Châu Âu
HRC: Giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại Châu Âu vẫn dao động trong biên độ nhất định vào ngày Thứ sáu, với các mức hỗ trợ mới ở ngưỡng 740–750 Euro/tấn (giá xuất xưởng). Các nhà máy hiện đang hướng tới mức giá cao hơn nhằm phản ánh chi phí đầu vào gia tăng và tình trạng thị trường ngày càng thắt chặt.
Tại khu vực phía Bắc, một nhà sản xuất tích hợp cho biết đã thực hiện các giao dịch ở mức 800 Euro/tấn cho sản lượng quý đầu tiên, tương đương 780 Euro/tấn xuất xưởng. Nguồn tin này cho biết: "Chi phí vận chuyển đã được điều chỉnh để phản ánh giá dầu diesel và các chi phí gia tăng khác". Một nhà sản xuất tích hợp tại Đức gần đây cũng thông báo gặp khó khăn trong việc tăng công suất tại một trong các lò cao vừa trải qua quá trình cải tạo.
Hoạt động tại thị trường Ý diễn ra chậm chạp và giá cả không có biến động. Các nguồn tin vẫn tiếp tục thảo luận về diễn biến pháp lý gần đây, trong đó tòa án giữ nguyên lệnh đóng cửa các phân xưởng sản xuất thượng nguồn (hot-end operations) của công ty Acciaierie d'Italia (ADI). Việc mất gần 2 triệu tấn/năm công suất sản xuất thép thôdo chỉ còn một lò luyện duy nhất tiếp tục hoạt động đang gây lo ngại cho một số thành viên trên thị trường, mặc dù một số đơn vị đã nhập khẩu lượng lớn phôi tấm có thể giúp bù đắp phần thiếu hụt này.
Mỹ
Thép thanh: Giá thép thanh tại Mỹ ổn định tuần qua sau khi các nhà máy thép thực hiện thành công đợt tăng giá đã công bố trước đó trong tháng 10. Một số thành viên tham gia thị trường dự báo giá cả sẽ không còn thay đổi nhiều trong thời gian còn lại của năm nay.
Giá thép thanh xuất xưởng tại khu vực miền Nam nước Mỹ và Midwest vẫn giữ nguyên ở mức 960–980 USD/tấn trong khi giá thép thanh nhập khẩu duy trì ở mức 920–960 USD/tấn DDP Houston.
Theo các thành viên thị trường, đợt tăng giá 30 USD/tấn đối với thép sản xuất trong nước được hỗ trợ bởi chi phí thay thế (replacement costs) tăng cao. Một số nguồn tin cho biết nhu cầu tại khu vực Midwest vẫn ổn định và dự báo nguồn cung thép nhập khẩu sẽ trở nên khan hiếm hơn trong vài tháng tới.
MBQ: Các nhà máy sản xuất thép dài tại Mỹ đã tiếp tục tăng giá thép thanh thương phẩm (MBQ) và thép dầm trong tháng 10, nhờ nhu cầu mạnh mẽ từ lĩnh vực xây dựng phi dân dụng.
Các nhà sản xuất thép gồm Gerdau, Steel Dynamics (SDI) và Nucor đã tăng giá MBQ thêm 30 USD/tấn vào ngày 09/10. Các công ty này không thực hiện thêm bất kỳ thay đổi nào đối với giá niêm yết trong khoảng thời gian còn lại của tháng.
Trong khi đó, giá thép góc MBQ loại 2x2x0,25 inch và 3x3x0,25 inch đều tăng 30 USD/tấn, lần lượt đạt mức 1.356 USD/tấn và 1.365 USD/tấn xuất xưởng. Thép dẹt MBQ loại 4x0,5 inch và tròn loại 1 inch cũng tăng với mức tương tự, lần lượt đạt 1.360 USD/tấn và 1.384 USD/tấn xuất xưởng. Giá niêm yết cho thép hình chữ U loại 8x11,5 inch tăng lên mức 1.540 USD/tấn xuất xưởng.
Thổ Nhĩ Kỳ
HRC: Thị trường thép dẹt tại Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra trầm lắng cuối tháng qua do kỳ nghỉ Quốc Khánh (29/10) khiến tuần làm việc ngắn hơn, cùng với các hoạt động cuối tháng khi các bên bán chủ yếu tập trung hoàn tất các lô hàng.
Các nhà máy vẫn giữ giá niêm yết đối với HRC trên thị trường nội địa ở mức khoảng 620–640 USD/tấn (giá xuất xưởng), nhưng những người tham gia thị trường nhìn chung đều cho rằng tuần mới này có nhiều dư địa hơn để giảm giá. Một thương nhân cho biết đã có những khoản chiết khấu từ 10–15 USD/tấn, đặc biệt là đối với các đơn hàng có khối lượng lớn.
Thị trường xuất khẩu HRC của Thổ Nhĩ Kỳ cũng trầm lắng, không có giao dịch nào được ghi nhận. Mức giá xuất khẩu đã giảm 2,50 USD/tấn, xuống còn 612,50 USD/tấn (giá FOB Thổ Nhĩ Kỳ). Một nguồn tin cho biết các cuộc đàm phán với người mua tại Châu Âu phần lớn đã bị tạm dừng, do hạn ngạch tự vệ (safeguard quota) áp dụng cho hàng hóa từ Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ cạn kiệt ngay khi bước sang ngày 1/1. Nguồn tin này nói thêm rằng các khách hàng Châu Âu hiện chưa sẵn sàng đàm phán cho các lô hàng dự kiến thông quan vào ngày 1/4.
CRC: Mức đánh giá đối với thép cuộn cán nguội (CRC) không thay đổi, duy trì ở mức 740 USD/tấn (giá xuất xưởng) tại thị trường nội địa và 700 USD/tấn (giá FOB) đối với hàng xuất khẩu. Một đơn vị chào bán CRC xuất khẩu với giá 720 USD/tấn (giá FOB), nhưng chưa ghi nhận giao dịch nào ở mức giá này.
HDG: Đối với thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG), đánh giá cũng giữ nguyên ở mức 845 USD/tấn (giá xuất xưởng) tại thị trường nội địa và 800 USD/tấn (giá FOB) đối với hàng xuất khẩu.
Thép thanh: Giá thép thanh tại Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng trong ngày Thứ sáu khi thị trường hoạt động trở lại sau kỳ nghỉ lễ. Các nhà máy thép đã đảo ngược xu hướng của vài tuần trước bằng cách nâng giá chào bán, phản ứng trước đà tăng của giá thép phế liệu. Trong khi đó, các thương nhân trong nước vốn duy trì mức tồn kho ở mức thấp nhất có thể đã bắt đầu thực hiện một số giao dịch mua vào.
Ba nhà máy tại khu vực Marmara đã điều chỉnh giá tăng trở lại mức 612–615 USD/tấn (giá xuất xưởng), sau khi duy trì ở mức 610 USD/tấn vào đầu tuần. Tại Izmir, giá chào bán tăng 2–3 USD/tấn, lên mức 598–600 USD/tấn (giá xuất xưởng); trong khi tại Iskenderun, giá dao động từ 593–605 USD/tấn (giá xuất xưởng), so với mức 591–601 USD/tấn hồi đầu tuần.
Trên thị trường xuất khẩu, một nhà máy lớn tại Izmir đã tăng giá chào bán thêm 10 USD/tấn, lên mức 610 USD/tấn (giá FOB). Tuy nhiên, các bên mua không mấy mặn mà với việc chốt đơn hàng mới ở mức giá cao hơn này. Theo một số thương nhân, trước đó vào đầu tuần, các nhà máy thậm chí sẵn sàng bán với giá dưới 600 USD/tấn (giá FOB).
Mexico
HRC: Việc đồng peso của Mexico tiếp tục mất giá so với đồng đô la Mỹ đã đẩy giá thép cuộn cán nóng (HRC) tại thị trường nội địa tăng thêm trong tuần qua, mặc dù các nhà máy vẫn giữ mức giá chào bán tại xưởng trong khoảng 1.030–1.035 USD/tấn.
Giá HRC xuất xưởng tại Mexico đã tăng 150 peso/tấn, lên mức 19.450–19.500 peso/tấn, so với mức 19.050–19.150 peso/tấn trước đó.
Dự kiến các nhà sản xuất sẽ tiếp tục tăng giá thêm 20–25 USD/tấn vào tuần đầu tháng 11. Theo các thành viên thị trường, giá trong nước vẫn gắn chặt với diễn biến tại thị trường Mỹ. Các nhà máy Mexico thường cố gắng duy trì mức giá thấp hơn khoảng 300 USD/tấn so với giá HRC tại Mỹ, đồng thời bám sát xu hướng giá chung.
Trung Quốc
Quặng sắt: Giá quặng sắt đã giảm vào thứ Sáu, chịu áp lực từ triển vọng nhu cầu yếu đi, lượng tồn kho tại các cảng tăng lên và tâm lý thận trọng của thị trường, bất chấp sự phục hồi nhẹ trong hoạt động giao dịch thực tế.
Giá quặng cám 62% Fe của Úc giảm 0,75 USD/tấn xuống còn 92,5 USD/tấn (giá CFR), trong khi giá quặng sắt kỳ hạn trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 1,5 USD/tấn và trên Sàn giao dịch Singapore (SGX) giảm 0,4 USD/tấn trong ngày.
Sự sụt giảm này chủ yếu xuất phát từ triển vọng nhu cầu ngày càng xấu đi khi hoạt động sản xuất thép tại Trung Quốc tiếp tục chậm lại. Theo Mysteel, tỷ lệ sử dụng công suất lò cao trung bình tại 247 nhà sản xuất thép Trung Quốc đã giảm tuần thứ ba liên tiếp, với mức giảm 0,17 % xuống còn 87,06% trong giai đoạn từ ngày 22 đến 28/10. Sản lượng gang lỏng hàng ngày cũng giảm 0,2% so với tuần trước, xuống còn 2,32 triệu tấn, phản ánh các hạn chế sản xuất do chính phủ áp đặt tại miền Bắc Trung Quốc.
Thép thanh: Tại Thượng Hải, giá thép thanh xuất xưởng ngày 30/10 giảm 20 nhân dân tệ/tấn (tương đương 3,00 USD/tấn), xuống còn 3.060 nhân dân tệ/tấn. Cùng lúc đó, giá thép thanh kỳ hạn tháng 1 giảm 0,98% (tương đương 30 nhân dân tệ/tấn) so với mức giá giao dịch ngày hôm trước, xuống còn 3.030 nhân dân tệ/tấn.
Hoạt động giao dịch trên thị trường thực tế chậm lại so với ngày Thứ năm, mặc dù các bên bán đã hạ giá để kích cầu. Những người tham gia thị trường bày tỏ lo ngại về nhu cầu xây dựng sụt giảm khi mùa đông đang đến gần, trong khi sản lượng thép thanh tại các nhà máy lại tăng hơn 60.000 tấn trong tuần.
Mức giá thép thanh xuất khẩu (FOB) từ Trung Quốc theo đánh giá vẫn giữ nguyên ở mức 474 USD/tấn (tính theo trọng lượng lý thuyết).
Cuộn dây: Một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc đã giảm giá chào xuất khẩu đối với thép cuộn SAE1008 thêm 2 USD/tấn, xuống còn 502 USD/tấn (giá FOB), trong khi giá chào cho thép cuộn Q195 vẫn giữ nguyên ở mức 488 USD/tấn (giá FOB).
Một nhà máy khác ở miền Bắc Trung Quốc vẫn duy trì mức giá chào cao hơn, từ 515–520 USD/tấn (giá FOB) cho thép cuộn SAE1008, bất chấp hoạt động giao dịch đường biển ở mức giá này đang rất trầm lắng. Người mua đang tìm kiếm mức giá dưới 490 USD/tấn (giá FOB), nhưng đây là mức giá mà hầu hết các nhà máy tại Trung Quốc không thể chấp nhận được khi đã tính đến thuế giá trị gia tăng. Một nhà máy tại Indonesia giữ giá chào ổn định ở mức 500 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 1, nhưng trong hai tuần qua, mức giá này nhận được rất ít sự quan tâm từ người mua do thời gian giao hàng kéo dài.
Phôi thép: Giá phôi thép tại Đường Sơn (giá xuất xưởng) đã giảm 10 nhân dân tệ/tấn, xuống còn 2.890 nhân dân tệ/tấn. Hôm Thứ sáu, một nhà máy tại miền Bắc Trung Quốc vẫn giữ nguyên giá chào xuất khẩu ở mức 457 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 12, trong khi một nhà máy tại Indonesia cũng duy trì giá chào ổn định ở mức 470 USD/tấn (giá FOB) cho lô hàng giao tháng 1.
HRC: Một nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc đã bán khoảng 50.000 tấn HRC mác Q235 với giá tương đương khoảng 482 USD/tấn (FOB Trung Quốc) trong tuần qua, dù điểm đến cụ thể của lô hàng vẫn chưa rõ ràng.
Các nguồn tin cho biết thêm, nhiều nhà máy ở miền Bắc Trung Quốc sẵn sàng nhận đơn hàng HRC mác Q235 với mức giá từ 480–482 USD/tấn (FOB Trung Quốc). Một quản lý nhà máy tại Trung Quốc chia sẻ rằng, dù một số khách hàng ở Nam Mỹ đã chấp nhận mức giá 505 USD/tấn (FOB Trung Quốc) đối với HRC mác SS400, nhưng phần lớn người mua trên thị trường quốc tế vẫn tỏ ra ngần ngại với mức giá này.
Giá thép cuộn cán nóng (HRC) xuất xưởng Thượng Hải giảm 10 nhân dân tệ/tấn (1,50 USD/tấn) xuống còn 3.220 nhân dân tệ/tấn vào ngày 30/10.
Trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải, hợp đồng HRC kỳ hạn tháng 1 đã giảm 0,69% (tương đương 22 nhân dân tệ/tấn) so với giá thanh toán của phiên giao dịch trước đó, xuống còn 3.170 nhân dân tệ/tấn vào ngày 30/10.
Phôi tấm: Một nhà máy tại Trung Quốc vẫn duy trì mức giá chào xuất khẩu phôi tấm (loại dùng để cán thép cuộn) ở mức 478 USD/tấn (FOB) trong tuần cho các lô hàng giao tháng 1. Nhu cầu tại khu vực Châu Á vẫn trầm lắng với một số bên mua đưa ra mức giá mục tiêu 480 USD/tấn (CFR Đông Nam Á, tương đương khoảng 465 USD/tấn (FOB Trung Quốc), mức giá này quá thấp để các bên bán chấp nhận. Số lượng yêu cầu từ các bên mua tại EU có tăng lên, nhưng chỉ một vài nhà máy thép lớn có khả năng cung cấp dữ liệu liên quan đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), với mức giá chào cho phôi tấm cao hơn, dao động từ 490–495 USD/tấn (FOB Trung Quốc).
Giá chào đối với phôi tấm (loại dùng để cán thép tấm dày) có xuất xứ từ Trung Quốc dao động trong khoảng 510–520 USD/tấn (FOB) cho các lô hàng giao tháng 12/2026–1/2027, mức giá này cũng không thay đổi so với tuần trước đó. Dư địa cho việc đàm phán giá là rất hạn chế, do nhu cầu thép tấm tăng mạnh tại Trung Quốc đã giữ giá thép tấm (cả tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu) ở mức 530–570 USD/tấn (giá FOB) trong tháng 11. Đồng thời, các nhà máy Trung Quốc cũng thường chỉ dành ra khối lượng hạn chế cho việc xuất khẩu phôi tấm.
CRC: Tính đến ngày 30/10, phần lớn các chào giá xuất khẩu CRC từ Trung Quốc ở mức 550–560 USD/tấn (giá FOB), chủ yếu cho các lô hàng giao trong tháng 12, giảm 10 USD/tấn so với giữa tháng 9. Các bên tham gia thị trường cho biết một số nhà cung cấp đưa ra mức giá thấp hơn nhiều, khoảng 530–535 USD/tấn (giá FOB).
Các nhà cung cấp CRC của Trung Quốc tiếp tục đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ tình trạng dư thừa công suất sản xuất và cơ hội bán hàng hạn chế. Sự cạnh tranh giữa các nhà máy trở nên gay gắt hơn khi các nhà sản xuất cố gắng duy trì sản lượng bán ra bất chấp điều kiện thị trường không thuận lợi.
Việt Nam
HRC: Tại khu vực ASEAN, giá HRC giữ nguyên ở mức 529 USD/tấn (giá CFR Việt Nam).
Các khách hàng tại Việt Nam hiện đang chờ đợi thông báo về giá bán hàng tháng mới từ nhà sản xuất trong nước. Hiện Hòa Phát giữ nguyên giá với giá Khu vực miền Bắc là 14.410đ/kg, Khu vực miền Trung là 14.410đ/kg và Khu vực miền Nam là 14.440đ/kg chưa gồm VAT.
Người mua Việt Nam không vội đặt hàng nhập khẩu mà đưa ra mức giá chào mua là 525 USD/tấn (CFR Việt Nam) đối với HRC mác SAE1006. Mức này thấp hơn đáng kể so với mức giá chào bán từ các nhà cung cấp tại Nhật Bản và Ấn Độ (khoảng 565–570 USD/tấn, giá CFR Việt Nam) cho cùng loại HRC mác SAE1006.
Ấn Độ
HRC: Tại Mumbai, giá thép cuộn cán nóng (HRC) nội địa Ấn Độ đã giảm trong tuần qua do nhu cầu suy yếu trước thềm kỳ nghỉ lễ Diwali, buộc các bên bán phải hạ giá chào để thúc đẩy giao dịch.
Theo đánh giá hàng tuần, giá HRC nội địa Ấn Độ (đối với loại có độ dày từ 2,5–4,00 mm) vào thứ Sáu đạt 62.750 rupee/tấn (tương đương 661 USD/tấn) tại Mumbai (chưa bao gồm thuế hàng hóa và dịch vụ GST), giảm 500 rupee/tấn so với tuần trước đó.
Các chào giá HRC từ Ấn Độ sang EU vẫn duy trì ở mức 735–740 USD/tấn (cfr EU), tương đương khoảng 650–660 USD/tấn (theo điều kiện fob). Tuy nhiên, không có giao dịch hay giá chào mua nào được ghi nhận trong tuần. Do hạn ngạch xuất khẩu của Ấn Độ cho giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 dự kiến sẽ sớm cạn kiệt, người mua hiện đang chờ đợi thông tin rõ ràng hơn về hạn ngạch cho giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6.
CRC: Tại thị trường nội địa Ấn Độ, giá thép cuộn cán nguội (CRC) giảm 550 Rupee/tấn so với tuần trước, xuống còn 72.250 Rupee/tấn trong khi giá thép cuộn mạ kẽm (loại 0,8mm, 80gsm) giảm 750 upee/tấn, xuống còn 79.500 Rupee/tấn. Các mức giá này là giá xuất xưởng Mumbai và chưa bao gồm thuế hàng hóa và dịch vụ (GST).
Nguồn cung CRC vẫn ở mức khan hiếm, tuy nhiên nhu cầu từ ngành sản xuất ô tô được ghi nhận đã chững lại. Các nhà sản xuất ô tô đang dần kết thúc giai đoạn sản xuất phục vụ mùa lễ hội và hạn chế đặt mua thêm nguyên liệu, trong bối cảnh doanh số bán xe dự kiến sẽ chậm lại vào tháng 12.
Than cốc: Giá than cốc luyện kim tại thị trường nội địa Ấn Độ đã giảm trong tuần kết thúc vào ngày 30/10. Nguyên nhân là do giá gang thỏi yếu làm giảm sự quan tâm từ phía người mua. Các khách hàng từ chối chấp nhận mức giá cao hơn trong bối cảnh giá than luyện kim đang trên đà đi xuống.
Trong tuần kết thúc vào ngày 30/10, giá than cốc dùng cho lò cao (loại 65/63 CSR, kích thước 25-80 mm) tại khu vực phía Đông Ấn Độ được ghi nhận ở mức 40.000–41.000 rupee/tấn (giá xuất xưởng, chưa bao gồm 5% thuế hàng hóa và dịch vụ - GST). Mức giá này thấp hơn so với khoảng 41.500–42.000 rupee/tấn ghi nhận trong tuần kết thúc vào ngày 16/10.
Đối với loại than cốc có chỉ số 64 CSR (kích thước 25-80 mm), giá tại khu vực phía Tây Ấn Độ trong tuần kết thúc vào ngày 30/10 được ghi nhận ở mức khoảng 37.500 rupee/tấn (giá xuất xưởng, chưa bao gồm 5% thuế GST), không thay đổi so với tuần kết thúc vào ngày 16 tháng 10.
Vào ngày 30/10, định giá than cốc luyện kim (met coke) loại 65/63 CSR theo điều kiện FOB Indonesia ở mức 339 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước. Đối với thị trường Ấn Độ, định giá than cốc luyện kim loại 65/63 CSR theo điều kiện CFR Ấn Độ ở mức 358 USD/tấn, cũng không thay đổi so với ngày hôm trước.

