập khẩu. Nhà cung cấp Indonesia giảm giá chỉ định xuống 518 - 520 USD/tấn CFR Việt Nam đối với mác SS400 và SAE1006 (phụ phí 10 USD/tấn cho độ dày 2mm). Mức giá chỉ định cho mác SAE1006 của Ấn Độ ước tính khoảng 505 - 510 USD/tấn FOB Ấn Độ (tương đương 530 - 535 USD/tấn CFR Việt Nam) nhưng không ghi nhận giao dịch.

Ấn Độ: Nhu cầu nội địa hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn tăng giá kéo dài và chịu áp lực mùa mưa bão. Hai nhà sản xuất lớn nhất là JSW Steel và Tata Steel đều báo cáo sản lượng thô hàng quý (tháng 4 - tháng 6) sụt giảm, lần lượt đạt 6,35 triệu tấn (giảm 10% so với cùng kỳ) và 5,82 triệu tấn (giảm 6% so với quý trước). Ngược lại, xuất khẩu thép thành phẩm tháng 6 của Ấn Độ phục hồi mạnh lên mức 616.000 tấn (tăng 21% so với tháng trước) do các nhà máy đẩy mạnh bán HRC sang Trung Đông, Việt Nam và chạy đua xuất khẩu sang EU trước khi hạn ngạch tự vệ mới áp dụng.

Thị trường Gang thỏi (Pig iron) và Brazil: Xuất khẩu gang của Brazil trong tháng 6 giảm 15% so với cùng kỳ xuống còn 301.665 tấn do lượng xuất khẩu sang Mỹ sụt giảm 37,5% trước rủi ro áp thuế Mục 301 (lên tới 37,5%). Tuy nhiên, các nhà sản xuất Brazil đã chuyển hướng thành công một phần sản lượng sang thị trường châu Âu (xuất khẩu sang Ý đạt 45.422 tấn và Hà Lan đạt 37.502 tấn so với mức bằng không của năm ngoái) nhờ ưu thế dấu chân carbon thấp.

---

THỊ TRƯỜNG THÉP DÀI

Khu vực Châu Âu (EU) & Thổ Nhĩ Kỳ

Thành phẩm xây dựng (Rebar & Wire rod): Giá thép cây (rebar) nội địa Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục suy yếu, giảm 1,50 USD/tấn xuống còn 565 USD/tấn xuất xưởng (chưa VAT) do giao dịch trầm lắng trước kỳ nghỉ lễ. Các nhà máy tại Izmir và Iskenderun chào giá dao động từ 559 - 565 USD/tấn xuất xưởng, trong khi khu vực Marmara giữ mức 575 USD/tấn xuất xưởng. Chi phí năng lượng tăng cao trong mùa hè kết hợp tỷ lệ sử dụng công suất thấp đang ép chặt biên lợi nhuận của nhà sản xuất. Trên kênh xuất khẩu, giá chào thép cây ổn định ở mức 567,50 USD/tấn FOB. Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận một lô hàng thép cuộn trơn 5.000 tấn xuất sang Romania ở mức 580 USD/tấn FOB thông qua việc tiếp cận hạn ngạch còn lại của EU.  

Thị trường Phế liệu nhập khẩu Thổ Nhĩ Kỳ: Rơi vào trạng thái bế tắc và thanh khoản thấp. Giá giao dịch HMS 1&2 (80:20) từ vùng Baltic tuần trước được ghi nhận ở mức 362,5 USD/tấn CFR. Giá đánh giá hàng ngày đối với HMS 1&2 (80:20) từ Bờ Đông Hoa Kỳ giảm thêm 1 USD/tấn xuống còn 370 USD/tấn CFR Thổ Nhĩ Kỳ do các nhà máy thép Thổ Nhĩ Kỳ ép giá để bù đắp khó khăn tiêu thụ thép thành phẩm.

Xu hướng nguyên liệu thay thế tại Thổ Nhĩ Kỳ: Các nhà máy Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ việc nhập khẩu gang thỏi và HBI/DRI giá rẻ để tối ưu chi phí. Trong 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu gang thỏi đạt 1,1 triệu tấn (tăng 14,4%), nhập khẩu HBI/DRI tăng vọt 70,9% đạt hơn 1 triệu tấn. Nga củng cố vị thế thống trị tuyệt đối khi chiếm 88% thị phần cung cấp gang thỏi và 65,3% thị phần cung cấp HBI/DRI cho Thổ Nhĩ Kỳ.

Khu vực Châu Á và các thị trường khác

 

Thép dài châu Á (rebar và cuộn trơn): Hoạt động giao dịch vô cùng trì trệ. Giá chào phôi thép xuất khẩu của Indonesia giảm 5 USD/tấn xuống 460 USD/tấn FOB. Giá phôi nội địa tại Đường Sơn giảm xuống 2.950 NDT/tấn. Trên thị trường xuất khẩu, giới thương nhân dự báo giá chào phôi thép từ Trung Quốc sẽ phải hạ về mức 455 - 456 USD/tấn FOB để bám sát giá nội địa. Đối với thép cuộn trơn, một nhà máy Indonesia giảm giá chào lô hàng tháng 9 xuống còn 485 USD/tấn FOB (thấp hơn hàng Trung Quốc 15 - 20 USD/tấn).

Thị trường Trung Đông (GCC): Tại UAE, điều kiện thanh khoản trong lĩnh vực xây dựng bị thắt chặt nghiêm trọng do hoạt động bất động sản nhà ở suy giảm (giá trị giao dịch nhà ở hình thành trong tương lai giảm 12% và nhà ở sẵn có giảm 25% trong nửa đầu năm 2026). Sự đình trệ dòng vốn làm chậm thanh toán cho các nhà thầu, trực tiếp bóp nghẹt nhu cầu tiêu thụ thép dài. Các nhà phân phối thép chỉ mua hàng theo nhu cầu dự án thực tế ngắn hạn và kiên quyết từ chối các đợt tăng giá từ nhà máy để bảo toàn tiền mặt thay vì tích trữ tồn kho.

---

DỰ BÁO XU HƯỚNG THÉP THẾ GIỚI HẰNG NGÀY

Xu hướng định giá ngắn hạn chịu áp lực kép: Thị trường thép thành phẩm thế giới hàng ngày duy trì trạng thái suy yếu hoặc biến động đi ngang trong biên độ hẹp. Áp lực đè nặng từ phía cầu do tính chu kỳ mùa thấp điểm: mùa nghỉ hè sắp bắt đầu tại châu Âu và Mỹ làm giảm hoạt động giao dịch; mùa mưa bão lớn tại Đông Nam Á và Trung Quốc trực tiếp làm gián đoạn thi công công trường và làm suy sụp nhu cầu tiêu thụ hiện vật.  

Đệm đỡ từ chi phí năng lượng và nguyên liệu thô: Đà giảm sâu của giá thép thành phẩm hàng ngày tạm thời được kìm hãm nhờ sự kháng cự từ chi phí đầu vào. Giá quặng sắt mịn 62% Fe của Úc giảm nhẹ xuống 99 USD/tấn CFR do mâu thuẫn cung cầu; tuy nhiên, giá than luyện cốc cao cấp của Úc giảm mạnh 8 USD/tấn xuống còn 231 USD/tấn FOB do sức mua kém tại châu Á. Ngược lại, tại Nga, giá phế liệu nội địa tiếp tục tăng nhanh trên diện rộng (tăng 1.000 - 2.500 RUB/tấn tùy khu vực) do các nhà máy cạnh tranh thu mua gay gắt. Thêm vào đó, thời tiết nắng nóng kỷ lục đẩy chi phí năng lượng vận hành lò điện tăng cao (điển hình tại Thổ Nhĩ Kỳ), tạo nền chi phí sàn cứng ngăn chặn đà giảm sâu của thép dài.  

Tác động phân mảnh từ chính sách bảo hộ: Diễn biến giá cả hàng ngày tiếp tục phân hóa sâu sắc do các rào cản hạn ngạch nhập khẩu mới tại EU và các cuộc điều tra thương mại tại Mỹ, Ấn Độ. Tại EU, việc một loạt hạn ngạch quốc gia (CSQ) của Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Hàn Quốc bị cạn kiệt nhanh chóng trong những ngày đầu quý 3 đang buộc người mua phải chấp nhận mức chênh lệch giá cao để tìm kiếm nguồn hàng nội địa hoặc chấp nhận rủi ro thuế vượt hạn ngạch. Ngược lại, các quốc gia bị hạn chế xuất khẩu buộc phải giảm giá chào hoặc thu hẹp công suất sản xuất để quay về phòng ngự tại thị trường nội địa.  

---

Lưu ý:  Dự báo được cập nhật vào Thứ 2, Thứ 4, Thứ 6 hàng tuần.